Tại E bộ, tất cả những người lính từ Việt Nam mới sang đơn vị được tập trung lại để tham gia một khóa đào tạo cấp tốc cho binh sĩ trên chiến trường. Cán bộ E hướng dẫn cách sử dụng vũ khí hỏa lực mạnh như trung liên RPD, B41, B40 và M72 của Mỹ cũng như phương pháp tháo lắp các loại mìn bộ binh và chiến thuật thực tiễn khi chiến đấu. Cũng không khó để tiếp thu. Ngay sau các buổi học kết hợp thực hành, tôi đã thuần thục đặc điểm và cách sử dụng của từng loại vũ khí. Chính trị viên cũng tổ chức một buổi học chính trị ngắn gọn súc tích về tình hình ta — địch. Đến lúc này, tôi mới hiểu rõ nguyên nhân vì sao Việt Nam lại phải đưa quân đội sang Cam-pu-chia.
Vị cán bộ giảng:
“Ngày 17-04-1975, thành phố Phnom Penh được giải phóng khỏi chế độ Lon Nol nhưng lẽ ra nhân dân Cam-pu-chia phải được hưởng trọn vẹn nền hòa bình để xây dựng lại đất nước sau nhiều năm chiến tranh, song điều mong muốn ấy lại không xảy ra, ngược lại, một thảm họa diệt chủng bắt đầu hình thành, dẫn tới việc tàn sát dã man nhân dân Cam-pu-chia. Bè lũ Pol Pot, dẫn đầu là Saloth Sar đã biến chế độ Cam-pu-chia dân chủ thành một quái thai của lịch sử.”
“Kể từ tháng 05-1975 đến nay, quân Pol Pot đã giết hại gần 5.000 dân thường Việt Nam, làm bị thương gần 5.000 người, bắt và đưa đi thủ tiêu hơn 20.000 người. Hàng nghìn trường học, bệnh viện, cơ sở y tế, nhà thờ, chùa chiền bị đốt phá, hàng nghìn trâu bò bị cướp, giết, hàng nghìn héc-ta lúa, hoa màu bị phá hoại. Hàng vạn héc-ta ruộng đất và đồn điền cao su ở vùng ven biên giới Tây Nam bị bỏ hoang. Nửa triệu dân sát biên giới phải bỏ nhà, bỏ đất, bỏ ruộng chạy dạt về phía Đông.”
“Đảng và nhà nước ta xác định chúng ta cần phải xóa bỏ chế độ diệt chủng Pol Pot, nguyên nhân, nguồn gốc gây ra cuộc chiên tranh xâm lược man rợ ở biên giói Tây Nam Việt Nam. Chừng nào còn chê độ Pol Pot thì dân tộc Cam-pu-chia còn chìm đắm trong thảm họa diệt chủng và Việt Nam không bao giờ có hòa bình và ổn định để xây dựng đất nước.”
“Chúng ta đang tham gia một cuộc chiên tranh - một cuộc chiên bắt buộc của những người có lương tâm và của một đất nước có chủ quyển.”
Đó là những tư tưởng và lý luận sắc bén về cuộc chiến tranh Biên giới Tây Nam bảo vệ Tổ quốc và đánh đuổi Pol Pot.
Ban ngày, chúng tôi tham gia học tập. Tối đến không có việc gì làm nên khá rảnh rỗi. Từ khi phát hiện ra tôi mang theo cây đàn ghi ta, Hiểu liền làm thân với tôi và chiều tối nào cũng mượn đàn ngồi gảy bập bùng. Những người lính trẻ khác nghe tiếng đàn kéo tới, chia nhau những câu chuyện lượm lặt được từ ngày nhập ngũ bên ấm trà mạn pha thật loãng và những điếu thuốc lá mang từ Việt Nam sang. Ghi ta của tôi là loại đàn cổ điển không thích hợp với việc đệm nhạc cho ca khúc, nhưng lúc này chẳng ai buồn để ý. Hiểu ngồi ở góc nhà sàn ôm đàn nhìn mưa bay lất phất bên ngoài vừa gảy vừa hát.
