Hạt Hòa Bình

Lượt đọc: 6 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 7

❊ ❊ ❊

Tôi cùng với Hiểu được phân về trung đội số 3. Quân đội Việt Nam cũng có tổ chức phân cấp từ trên xuố?ng dưới từa tựa như ở trường học. Ví như toàn trường là một sư đoàn ký hiệu là F, thì tiếp đến các khốh lớp tương đương cấp trung đoàn ký hiệu là E. Mỗi khốh lại chia ra các lớp học cũng như dưới các trung đoàn E được chia ra các tiểu đoàn (D). Trong lớp học lại được chia thành tổ, mỗi tổ gồm nhiều nhóm học sinh.

Tương tự, dưới tiểu đoàn là các đại đội (C), rồi đến trung đội (B) và cấp nhỏ nhất là tiểu đội (A).

Tôi vốn tưởng trung đội 3 mà mình sắp gia nhập sẽ là một nhóm quân đông đúc khoảng một trăm, hay ít nhất thì cũng phải cỡ năm ba chục người. Nhưng thật bất ngờ vì khi vào lán chung của B, chỉ thấy vẻn vẹn có đúng... năm người! Chúng tôi chui vào trong cái lán tù mù đào sâu xuống thấp hơn mặt đất chừng ba mươi centimet, bên trên lợp lá thốt nốt. Không khí nơi đây ẩm ướt và thoảng nồng vị tanh của đất.

Mới cất tiếng chào hỏi, còn chưa kịp ngồi xuống thì một người văn thư cùng một người lính liên lạc của C đến nói là mang súng cho lính mới. Nhưng chẳng thấy súng ống đâu, chỉ thấy hai bịch ni lông khá nặng được thảy xuống nền đất. Anh Xê bảo:

“Tối rồi không thể đốt lửa đun nước sôi lau súng cho hai chú em. Để sáng mai vậy.”

Lau súng bằng nước sôi? Tôi thấy hơi tò mò nhưng vẫn im lặng không hỏi. Đột nhiên, một anh trông đứng tuổi ngồi lẫn trong lán hỏi hai đứa:

“Bắn ra răng?”

Tôi nhìn Hiểu. Hiểu cũng nhìn tôi, bối rối. Tôi gãi đầu:

“Anh hỏi gì ạ?”

“Bắn súng nì, hai cậu bắn ra răng?”

Anh Xê B trưởng nói đã khó nghe rồi, nhưng so vói chất giọng sệt sệt của anh này thì vẫn có thể coi là đủ tiêu chuẩn nghe hiểu. Một anh được giói thiệu tên là Thản cười rũ, cụm râu chưa kịp cạo rung rung theo khối xương hàm:

“Cái nhà lão Đấu này hỏi thế thì họ chịu chết, không biết đường nào mà trả lời. Bắn ra răng thì lính lấy gì mà nhai cơm. Ha ha.”

Mọi người đều bật cười. Anh Đấu cũng chẳng lấy thế làm tự ái, càng nói tợn:

“Tui nói nghe nì, hồi huấn luyện tui bắn có tiếng là bách phát bách trúng, rứa mà sang bên ni được phát cho khẩu súng mói, nỏ hiểu mần răng mà bắn cứ trật lất. Cái phum ở chốt cũ có nhiều chim cu gáy, anh em nhắm “bòm” một phát rứa là có món cải thiện còn tui thì bữa mô cũng xách súng về tay không. Ông B phó nói súng không hạp người, kêu tui đổi súng vói một anh trong đơn vị kẻo sau gặp Pốt mà bắn xịt thì ngoẻo. Rứa mà thiêng, đổi súng lại thành thiện xạ ngay.”

Thản kêu lên:

“Có một chuyện cứ kể mãi.”

Một anh đầu cạo trọc lốc góp chuyện:

“Súng đạn có hồn, tôi nghe thấy bảo bọn Pốt nó thờ cúng cả thần súng để hộ thân đấy.”

“Không phải hộ thân đâu, chúng xin bùa rồi treo mấy cái dây bùa xanh đỏ ấy dọc theo nòng súng để bắn chết được nhiều lính mình. Nhưng ngặt nỗi lính mình toàn người đã từng ăn thịt chó nên thần bùa nó sợ bắn trật lất. Hè hè hè...”

