Sau Lưng Gió Bấc

Định dạng khác: 📖 Chữ 📄 PDF
Lượt đọc: 37 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
28. CÔNG CHÚA NẮNG NHỎ

❊ ❊ ❊

Không tòa nhà nào mong được gọi là cung điện mảy may xứng đáng với tên gọi này, trừ phi nó có một cánh rừng ở gần - rất gần - càng gần càng tốt. Không phải một cánh rừng bao quanh đâu nhé - ý tôi không phải như thế, vì một cung điện phải mở ra với gió và mặt trời, thể hiện được sự cao ngạo và khí phách, với chong chóng gà trống lấp lánh và cờ xí tung bay; nhưng ở một mặt cung điện phải có một cánh rừng. Và quả có một cánh rừng vô cùng vĩ đại bên cạnh cung điện của một ông vua, người sắp sửa làm cha của bé Nắng. Cánh rừng ấy vĩ đại đến nỗi chưa có ai từng tới đầu rừng bên kia. Ở gần cung điện, rừng được tỉa xén gọn gàng và đẹp đẽ, và nếu đi vào rừng thì suốt một quãng dài không có bóng dáng bụi cây nào. Nhưng dần dần nó trở thành rừng hoang, và ngày càng hoang dại tới mức người ta kể rằng cuối cùng bọn thú dữ muốn làm gì trong đó thì làm. Tuy nhiên, nhà vua và các tùy tùng của mình thường săn thú, và việc này khiến bọn thú hoang phải tránh xa cung điện.

Một sáng mùa hè rực rỡ, khi cả gió và mặt trời đều rủ nhau ra ngoài, khi những chong chóng lấp lánh và những lá cờ nô giỡn với nền trời xanh, công chúa Nắng nhỏ xuất hiện từ một chốn nào đấy - không ai biết là chốn nao - một bé gái xinh đẹp, với đôi mắt sáng ngời đến nỗi bé dường như đến từ xứ sở mặt trời, nhưng dần dần bé bộc lộ những kiểu cách thật sinh động đến nỗi bé dường như cũng có thể sinh ra từ gió. Cả cung điện tràn ngập niềm hân hoan tưng bừng, vì đây là bé đầu lòng của hoàng hậu, và niềm hạnh phúc trước một em bé mới chào đời ở chốn cung điện cũng sánh ngang với chốn lều tranh vậy.

Nhưng sống gần một cánh rừng có một bất lợi: ta không tài nào biết được hàng xóm láng giềng của ta là ai. Mọi người đều biết rằng ở đó có vài bà tiên, sống đâu đó cách cung điện vài dặm, và họ luôn có việc gì đó phải làm với những em bé mới chào đời. Vì các bà tiên sống lâu hơn chúng ta nhiều, nên họ có thể trải qua nhiều thế hệ con người. Những ngôi nhà kỳ lạ nơi họ sống cũng rất nổi tiếng, cái này thì là một cây sồi rỗng, cái kia là một cây bu lô, dù không ai từng biết là các bà tiên làm nhà từ cây đó như thế nào; một cái khác là một túp lều bằng những cái cây đang lớn đan xoắn vào nhau, đắp bằng cỏ và rêu. Nhưng có một bà tiên nữa gần đây mới xuất hiện ở cánh rừng, và thậm chí không ai ngoài các bà tiên biết mụ ta là tiên. Mụ ta quả là một mụ già độc ác, luôn giấu kín quyền năng của mình, và cau có hết mức, để dụ mọi người mắc tội với mụ, để mụ có được niềm vui sướng được báo thù họ. Mọi người xung quanh đều nghĩ mụ ta là phù thủy, và những người đã từng thấy mụ luôn cẩn thận tránh xúc phạm đến mụ. Mụ ta sống trong túp lều trát bùn ở vùng đầm lầy của rừng.

Trong suốt lịch sử, chúng ta thấy các bà tiên đều trao những món quà phi thường của họ cho các công chúa hoàng tử, hay bất kỳ đứa trẻ nào đủ quan trọng trong mắt họ, và luôn luôn vào lễ rửa tội. Giờ thì chúng ta có thể hiểu chuyện này, vì đó là phong tục cổ xưa mà loài người cũng có; và không khó để giải thích tại sao các bà tiên độc ác lại chọn đúng thời điểm ấy để gây chuyện xấu xa. Nhưng thật khó hiểu bằng cách nào họ có thể gây những chuyện như vậy, vì bạn sẽ hình dung rằng trong một dịp như thế tất cả những sinh vật độc ác đều bất lực. Nhưng tôi chưa từng biết đến hành động can thiệp của bà tiên độc ác nào mà cuối cùng lại không được hóa giải tốt đẹp. Quả là hay, ví dụ như, chuyện một nàng công chúa ngủ tới một trăm năm! Chẳng phải nhờ thế nàng đã được cứu khỏi một lũ thanh niên không xứng đáng với nàng? Và chẳng phải nàng đã thức dậy chính xác vào đúng thời điểm chàng hoàng tử thích hợp hôn nàng? Về phần mình, tôi không thể ngưng chúc nhiều cô gái ngoan cứ ngủ tới lúc số phận tương tự diễn ra với họ. Mọi chuyện sẽ vui vẻ hơn với họ, và dễ chịu hơn với bạn bè của họ.

Tất nhiên tất cả các bà tiên đều được mời tới lễ rửa tội của công chúa. Nhưng nhà vua và hoàng hậu không bao giờ nghĩ đến chuyện mời mụ phù thủy. Bởi vì quyền năng của các bà tiên đều do tự nhiên mà có; trong khi quyền năng của một mụ phù thủy là do sự độc ác sinh ra. Tuy nhiên, các bà tiên, vì biết được hiểm họa nên lao tới, yểm trợ hết sức có thể để chống lại những tai họa từ phía mụ ta. Nhưng họ không thể tước hết quyền năng của mụ, hay sắp đặt trước để trao quà tặng của họ theo quà tặng của mụ, vì họ không thể biết trước chúng có thể là gì.

Tất nhiên mụ già gớm guốc đó tới dự mà không được mời. Không được mời chính là điều mụ ta muốn, để mụ ta có lý do để làm những việc mụ muốn làm. Vì chẳng hiểu sao ngay cả những sinh vật độc ác nhất vẫn thích có cớ để làm việc xấu.