“Chiều mưa biên giới anh đi về đâu?
Sao còn đứng ngóng nơi giang đầu
Kìa rừng chiều âm u rét mướt
Chờ người về vui trong giá buốt
Người về bơ vơ
Người đi khu chiến thương người hậu phương Thương màu áo gởi ra sa trường
Lòng trần còn tơ vương khanh tướng Thì đường trần mưa bay gió cuốn Còn nhiều anh ơi”
Bài hát đến là não nùng. Đám lính trẻ nhao nhao phản đối:
“Thôi đừng có hát mấy bài buồn này chuyển qua bài nào hào hùng chút đi!”
“Hát hò thê: này thì ôm nhau khóc hết cả lũ bây giờ!”
“Vâng, vâng! Vậy tôi đây xin hát theo yêu cầu của quý vị!
Hiểu đặt tay lên ngực và cúi chào như thể anh là ca sĩ đang đứng trên sân khấu hát cho hàng ngàn khán giả hâm mộ lắng nghe mình.
“Mặt hồ Gươm vẫn lung linh mây trời,
Càng tỏa ngát hương thơm hoa Thủ Đô.
Đường lộng gió thênh thang năm cửa ô.
Nghe tiếng cười không quên niềm thương đau.
Hà Nội đó, niềm tin yêu hy vọng Của núi sông hôm nay và mai sau. Chân ta bước lòng ung dung tự hào, Kìa nòng pháo vẫn vươn lên trời cao.”
Hát xong bài hát, Hiểu cười nụ cười lãng tử nói:
“Khi nào giải ngũ, tôi lại về với Hà Nội của tôi. Tôi sẽ lại đứng trên bục cao ôm ghi ta và hát như chưa bao giờ được hát giữa ánh đèn sân khấu. Tôi sẽ ru hồn mọi người bằng những bài tình ca lãng mạn nhất thế gian và hát đến khi chỉ còn đám hơi tàn.”
Đây đúng là một người có tâm hồn nghệ sĩ. Nếu như anh sống vào thời đại của tôi, anh chắc chắn sẽ trở thành một ngôi sao, một ca sĩ nổi tiếng.
Kết thúc khóa học ngắn ngủi, đoàn lính mới được chia về 3 tiểu đoàn bộ binh và tiếp tục phân nhỏ về các đại đội. Chúng tôi chia tay nhau trong vội vàng ở một cái ngã ba được gọi là ngã ba Chúp. Vĩnh và tôi đi hai hướng khác nhau. Tôi đi thẳng, còn Vĩnh rẽ sang con đường nhánh. Trong màn mưa mịt mùng giăng kín đất trời, chúng tôi im lặng vẫy tay thay cho lời chào. Dưới chiếc mũ vải bạc phếch và lớp áo mưa ướt nhẹp, nụ cười khoe hàm răng trắng tinh của Vĩnh trông rạng rỡ đến kỳ lạ. Chính cậu là người đã nói với tôi: “Đã là nghĩa vụ thì chẳng thà tình nguyện.” Cậu đã nhắc tôi nhớ rằng, chính bản thân tôi là người đưa ra quyết định cho số phận của mình. Tôi đã chọn lên tàu và do đó tôi phải có trách nhiệm đối với lựa chọn đó. Kể từ bây giờ, tôi nhận thức được rằng tôi đã chính thức hòa mình vào dòng chảy cuồn cuộn của cuộc chiến đầy cam go và gian khổ này trên đất K.
“Ngày 27-09-1978 tại địa điểm hầm C bộ.
Hôm nay cán bộ đại đội dẫn toán lính mới được phân từ tiểu đoàn vê. Tổng cộng có 10 lính cả thảy. Lúc đến thấy bọn họ đang ngồi ăn cơm trong hầm cạnh bếp anh nuôi. Kiểu hầm hàm ếch đào sâu trong gò đất, phía trên lợp tranh thốt nốt. Hơi chật. Nhưng có đủ bộ bàn ghế ghép từ những tấm ván cũ. Trên bàn ăn bày một chậu cơm, đĩa cá nục xắt khúc kho khô và bát canh bí xanh nấu tép. Họ có vẻ đói, vì anh nào anh nấy ăn rất nhanh.