Buổi tối đầu tiên ở đơn vị, chúng tôi được ưu tiên không phải gác đêm. Hóa ra, quân số' của cả B là bảy người: trừ năm người ở trong lán như tôi đã thấy còn có hai người được cắt cử đứng gác ở phía trên. Suốt đêm, họ lần lượt đổi ca gác cho nhau mấy lần mà tôi không hề hay biết. Hai chúng tôi đã ngủ say như chết trong cái không khí ẩm ướt xói mục và nồng mùi hôi của màn chiếu.

Sáng hôm sau ngủ dậy, ăn sáng xong, anh Thản nhanh nhẹn bắc bếp, đặt lên đó một thùng đạn cũ đựng đầy nước để đun sôi dùng “lau” súng. Tôi với Hiểu tò mò sán lại. Nói xong mấy câu chuyện, thùng nước đã sôi ùng ục. Thản mở bao ni lông, lộ ra một khẩu AK được bọc trong vài ký lô mỡ đặc quánh. Anh dùng giẻ lau cho bớt mỡ ra rồi lấy nước sôi giội súng từ trên xuốhg dưới. Lớp mỡ bảo quản còn sót lại theo nước sôi tan hết. Từng bộ phận súng được tháo rời, giội nước sôi sạch sẽ rồi dùng giẻ khô lau lại một lượt. Chẳng mấy chốc, hai cây súng mới tinh lóe ánh thép đen với cái báng súng màu vàng tươi hiện ra trước mặt. Hiểu ngắm nghía khẩu súng sạch sẽ tinh tươm với vẻ hớn hở, còn tôi nhìn thứ vũ khí nặng trĩu trong tay ấy bằng ánh mắt lạ lẫm. Từ giờ, nó là khẩu súng của mình, tôi nhủ thầm. Dù đã từng được bắn đạn thật nhưng ý nghĩ mình chính thức sở hữu một khẩu súng lúc nào cũng kè kè bên người khiến tôi nhất thời cảm thấy có phần xa lạ. Thản dập bếp lửa đi, dặn dò:

“Hai cậu chớ nghịch súng đấy nhé. Sau này lau súng cũng phải cẩn thận, nhiều trường hợp lính đã tự bắn mình bị thương, thậm chí có người đã chết oan vì bất cẩn đấy!”

***

ơ trên chốt chưa đến vài ngày, chúng tôi nhận được lệnh thay chốt cho một đại đội khác. Theo như giải thích của anh Xê, thay chốt tức là chúng tôi sẽ ra “tuyến đầu”, nơi gần với địch hơn, nhiều nguy hiểm hơn. Chúng tôi sẽ bám tuyến chốt đó một thời gian cho đến khi có đơn vị khác được chỉ định lên thay thì mới được về tuyến sau.

Trước khi hành quân về trận địa chốt mới, toàn đại đội tập trung cả ở C bộ nghe phân công của cấp trên. Cán bộ của C tôi đã được giới thiệu qua về đơn vị, nhưng thời gian khi ấy là buổi đêm, vả lại gấp gáp đến độ chẳng kịp nhớ mặt ai. Hôm nay cũng vậy, chỉ kịp tập trung để nhận lệnh theo phân công của cấp trên rồi sau đó tất cả cứ theo sắp xếp mà tiếp tục hành quân lên trận địa chốt mới.

Vùng biên giới mùa này đang đúng vào mùa mưa. Mưa bay bay rả rích như bao ngày qua, vần vũ một điệu sầu thảm triền miên khiến cho đêm tối nặng nề chẳng khác gì một tấm màn nhung đẫm nước. Mắt tôi bị bóng tối mịt mùng vây kín không nhìn rõ xung quanh, chỉ đành lẳng lặng tập trung hết sức cắm cúi đi theo anh Xê. Đi bộ một lúc, anh Xê nói nhỏ:

“Đây rồi. Trận địa chốt của ta cắm dọc theo con mương này, nằm vuông góc với chính con đường nhựa chạy thẳng về ngã ba Chúp chúng ta vừa đi qua.”

Tôi hỏi:

“Chỗ của anh em mình ở bên này mương à?”

“Suỵt! Chú mày nói to thế. Có nhìn thấy cái gò hơi nổi trên mặt nước kia không? Bên trên ấy là hầm tiền tiêu đó. Từ chỗ ấy đến chốt địch cùng lắm chỉ khoảng hai trăm mét thôi. Bên này nói to, chừng như bên kia cũng nghe thấy tiếng đấy.”