Năm bà tiên lần lượt trao cho đứa trẻ món quà mà mỗi người cho là tuyệt vời nhất, và bà tiên thứ năm vừa mới lùi lại chỗ của mình trong một đám lộng lẫy các phu nhân và quý ông, thì lầm bầm trong miệng một tiếng cười khào khào giữa hai hàng lợi không răng, bà tiên độc ác tập tễnh bước ra, ở giữa vòng người, và đúng lúc ông tổng giám mục đang trao em bé cho bà nhũ mẫu tổng quản, mụ ta nói với ông tổng giám mục, lập bập cắn vào mỗi từ trước khi nhả chúng ra:

“Thưa tổng giám mục, tôi điếc đặc nên phiền ông nhắc lại tên công chúa được không ạ?”

“Được thôi, bà bạn,” ông tổng giám mục nói, cúi người xuống để hét vào tai mụ ta. “Em bé tên là Nắng nhỏ.”

“Và sẽ rất ít nắng,” bà tiên gào lên bằng tiếng kêu rợn người của một cái trục xe khô dầu, “và sẽ không có bất kỳ món quà nào giúp ích gì cho nó. Vì ta ban tặng cho nó món quà là ngủ suốt cả ngày, dù muốn hay không. Ha, ha! He, he! Hi, hi!”

Sau đó, bà tiên thứ sáu, người mà dĩ nhiên các bà tiên khác đã sắp xếp để bước ra sau bà tiên độc ác, bắt đầu lên tiếng, để hóa giải hết sức bà có thể.

“Nếu cô bé ngủ suốt cả ngày,” bà rầu rĩ nói, “ít ra, cô bé sẽ thức suốt cả đêm.”

“Một tương lai thật hay ho cho mẹ con bé và mình!” đức vua tội nghiệp nghĩ; vì họ quá yêu con nên không nỡ giao con cho các nhũ mẫu, đặc biệt là vào ban đêm, như hầu hết các ông hoàng bà chúa thường làm - và sau đó thì phải ân hận vì đã làm thế.

“Bà nói trước khi ta nói xong,” bà tiên độc ác nói. “Thế là trái luật. Và ta sẽ có thêm một cơ hội nữa.”

“Gì cơ,” các bà tiên khác đồng loạt kêu lên.

“Đúng thế. Ta chưa cười xong,” mụ già xấu xí nói. “Ta mới chỉ cười tới Hi, hi! Và ta phải cười qua Ho, ho! và Hu, hu! Vì thế ta quyết định rằng nếu thức cả đêm nó sẽ tròn khuyết như bảo mẫu của nó, mặt trăng. Và ta hy vọng ông bố bà mẹ vương giả của nó sẽ sống để thấy chuyện đó có nghĩa là gì. Ho, ho! Hu, hu!”

Nhưng một bà tiên nữa bước ra, vì các bà tiên đã đủ khôn ngoan để giữ hai người dự phòng, bởi vì mỗi bà tiên đều biết hết chiêu trò của nhau.

“Tới khi,” bà tiên thứ bảy nói, “một hoàng tử xuất hiện và vô thức hôn cô bé.”

Bà tiên độc ác phì một tiếng ghê rợn như một con mèo giận dữ, và tập tễnh đi khỏi. Lần này mụ ta không thể giả bộ là chưa nói hết, vì mụ ta đã cười Ho, ho! và Hu, hu!

“Ta không biết chuyện đó nghĩa là gì,” đức vua tội nghiệp nói với bà tiên thứ bảy.

“Đừng sợ. Lúc nào chuyện xảy ra thì hoàng thượng sẽ hiểu,” bà tiên nói.

Nhóm người giải tán, trong rầu rĩ khổ sở - ít ra hoàng hậu phải sẵn sàng cho nhiều đêm thức trắng, và bà nhũ mẫu tổng quản thì không thoải mái chút nào về cái triển vọng trước mắt bà ta, vì tất nhiên hoàng hậu không thể xoay xở hết mọi việc, về phần nhà vua, thu hết can đảm có được, ông đã quyết tâm đáp ứng những đòi hỏi của tình cảnh này, nhưng tự hỏi theo phép tắc ông có thể yêu cầu ông Bộ trưởng Ngân khố chia sẻ phần gánh nặng đè lên mình hay không.

Tôi sẽ không cố gắng miêu tả những gì họ phải trải qua suốt một thời gian. Nhưng rốt cuộc hoàng gia đã đi vào một nhịp sống bình thường - về mặt nào đó là một nhịp sống vô cùng bất thường. Vì vào những khoảng thời gian nhất định, cả đêm cung điện sẽ réo rắt những tràng cười từ công chúa Nắng nhỏ; lời nguyền của mụ tiên già không chạm tới được tim của cô bé. Cô bé vẫn là Nắng nhỏ, chỉ hơi lạc chỗ một chút, vì cô luôn thiếp ngủ cùng với hừng sáng đầu tiên của bình minh ở phương Đông. Nhưng cô bé chỉ vui vẻ thoáng chốc. Khi trăng tròn, cô bé vui tươi rạng ngời, và xinh đẹp hết mức như bất kỳ em bé nào ở lứa tuổi mình. Nhưng khi trăng khuyết, cô bé nhợt nhạt theo, rồi trở nên xanh xao và héo úa như một em bé nghèo khổ nhất, ốm yếu nhất mà ta có thể bắt gặp trong vòng tay của một bà mẹ vô gia cư trên đường phố ở một thành phố lớn. Khi đó đêm cũng lặng tờ như ngày, vì sinh vật bé nhỏ ấy, ngày cũng như đêm, sẽ nằm thiêm thiếp, hầu như bất động trong cái nôi tuyệt đẹp của mình, và thậm chí cũng không có nổi một tiếng rên, như đã chết rồi. Thoạt đầu họ nghĩ cô bé đã chết, nhưng rốt cuộc họ quen dần với chuyện đó, và chỉ tham khảo cuốn niên giám để tìm thời điểm cô bé bắt đầu hồi sinh, tất nhiên là với sự chớm xuất hiện của vành trăng khuyết mỏng mảnh như sợi chỉ bạc. Lúc đó cô bé sẽ động đậy đôi môi, và họ sẽ cho cô chút thức ăn, và cô bé sẽ trở nên ngày càng khỏe hơn, tới khi cô bé khỏe mạnh tuyệt vời trong vài ngày. Khi khỏe, cô bé sẽ luôn vui tươi nhất ở ngoài trời trong ánh trăng. Nhưng ngay cả khi gần như ốm yếu nhất, cô bé vẫn dường như khỏe hơn khi, vào những đêm mùa hè ấm áp, họ mang nôi của cô bé ra ngoài trời trong ánh trăng đang khuyết dần. Rồi cô bé sẽ mỉm cười trong giấc ngủ của mình, nụ cười nhợt nhạt nhất, tội nghiệp nhất.