Lúc đó tầm 6 giờ tối, không rõ mặt lính lắm. Chỉ thoáng thấy những gương mặt non choẹt, lấm lem bụi và trông hơi phờ phạc. Họ đã phải đi một quãng đường khá dài không nghỉ từ E bộ về đây. Mình cũng không vào, chỉ đứng ngoài cửa hầm một tí. Quản lý đại đội Quang và chính trị viên Tâm đứng ngay sau lưng mình, thì thà thì thụt.
Quang nói:
“Này, có ứng cử viên cho vị trí liên lạc hiện đang thiếu của ông rồi đấy 'Thành ạ.”
Tâm nói:
“Hãy nhìn cái cậu đẹp trai kia kìa! Cái thằng da trắng bóc như da con gái, môi đỏ răng đều như hạt bắp kia ấy!”
Hai ông này hôm nay làm sao lại đồng nhất quan điểm một cách dễ dàng vậy?
Thấy mình không, Quangnói:
“Ông cứ nghe chúng tôi đi. Trông cậu ta nhanh nhẹn sáng sủa, lại có vẻ tháo vát. Những tay như vậy vốn được việc, sau này sẽ bảo vệ được cho ông những lúc cần thiết.”
Đúng lúc đó thì cậu lính kia ngẩng mặt lên nhìn ra ngoài cửa hầm. Bắt gặp thấy có ba người đứng ngoài chỉ trỏ, cậu ta hơi cười cười. Bốn mắt nhìn nhau. Anh mắt đối diện tuy còn non nốt nhưng rất có thần. Cũng không có vẻ bối rối. Trong hầm thắp đèn nên mắt cậu ta như phản chiếu hai đốm lửa đang rực rỡ cháy. Không hiểu sao mình có cảm giác cậu ta rất khác so với đám người ngồi cạnh. Nhưng không chắc cái rất khác ấy là cái gì.
Mình khoát tay bảo:
“Cũng chẳng đi đâu mà vội. Để cậu ta lên chốt thử thách một thời gian xem thế nào đã rồi hẵng lấy về C bộ vẫn chưa muộn”
Đợi lính cơm nưóc xong, Quang, Tâm, mình cùng các B trưởng vào luôn công việc. Mình giói thiệu sơ qua nhân sự, tình hình nhiệm vụ của đơn vị và tiến hành chia ngay lính mới về các trung đội theo đội hình chốt. Vũ Văn Hòa được phân về trung đội 3, dưói quyền chỉ đạo của B trưởng Xê. Ồng này người miền núi, tiếng Kinh hơi khó nghe nhưng tinh thần chiến đấu rất quả cảm và là cán bộ B nổi tiếng gương mẫu. Sự sắp xếp này cũng ngầm có ý tứ cả. Hòa theo Xê chắc chắn sẽ học được nhiều.
Điều mình tự hào là ở đại đội mình phụ trách, các cán bộ cấp dưói đều là những đồng chí sống hết sức có trách nhiệm, máu lửa khi chiến đấu và đặc biệt là tận tình với lính. Những thằng lính trẻ mới ra mặt trận khác nào những thằng em ngây thơ khờ dại cần đàn anh dìu dắt. Mình thương cái lứa tuổi mới mười tám đôi mươi đã phải ra chiến trường. Những gương mặt non nót kia sẽ phải gánh trên vai những nhiệm vụ lớn lao vượt quá sức tưởng tượng của chúng. Kể từ ngày mai, và những ngày - tháng - năm phía trưóc sẽ là khoảng thời gian khó khăn chỉ có máu, mồ hôi và nưóc mắt dành cho đời
lính chiến. Trên tuyến lửa hừng hực này, giữa chiên trận ác liệt này, tuổi thanh xuân sẽ sớm như cát trôi qua kẽ tay. Khi đối mặt với những cuộc chiến sinh tử, con người ta sẽ trưởng thành rất nhanh”
- Trích từ cuốn sổ ghi chép của Cựu chiến binh Nguyễn Bá Thành - Đại đội trưởng.