Tôi nín thinh, không dám hỏi han gì nữa. Trên bờ mương, gặp phải toán lính cũ vừa rút khỏi chốt, chúng tôi lặng lẽ nhường đường cho nhau. Màn đêm vẫn mịt mùng nặng trĩu. Đột nhiên, có một loạt mũi tên sắc lạnh xé gió lao đến, hàng loạt những âm thanh chiu chíu sắc nhọn bất thần ập tới đánh toác màn đêm, kết thúc bằng những tiếng “phập, phập” rất ngọt nhưng cũng rất rợn. Trong một khoảnh khắc, tôi có thể ngửi thấy rất rõ mùi vị của sự chết chóc. Anh Xê hô lên:

“Nhảy hết xuống mương!”

Tôi vội vàng nhảy xuống con mương đầy ắp nước, lạnh như đồng ngâm. ơ dưới này mới nhận ra những loạt đạn bắn rát từ phía địch sang, bay qua đầu chúng tôi cắm sâu lút vào đất.

Khi ướt lướt thướt trườn về được đến hầm, địch từ phía đối diện vẫn bắn sang loạn xạ. Anh Xê chửi đổng vài câu, rồi quay sang nhìn tôi:

“Chắc chúng đánh hơi được điều khả nghi nên bắn sang bên này. Chú em cũng khá đó. Đạn vãi như thê: cũng không lấy làm hãi.”

Anh khen thê: cũng hơi quá. Quả thật là tất cả xảy ra quá nhanh, tôi chẳng có đủ thời gian để tỏ ra sợ hãi, đến bây giờ mới cảm thấy hai bàn chân lạnh toát, gượng gạo thả súng và bao xe trước ngực xuống rồi ngồi lên tấm gỗ lót sàn cho bớt run. Anh Xê và anh Đấu dường như đã quen với những tình huố?ng này, ngoài thái độ bực tức vì phải nhảy xuố?ng mương ra, họ chẳng mảy may thể hiện lấy một tia lo sợ.

Vị trí hầm mà tôi, anh Xê và anh Đấu vào thay nằm ở bên này bờ mương thẳng cánh trái của C bộ lên. Ôi cái hầm ấy! Tôi đồ rằng chẳng ai ở vào thời của tôi có thể nào hình dung những người lính tình nguyện năm xưa lại phải giữ chốt và chiến đấu trong một điều kiện nghèo nàn và tạm bợ như vậy. Hầm nằm trong một ngôi nhà kiểu công xã loại bét của chế độ Pol Pot, lấy đất đắp quanh thành một cái hầm ngủ tránh đạn, bên trong được chặn bởi những tấm gỗ mỏng quây lại giống cái chuồng lợn ở quê. Phía trái cửa ra vào là cái hầm tránh pháo chữ A nước ngập quá nửa. Tất cả đều tô điểm đậm nét cho một khung cảnh vừa ẩm thấp hôi hám, vừa tạm bợ sơ sài. Khi có biến động, tất cả sẽ di chuyển trên một cái cầu gỗ ra hố chiến đấu. Hố chiến đấu là ba cái chum bằng xi măng cũ đặt chìm xuống nước và đắp đất xung quanh để giữ cho chúng không bị nổi lên. Phía trước mặt là khoảng nước ngập mênh mông chỉ thấy hiu hắt vài cây lúa thân gầy guộc rung rinh trong gió.

Khi đã yên ổn ở trong hầm, anh Xê hỏi tôi và anh Đấu:

“ơ trên chốt thì bất cứ điều gì cũng có thể xảy ra. Anh em ta đang ở trong hoàn cảnh có thể bỏ mạng bất cứ lúc nào. Nếu như địch có mò vào, các chú sẽ làm thế nào?”

“Quyết chiến đấu tới cùng chứ không được bỏ chạy!” Anh Đấu trả lời rồi vỗ vào vai tôi. Tôi lặp lại:

“Quyết chiến đấu tới cùng chứ không bỏ chạy.”

Anh Xê gật đầu:

“Nếu ai bỏ chạy thì chính khẩu súng này của tôi sẽ hạ người đó trước khi bị địch hạ.”

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 27 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Minh Moon

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.