Một thời gian dài rất ít người thấy được công chúa lúc thức. Dẫu vậy, khi lớn lên cô bé được mọi người yêu mến đến nỗi xung quanh lâu đài luôn có ai đó cố gắng thức vào ban đêm để có thể ở gần cô bé. Nhưng chẳng bao lâu sau cô bé luôn tận dụng mọi cơ hội để thoát khỏi các nhũ mẫu và một mình tận hưởng ánh trăng. Và mọi chuyện cứ diễn ra như thế cho tới năm cô bé gần mười bảy tuổi. Tới lúc đó nhà vua và hoàng hậu đã quen với trạng thái kỳ quặc của những chuyện này nên thôi không băn khoăn về chúng nữa. Mọi sắp đặt của họ đều tuân theo tình trạng sức khỏe của công chúa Nắng, và thật tuyệt vời khi thấy mọi chuyện xoay xở để tự thích nghi ra sao. Nhưng không ai hình dung nổi một hoàng tử sẽ tìm và giải cứu công chúa như thế nào.

Khi lớn lên công chúa trở nên ngày càng xinh đẹp, với mái tóc vàng óng như ánh mặt trời, và cặp mắt đáng yêu xanh ngăn ngắt, sáng rỡ và thăm thẳm như bầu trời tháng Sáu. Nhưng đau đớn và buồn bã hơn nhiều là sự đổi thay khi quãng thời gian tồi tệ đến dần. Khi trăng tròn nàng đẹp bao nhiêu thì khi trăng khuyết nàng lại tàn tạ và suy kiệt bấy nhiêu. Vào thời điểm của câu chuyện mà tôi sắp kể tới, khi mặt trăng trở nên nhỏ xíu, hay đã biến mất, nàng trông như một bà lão kiệt quệ vì khổ đau. Bề ngoài bất thường của nàng còn gây đau đớn hơn, vì tóc và mắt nàng lại không thay đổi. Gương mặt nhợt nhạt của nàng quắt lại và nhăn nheo, và chứa một ánh nhìn hăm hở khao khát. Hai bàn tay xương xẩu của nàng cử động như thể muốn, nhưng không thể nắm được vật gì. Vai nàng cong vồng về phía trước, ngực lõm vào, và nàng khòm người như thể một bà lão tám mươi tuổi. Sau cùng người ta phải đặt nàng lên giường, và nàng nằm đó đợi đợt thủy triều mang sự sống tới. Nhưng vào khoảng thời gian này, nàng trở nên ghét bị người khác nhìn thấy, và càng ghét hơn khi bị bất kỳ tay ai chạm vào. Một đêm mùa hè tuyệt vời, khi mặt trăng đã biến mất hoàn toàn khỏi viền chân trời, nàng biến mất khỏi những người hầu cận, và chỉ sau khi tìm kiếm nàng rất lâu trong hoảng loạn, họ mới thấy nàng ngủ say trong rừng, dưới chân một cây bu lô bạc, và khiêng nàng về nhà.

Cách xa cung điện một chút có một trảng cỏ lớn, phủ đầy thứ cỏ xanh mềm mại vô cùng. Đây là chốn lui tới yêu thích của nàng, vì ở đây trăng tròn tỏa sáng rực rỡ và thỏa thích, trong khi qua lối đi giữa những hàng cây nàng có thể thấy dù ít dù nhiều mảnh trăng khuyết khi nó băng qua khoảng trống. Nơi đây nàng có một căn nhà nhỏ mộc mạc được xây riêng cho mình, và nàng hầu như cư ngụ tại đây. Không ai trong triều đình có thể tới đó mà không được phép, và tới lúc này những người hầu cận của nàng đã biết không cần lăng xăng phục vụ nàng nữa, vì thế nàng được tự do tùy thích. Liệu các bà tiên tốt bụng có liên quan gì đến chuyện này không thì tôi không biết, nhưng sau cùng nàng có thói quen rút sâu hơn vào trong rừng mỗi khi vầng trăng khuyết nhô lên, vì thế đôi khi người ta phải hết sức khó khăn mới tìm thấy nàng; nhưng nàng luôn giận dữ nếu phát hiện ra họ đang theo dõi mình, nên họ hiếm khi dám làm như vậy. Cuối cùng vào một đêm họ nghĩ họ đã lạc mất nàng hoàn toàn. Rạng sáng hôm sau họ mới tìm thấy nàng. Dù yếu ớt như vậy, nàng đã lang thang đến một bụi cây cách xa trảng cỏ, và nàng nằm ở đó - tất nhiên là ngủ say.

Mặc dù tiếng đồn về vẻ đẹp và sự dịu dàng của nàng đã lan ra ngoài vương quốc, thế nhưng mọi người đều biết nàng phải chịu bùa mê ác độc, nên không ông vua nào ở các vương quốc láng giềng thiết tha mong muốn nhận nàng làm con dâu. Luôn có những phản đối quyết liệt cho một mối tương giao như vậy.

Trong khoảng thời gian này, ở một vương quốc láng giềng, do sự độc ác xấu xa của giới quý tộc, một cuộc đảo chính diễn ra khi vị vua già băng hà, phần lớn giới quý tộc bị thảm sát, và hoàng tử trẻ buộc phải chạy trốn để thoát thân, và phải cải trang như một nông dân. Trong một khoảng thời gian, trước khi thoát được khỏi vương quốc của mình, chàng phải chịu đói khát mệt mỏi. Nhưng khi chàng tới được vùng đất mà cha của công chúa cai trị và không còn sợ bị nhận ra, chàng đi lại dễ dàng hơn, vì người dân ở đây thật tốt bụng. Tuy nhiên, chàng vẫn không tháo bỏ quần áo giả trang của mình. Một lý do có thể chấp nhận được là chàng không có quần áo nào khác để mặc, và một lý do khác là chàng có rất ít tiền, và không biết có thể kiếm thêm ở đâu nữa. Chẳng ích gì khi nói với mọi người chàng gặp rằng chàng là hoàng tử, vì chàng cảm thấy một hoàng tử cũng nên sống tiếp như những người khác, nếu không địa vị của chàng chỉ khiến chàng thành trò hề trong mắt thiên hạ. Chàng đã đọc về những hoàng tử dấn bước vào những chuyến phiêu lưu, và chàng đây cũng lang thang tương tự thế, chỉ có điều chàng không được lựa chọn về chuyện này mà thôi. Chàng sẽ đi tiếp, và xem thử chuyện này sẽ dẫn tới đâu.

Đã một hai ngày chàng lang thang qua cánh rừng cạnh cung điện, và gần như chẳng có gì để ăn, thì chàng bắt gặp một túp lều nhỏ vô cùng kỳ lạ, nơi một bà cụ tốt bụng, chửi chu, tựa một bà mẹ, đang cư ngụ. Đấy chính là một trong những bà tiên tốt. Lúc nhìn thấy chàng, bà tiên biết khá rõ chàng là ai và chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo, nhưng bà không có quyền can thiệp vào diễn biến của các sự việc. Bà đón tiếp chàng bằng sự tử tế mà bà sẽ thể hiện với bất kỳ lữ khách nào, mời chàng bánh mì và sữa. Hoàng tử nghĩ đó là thứ đồ ăn ngon nhất chàng từng nếm, và tự hỏi sao họ không thỉnh thoảng phục vụ nó trong bữa tối ở cung điện. Bà cụ ép chàng nghỉ lại qua đêm. Khi thức giấc, chàng kinh ngạc nhận thấy chàng thật sung sức và khỏe khoắn biết bao. Bà cụ không nhận bất kỳ đồng nào mà chàng đề nghị, mà cầu xin chàng, nếu có dịp đi tiếp trong vùng này thì hãy quay lại ở nhà bà.

“Cảm ơn nhiều, bà mẹ tốt bụng,” hoàng tử trả lời. “Nhưng khả năng đó ít lắm. Con càng ra khỏi khu rừng này sớm chừng nào càng tốt chừng ấy.”

“Ta không biết chuyện đó,” bà tiên nói.

“Ý bà là gì?” hoàng tử hỏi.

“Chao, sao ta biết được?” bà tiên đáp.

“Con không thể nói được,” hoàng tử nói.

“Được thôi,” bà tiên nói.

“Bà nói năng mới lạ lùng làm sao!” hoàng tử nói.

“Thế ư?” bà tiên hỏi.

“Dạ, đúng thế,” hoàng tử nói.

“Được thôi,” bà tiên nói.

Hoàng tử không quen được đối đáp theo kiểu này, vì thế chàng cảm thấy hơi bực bội, và quay người bỏ đi. Nhưng chuyện này không khiến bà tiên phật ý. Bà đứng ở cửa ngôi nhà nhỏ của mình nhìn theo chàng tới lúc cây cối che khuất chàng. Rồi bà nói “Rốt cuộc!” và đi vào.

Hoàng tử cứ lang thang, lang thang mãi, và chẳng đi tới đâu. Mặt trời chìm, chìm dần, và biến mất khỏi tầm nhìn, vậy mà chàng dường như chẳng tiến gần bìa rừng hơn chút nào. Chàng ngồi lên một cái cây đổ, ăn chút bánh mì bà cụ đã cho, và đợi trăng lên, vì dù chẳng phải là nhà thiên văn học, chàng biết lúc nào đấy trăng sẽ lên, vì đêm hôm trước đã có trăng, vầng trăng xuất hiện, hết sức chậm rãi, nhưng khá lớn, gần như tròn vành vạnh. Vì thế, hết sức sảng khoái với miếng bánh mì vừa gặm, chàng đứng lên và đi - chàng chẳng biết là đi đâu.

Sau khi đi bộ một quãng dài, chàng nghĩ chàng đang tới bên ngoài cánh rừng. Nhưng khi tới chỗ mà chàng nghĩ là quãng rừng cuối cùng, chàng chỉ thấy mình ở bên rìa một khoảng trống lớn ở trong rừng, phủ đầy cỏ. Mặt trăng tỏa sáng rực rỡ, và chàng nghĩ chàng chưa từng nhìn thấy chỗ nào đẹp hơn thế. Dù thế trông nó vẫn ảm đạm vì hiu quạnh, vì chàng không thấy căn nhà ở phía bên kia. Chàng ngồi xuống, lại mệt rũ, và ngây người nhìn trảng cỏ. Đã vài ngày chàng không được thấy một khoảng trống lớn đến thế.

Bỗng nhiên chàng chợt thấy cái gì đó trên trảng cỏ. Nó có thể là gì nhỉ? Nó chuyển động; nó tiến lại gần hơn. Liệu nó có phải là một sinh thể người, lướt ngang qua - một thiếu nữ vận đồ màu trắng, lập lòe trong ánh trăng? Thiếu nữ ấy tiến lại mỗi lúc một gần. Chàng bò ra sau một cái cây và quan sát, lòng đầy băn khoăn. Đó hẳn là một sinh thể kỳ lạ của khu rừng - một nàng tiên cây mà ánh trăng và không khí đêm ấm áp đã dụ ra khỏi cái cây của nàng. Nhưng khi nàng tiến lại gần chỗ chàng đứng thì chàng chắc chắn nàng là người - vì chàng thoáng thấy mái tóc vàng óng, cặp mắt xanh trong vắt của nàng, và khuôn mặt và dáng hình tuyệt diệu nhất mà chàng từng thấy. Bỗng nhiên nàng bắt đầu cất tiếng hát như một cô chim sơn ca, và nhảy múa theo âm nhạc của riêng nàng, mắt nàng luôn hướng về phía mặt trăng. Nàng lướt qua gần chỗ chàng đứng, tiếp tục nhảy múa sát mép hàng cây và rồi lượn tròn tới đầu bên kia, tới lúc chàng chỉ còn thấy một chấm trắng trên trảng cỏ xanh vàng nhạt ngập ánh trăng. Nhưng khi chàng đang sợ rằng nó sẽ biến mất hoàn toàn, cái chấm ấy lớn dần, và lại trở thành một hình người. Nàng lại tiến gần chàng, hát ca và nhảy múa, hai tay vẫy phía trên đầu, tới lúc nàng hoàn thành hết vòng tròn. Nàng đứng đối diện cái cây chàng nấp, ngừng hát, thõng tay xuống, và cất lên tràng cười dài lảnh lót, thánh thót như tiếng một dòng suối. Sau đó, như thể rất mệt, nàng buông người xuống cỏ, và nằm nhìn đăm đắm lên mặt trăng. Hoàng tử gần như nín thở vì sợ mình sẽ khiến nàng giật mình, và nàng sẽ biến mất khỏi tầm nhìn. Ý nghĩ về việc đánh liều lại gần nàng chưa từng nảy ra trong đầu chàng.

Nàng đã nằm đó một tiếng đồng hồ hay hơn thế, thì hoàng tử lại bắt đầu nghi ngờ về nàng. Có lẽ nàng chỉ là một ảo ảnh của trí tưởng tượng của chính chàng. Hay rốt cuộc nàng là nàng tiên của cánh rừng này? Nếu vậy, chàng sẽ thường xuyên lui tới cánh rừng này, vui sướng vì tuy đã mất hết vương quốc và mọi thứ, nhưng bù lại chàng sẽ được ở gần nàng. Chàng sẽ xây cho mình một túp lều ở trong rừng, và chàng sẽ sống ở đó chỉ với hy vọng được gặp lại nàng. Vào những đêm như thế này, ít ra nàng sẽ xuất hiện và tắm trong ánh trăng, và khiến tâm hồn chàng dạt dào hạnh phúc. Nhưng trong lúc chàng mơ mộng như thế, nàng bật dậy, xoay cả khuôn mặt về phía mặt trăng, và bắt đầu hát như thể nàng sẽ kéo mặt trăng từ bầu trời xuống nhờ vào lực hút của giọng hát mê hoặc của mình. Nàng trông đẹp hơn bao giờ hết. Nàng lại bắt đầu nhảy nhót theo âm nhạc của riêng mình, và nhảy ra xa hơn. Rồi nàng lại trở lại theo cùng kiểu như hồi nãy, nhưng dù vẫn quan sát nàng hào hứng như trước, do mệt mỏi và nhìn chăm chú, chàng thiếp ngủ say sưa trước khi nàng tiến gần chàng. Khi chàng thức giấc đã là ban ngày, và nàng công chúa thì không còn thấy đâu.

Chàng không thể bỏ đi. Nhỡ hôm sau nàng quay lại thì sao! Chàng sẽ vui sướng chịu đựng một ngày đói khát để được gặp lại nàng: chàng sẽ thắt dây lưng bụng mình thật chặt. Chàng đi vòng quanh trảng cỏ để xem liệu có phát hiện được dấu chân nào của nàng không. Nhưng cỏ thì ngắn và bước chân nàng lại nhẹ đến nỗi nàng không để lại dấu vết nào ở phía sau mình.

Chàng đi loanh quanh nửa vòng cánh rừng mà không thấy bất kỳ thứ gì có thể minh chứng cho sự hiện diện của nàng. Thế rồi chàng bắt gặp một căn nhà nhỏ xinh xắn, lợp mái lá và mái gianh thấp, bao quanh là một khu vườn tuyệt đẹp, có chim bồ câu và chim công lững thững đi dạo ở trong. Dĩ nhiên đây hẳn là nơi thiếu nữ duyên dáng yêu ánh trăng sống. Quên mất bộ dạng của mình, chàng đi tới cửa, quyết tâm hỏi thăm, nhưng khi đi ngang một cái ao nhỏ đầy cá vàng cá bạc, chàng thấy bóng mình và quay người tìm cửa dẫn vào nhà bếp. Chàng gõ cửa bếp, và hỏi xin một mẩu bánh mì. Người đầu bếp tốt bụng dẫn chàng vào, mời chàng một bữa sáng tuyệt vời, khiến chàng chẳng thấy có gì phải phàn nàn dù được phục vụ ở trong bếp. Trong lúc ăn, chàng trò chuyện với người tiếp đãi chàng, và biết rằng đây là nơi ẩn dật yêu thích của công chúa Nắng. Nhưng chàng không biết thêm gì hơn, vì chàng sợ mình có vẻ tọc mạch, và bởi vì người đầu bếp không muốn bị đồn đại rằng mình đã kể lể về cô chủ của mình với một gã nông dân phải xin ăn bữa sáng.

Khi đứng dậy ra về, chàng chợt nghĩ rằng chàng có lẽ không cách xa túp lều của bà cụ như chàng nghĩ, và chàng hỏi người đầu bếp liệu bác ta có biết gì về một nơi như thế, và miêu tả nó kỹ hết sức có thể. Bác ta nói rằng mình biết rõ nó, và nói thêm với một nụ cười:

“Đó là nơi anh đang tới, phải không?”

“Đúng, nếu nó không quá xa.”

“Chưa tới ba dặm. Nhưng hãy cẩn thận với việc anh sắp làm, anh biết đấy.”

“Tại sao bác nói thế?”

“Nếu anh gây chuyện rắc rối, bà ấy sẽ khiến anh phải ân hận về chuyện đó đấy.”

“Trong hoàn cảnh ấy đó là điều tốt nhất có thể xảy ra,” hoàng tử nhận xét.

“Ý anh là gì?” người đầu bếp hỏi.

“Chao, ai chẳng biết,” hoàng tử trả lời, “nếu ta muốn làm điều gì sai trái, điều tốt nhất dành cho ta là bị buộc phải sám hối về chuyện đó.”

“Tôi hiểu,” người đầu bếp nói. “Ồ, tôi nghĩ anh có thể liều đi. Bà ấy là một bà cụ tốt.”

“Nó nằm ở hướng nào nếu đi từ đây?” hoàng tử hỏi.

Bác ta chỉ dẫn đầy đủ cho chàng, và chàng cảm ơn bác rối rít.

Tuy nhiên, dù đã sảng khoái tràn đầy, hôm đó hoàng tử không quay trở lại túp lều nhỏ: chàng nấn ná trong rừng, gắng hết sức có thể để làm mình vui, nhưng chàng hồi hộp đợi đêm xuống, với hy vọng rằng nàng công chúa sẽ lại xuất hiện. Chàng không phải thất vọng, vì ngay khi trăng vừa lên, chàng chợt thấy một dáng hình lập lòe xa xa phía bên kia trảng cỏ. Khi nó tiến lại gần, chàng thấy đó quả thực là nàng - không vận đồ màu trắng như trước, mà vận đồ màu xanh nhạt tựa màu trời, và nàng trông vẫn tuyệt đẹp. Chàng nghĩ màu xanh dương hợp với nàng hơn là màu trắng. Chàng không biết rằng thực ra nàng đẹp hơn vì mặt trăng gần tròn. Thực ra đêm mai là đêm rằm, và lúc đó sẽ là lúc công chúa đẹp nhất.

Đã có lúc hoàng tử sợ rằng đêm đó nàng sẽ không tiến lại gần chỗ nấp của chàng. Nhưng khi trăng lên những vòng tròn nhảy múa của nàng rộng hơn bao giờ hết, tới lúc chúng ôm trọn toàn bộ trảng cỏ, và nàng thậm chí tiến gần cái cây nơi chàng nấp hơn cả đêm hôm trước. Chàng bị mê hoặc vì vẻ đáng yêu của nàng, vì quả thật đó là một sinh thể tuyệt diệu. Cả đêm chàng ngắm nhìn nàng, nhưng không dám lại gần nàng. Hẳn chàng đã thấy xấu hổ khi ngắm nhìn nàng như vậy, nếu như chàng không thành ra gần như mụ mẫm chẳng nghĩ được gì ngoài việc nàng mới đẹp làm sao. Suốt đêm chàng ngắm nàng, và thấy rằng khi trăng lặn nàng dần lùi lại, những vòng tròn mỗi lúc một nhỏ hơn, tới khi rốt cuộc chàng không còn thấy nàng nữa.

Mệt rũ, chàng khởi hành tới túp lều của bà cụ. Chàng tới đó vừa kịp bữa sáng, và bà cụ chia sẻ bữa sáng với chàng. Sau đó chàng đi ngủ, và ngủ say nhiều giờ. Khi chàng thức giấc thì mặt trời đã lặn, và chàng ra đi trong nỗi hồi hộp khắc khoải, sợ rằng mình sẽ không thoáng thấy cái ảo ảnh tuyệt đẹp đó. Nhưng, dù đó là do mưu kế xấu xa của bà tiên đầm lầy, hay đơn giản là quay lại đường đã từng đi nào phải chuyện dễ dàng gì, chàng bị lạc đường. Tôi sẽ không gắng miêu tả nỗi khổ sở của chàng khi trăng lên mà chàng chẳng thấy gì ngoài cây, cây, và lại cây. Trước khi chàng tới trảng cỏ, trăng đã ló cao trên nền trời. Lúc đó quả thật mọi phiền muộn của chàng đều biến mất, vì kia, nàng công chúa đang nhảy múa tiến về hướng chàng. Nàng vận một chiếc váy lóng lánh như vàng, và đi đôi hài lập lòe trong cỏ như đom đóm. Dĩ nhiên nàng còn đẹp hơn cả lần trước. Như hiện thân của một tia nắng, nàng đi qua chàng, và nhảy múa ra khoảng xa.

Trước khi nàng trở lại trong cái vòng tròn nhảy múa của nàng, mây đã bắt đầu bao quanh mặt trăng. Gió nổi lên, cây cối rền rĩ, và những cành nhẹ hơn ngả rạp về một hướng trước gió. Hoàng tử sợ công chúa sẽ biến mất, và đêm đó chàng sẽ không thấy nàng nữa. Nhưng nàng tiến tới tiếp tục nhảy nhót tưng bừng hơn bao giờ hết, chiếc váy lóng lánh vàng và mái tóc vàng óng của nàng phấp phới theo gió. Nàng vẫy cánh tay hướng về mặt trăng, và trong cơn cuồng nhiệt vui sướng ra lệnh cho các đám mây ngừng che khuất mặt trăng. Rốt cuộc hoàng tử gần như không thể tin nổi nàng lại là một sinh thể bằng xương bằng thịt.

Tới lúc nàng hoàn thành một vòng tròn nhảy múa nữa, mây đã tích tụ dày đặc, và có những tiếng gầm gào của sấm ở đằng xa. Ngay khi nàng đi ngang cái cây chỗ chàng đứng, một ánh chớp làm chàng lóa mắt một lúc, và khi nhìn lại được, chàng kinh hoàng thấy nàng công chúa đang nằm trên đất. Chàng lao tới chỗ nàng, nghĩ rằng nàng bị sét đánh. Nhưng khi nàng nghe tiếng chàng lại gần, thoáng chốc nàng đã bật đứng lên.

“Anh muốn gì?” nàng hỏi.

“Xin lỗi. Tôi cứ tưởng… sét…” hoàng tử lập bập nói.

“Không có chuyện gì đâu,” công chúa nói, cao ngạo vẫy tay xua chàng đi.

Hoàng tử tội nghiệp quay người đi về hướng khu rừng.

“Quay lại,” công chúa Nắng nói. “Ta thích anh. Anh làm những gì người khác bảo. Anh có tốt không?”

“Không tốt như cô muốn đâu,” hoàng tử nói.

“Thế thì đi đi và tu tỉnh nhé,” công chúa nói.

Chàng hoàng tử đầy thất vọng lại quay người đi khỏi.

“Quay lại,” công chúa nói.

Chàng tuân lời, và đứng trước nàng chờ đợi.

“Anh có thể nói ta hay mặt trời trông như thế nào không?” nàng hỏi.

“Không,” chàng trả lời. “Nhưng hỏi cái mà nàng đã biết thì ích gì?”

“Nhưng ta không biết,” nàng trả lời.

“Chao, ai mà chẳng biết.”

“Chính là thế: ta không phải là ai. Ta chưa từng nhìn thấy mặt trời.”

“Thế thì tới lúc tận mắt thấy nó nàng mới có thể biết nó trông như thế nào.”

“Ta nghĩ anh hẳn là một hoàng tử,” công chúa nói.

“Trông tôi giống hoàng tử à?” hoàng tử hỏi.

“Ta không thể khẳng định điều đó.”

“Thế thì tại sao nàng nghĩ vậy?”

“Bởi vì anh vừa làm những gì anh được bảo làm, vừa nói sự thật. Mặt trời rất rất sáng phải không?”

“Sáng như sét ấy.”

“Nhưng nó không phóng ra như sét, phải không?”

“Ồ, không. Nó tỏa sáng như mặt trăng, mọc và lặn giống mặt trăng, hình dáng rất giống mặt trăng, chỉ có điều nó sáng đến nỗi nàng không thể nhìn vào nó được dù chỉ thoáng chốc.”

“Nhưng ta sẽ nhìn vào nó,” công chúa nói.

“Nhưng nàng không thể,” hoàng tử nói.

“Nhưng ta có thể,” công chúa nói.

“Thế thì tại sao nàng không nhìn?”

“Bởi vì ta không thể.”

“Tại sao nàng không thể?”

“Bởi vì ta không thể thức giấc. Ta sẽ không bao giờ thức giấc cho tới lúc…”

Tới đây nàng vùi mặt vào hai bàn tay, quay người đi khỏi, và đi với điệu bộ chậm rãi nhất, đường bệ nhất về phía ngôi nhà. Hoàng tử liều đi sau nàng một quãng ngắn, nhưng nàng quay người lại và khoát tay xua đuổi, và như một hoàng tử - nhà quý tộc chân chính, chàng tức thì tuân theo. Chàng đợi rất lâu, nhưng vì nàng không lại gần chàng nữa, và vì đêm đang tàn, rốt cuộc chàng đành khởi hành về túp lều của bà cụ.

Rất lâu sau nửa đêm chàng mới tới túp lều, nhưng chàng hết sức ngạc nhiên khi thấy bà cụ đang gọt khoai tây ở cửa. Các bà tiên thường thích làm những việc kỳ quặc. Quả thực, dù có che giấu như thế nào, đêm mới luôn là ngày của họ. Và cũng như vậy với những ai có dòng máu tiên trong người mình.

“Chao, mẹ đang làm gì ở đó vào lúc khuya khoắt này, hả mẹ?” hoàng tử hỏi; vì đó là cách gọi thân mật mà bất kỳ chàng trai trẻ nào ở vương quốc của chàng cũng đều dùng với một phụ nữ hơn tuổi mình rất nhiều.

“Chuẩn bị bữa khuya cho con, con trai,” bà cụ trả lời.

“Ồ! Con không muốn ăn khuya,” hoàng tử nói.

“A! Con đã gặp Nắng,” bà cụ nói.

“Con đã gặp một nàng công chúa chưa từng thấy nắng,” hoàng tử nói.

“Con thích nàng không?” bà tiên hỏi.

“Ồ! Con mà không thích ư?” hoàng tử nói. “Nhiều hơn mẹ tin đấy, mẹ à.”

“Một bà tiên có thể tin bất kỳ chuyện gì đã từng hoặc sẽ có thể là như thế,” bà cụ nói.

“Thế ra mẹ là tiên à?” hoàng tử hỏi.

“Ừ,” bà tiên nói.

“Thế mẹ làm gì với những chuyện không thể tin được?” hoàng tử hỏi.

“Có nhiều chuyện như thế - tất cả những chuyện không từng hoặc sẽ không thể là như thế.”

“Nhiều lắm, con công nhận với mẹ,” hoàng tử nói. “Nhưng mẹ có tin là có thể có nàng công chúa chưa từng thấy nắng bao giờ không? Giờ mẹ có tin chuyện đó không?”

Hoàng tử nói điều này, không phải vì chàng nghi ngờ công chúa, mà vì chàng muốn bà tiên kể thêm cho chàng. Tuy nhiên, bà tiên đã quá già nên không thể bị gài bẫy dễ dàng đến thế.

“Trong số tất cả mọi người, tiên không được phép kể những bí mật. Hơn nữa, nàng là một công chúa.”

“Ồ, con sẽ kể cho mẹ một bí mật. Con là một hoàng tử.”

“Ta biết điều đó.”

“Làm sao mẹ biết được?”

“Nhờ vào lọn cong của lông mi thứ ba trên mí mắt trái của con.”

“Mẹ đếm từ góc nào?”

“Đó là một bí mật.”

“Một bí mật nữa? Chà, chí ít, nếu con là một hoàng tử, chẳng có hại gì khi kể cho con về một nàng công chúa.”

“Chính vì là hoàng tử nên ta không thể kể.”

“Không còn bất kỳ chàng hoàng tử nào khác nữa - đúng không ạ?” hoàng tử hỏi.

“Gì cơ! Con không nghĩ con là chàng hoàng tử duy nhất trên đời, phải không?”

“Ồ, lạy trời, không ạ! Không phải thế. Nhưng con biết ngay lúc này có quá nhiều ấy chứ, trừ phi công chúa…”

“Ừ, ừ, thế đấy,” bà tiên nói.

“Thế là cái gì ạ?” hoàng tử hỏi.

Nhưng chàng không thể moi thêm gì hơn từ bà tiên, và phải đi ngủ mà không được giải đáp, và chuyện này chẳng khác nào một thử thách.

Vì các bà tiên độc ác không bị ràng buộc bởi những luật lệ mà những bà tiên tốt tuân thủ, và điều này dường như luôn tạo lợi thế cho các bà tiên xấu so với các bà tiên tốt, vì để đạt được những mục đích của mình họ sẽ dùng những phương cách mà những người kia sẽ không vận tới. Nhưng tất cả đều công cốc, vì những gì họ làm không bao giờ thành công. Không, cuối cùng chúng chỉ dẫn tới chính điều mà họ đang cố ngăn cản. Vì thế bạn sẽ thấy, theo cách nào đó, bất chấp tất cả những xảo kế của họ, tất cả các bà tiên độc ác đều hết sức ngu ngốc, vì, dù từ khởi đầu của thế giới họ đã thực sự trợ giúp thay vì ngăn trở các bà tiên tốt, nhưng không ai trong số họ khôn ngoan hơn tí nào. Bà này chỉ thử gây chuyện xấu giống hệt các bà kia đã làm, và tất nhiên chẳng thành công hơn gì.

Đến giờ hoàng tử đã giành được lợi thế so với bà tiên đầm lầy. Tới lúc chàng đã gặp được công chúa những ba lần thì mụ ta mới biết chàng đang ở trong vùng này. Khi đã biết chuyện, mụ ta tự an ủi rằng công chúa hẳn quá kiêu hãnh và quá khiêm nhường nên bất kỳ chàng trai trẻ nào cũng không thể đánh bạo nói chuyện với nàng trước khi chàng ta gặp nàng ít nhất sáu lần. Nhưng thậm chí có ít hiểm họa hơn bà tiên độc ác nghĩ. Vì, dù công chúa có ước ao được giải phóng bao nhiêu chăng nữa, nàng vô cùng sợ gặp nhầm hoàng tử. Tuy nhiên, giờ mụ ta sẽ làm tất cả những gì có thể.

Mụ ta bày mưu sắp đặt bằng bùa chú lừa lọc của mình, để đêm hôm sau hoàng tử vận mọi nỗ lực mà vẫn không tìm được đường tới trảng cỏ. Tôi sẽ mất nhiều thời gian nếu kể về những quỷ kế của mụ ta. Chúng sẽ rất buồn cười với chúng ta, vì chúng ta biết chúng không thể gây hại gì. Nhưng chúng là cái gì đó chẳng đáng cười chút nào đối với chàng hoàng tử tội nghiệp. Chàng lang thang khắp nơi trong rừng tới lúc trời sáng, và sau đó lăn ra ngủ say. Chuyện tương tự diễn ra trong bảy ngày tiếp theo, và trong khoảng thời gian này chàng cũng không thể tìm thấy túp lều của bà tiên tốt. Tuy nhiên, sau ba tuần trăng, bà tiên ác nghĩ rằng mụ ta có thể an tâm về chuyện này trong ít nhất nửa tháng, vì không đời nào hoàng tử muốn hôn công chúa trong khoảng thời gian đó. Vì thế ngày đầu tiên của tuần trăng thứ tư chàng tìm thấy túp lều, và hôm sau chàng tìm thấy trảng cỏ. Gần một tuần sau chàng lui tới đây thường xuyên. Nhưng nàng công chúa không bao giờ đến. Tôi không nghi ngờ gì về việc lúc nào đó trong những đêm ấy nàng đã loanh quanh ở phía xa của trảng cỏ, nhưng trong khoảng thời gian này nàng luôn vận đồ màu đen, và ở đó thiếu sáng hoặc tối đen, nên hoàng tử không bao giờ thấy được nàng. Nếu có thấy nàng, chàng sẽ không biết đấy là nàng. Sao chàng có thể nhận ra sinh vật tàn tạ mà nàng đang mang hình hài là công chúa Nắng rực rỡ được?

Cuối cùng, vào một đêm không trăng, chàng đánh bạo lại gần ngôi nhà. Ở đó chàng nghe thấy tiếng người nói chuyện, dù đã quá nửa đêm; do những người hầu gái của nàng đang vô cùng lo lắng bồn chồn, vì cô hầu tới phiên trông coi nàng đã ngủ quên, và không thấy được nàng đi đường nào. Đây là đêm mà có lẽ nàng sẽ lang thang rất xa, tạo thành một vòng tròn không tiếp giáp gì trảng cỏ, mà trải ra xa từ phía sau ngôi nhà, sâu vào vạt rừng - khu vực mà chàng hoàng tử không hay biết gì. Từ những gì họ nói chàng hiểu được rằng nàng đã biến mất, và nàng hẳn đã đi đâu đó theo hướng đã được nhắc tới, chàng lập tức lao vào rừng thử xem liệu chàng có thể tìm thấy nàng không. Đã nhiều giờ chàng lang thang mà không có gì chỉ lối ngoài một ý niệm mơ hồ về một vòng tròn mà một cạnh tiếp giáp ngôi nhà, vì đó là bấy nhiêu chàng biết từ cuộc trò chuyện mà chàng nghe lỏm được.

Đã gần tới hừng đông, nhưng vẫn chưa có dải ánh sáng nào trên bầu trời, khi chàng đi tới một cây bu lô lớn, và mệt mỏi ngồi xuống gốc cây. Trong lúc chàng ngồi - chắc chắn là hết sức rầu rĩ - lòng tràn ngập sợ hãi cho công chúa, và băn khoăn sao những người hầu của nàng có thể bỏ mặc mọi chuyện lặng tờ thế này, chàng tự nhủ nhóm một ngọn lửa không phải là một kế hoạch tồi, vì nó sẽ thu hút nàng, nếu nàng ở đâu đó gần đó. Chàng xoay xở nhóm lửa với hộp bùi nhùi mà bà tiên tốt đã cho chàng. Lửa vừa đang bắt đầu bùng lên thì chàng nghe thấy một tiếng rên dường như phát ra từ bên kia cái cây. Chàng nhảy dựng lên, nhưng tim đập thình thịch nên chàng phải tựa vào cái cây một lát thì mới có thể di chuyển. Khi đi vòng qua cái cây, chàng thấy ở đó một hình người nằm thành một đống đen trên mặt đất. Có đủ ánh sáng từ đống lửa của chàng để soi thấy đó không phải là công chúa. Chàng nhấc hình người đó lên trong tay mình, nó hầu như không nặng hơn một đứa trẻ, và bồng nó tới ngọn lửa. Gương mặt đó là gương mặt của một bà cụ, nhưng nó có một vẻ kỳ lạ đáng sợ. Một cái mũ trùm đầu che tóc bà cụ, và mắt bà nhắm nghiền. Chàng đặt bà nằm thoải mái hết sức chàng có thể, chà xát tay bà, trút một ít rượu trái cây từ một cái chai, cũng là quà tặng của bà tiên, vào miệng bà cụ; cởi áo khoác ra và bọc quanh người bà, tóm lại là làm những gì tốt nhất có thể. Lát sau bà cụ mở mắt nhìn chàng - thật xót thương! Nước mắt dâng lên và tràn xuống gò má nhăn nheo xám xịt của bà cụ, nhưng bà cụ không hề nói lời nào. Bà cụ lại nhắm mắt, nhưng nước mắt vẫn không ngừng chảy, và bộ dạng của bà đáng thương cùng cực đến nỗi chàng hoàng tử cũng suýt khóc. Chàng van nài bà cụ kể cho chàng nghe có chuyện gì vậy, và hứa sẽ làm hết sức để giúp bà, nhưng bà vẫn không chịu nói. Chàng nghĩ bà sắp chết, và lại bồng bà trên tay tới nhà của công chúa, nơi chàng nghĩ bác đầu bếp tốt bụng có thể làm gì đó giúp bà. Khi chàng nhấc bà cụ lên, nước mắt bà thậm chí chảy nhanh hơn, và bà bật ra tiếng rên não nùng đến mức xuyên thấu lòng chàng.

“Mẹ ơi, mẹ ơi!” chàng nói. “Mẹ tội nghiệp!” và hôn vào đôi môi khô héo của bà cụ.

Bà cụ giật mình; và chao ơi là cặp mắt mở ra nhìn chàng! Nhưng chàng không thấy chúng, vì trời vẫn tối, và chàng đã đủ việc phải làm khi dò dẫm qua những cái cây về hướng ngôi nhà.

Ngay khi chàng tới cửa, cảm thấy mệt mỏi hơn đã tưởng - bà cụ già nhỏ gầy đến thế cơ mà - bà cụ bắt đầu cựa quậy, và trở nên bồn chồn đến nỗi, không thể bồng bà lâu hơn nữa, chàng nghĩ sẽ đặt bà cụ lên cỏ. Nhưng bà cụ đứng thẳng người trên hai chân. Cái mũ trùm đầu đã rơi xuống, và tóc bà xõa quanh người. Tia nắng đầu tiên của sớm mai đọng trên khuôn mặt bà cụ: khuôn mặt ấy sáng bừng như bình minh không tuổi, và đôi mắt tuyệt đẹp như bầu trời thẳm xanh nhất. Hoàng tử co người lại trong nỗi kinh ngạc ngập tràn. Người chàng bồng về từ khu rừng chính là công chúa Nắng. Chàng khuỵu dưới chân nàng, không dám ngẩng đầu lên cho tới lúc nàng đặt tay lên đầu chàng. Rồi chàng đứng dậy.

“Chàng đã hôn em khi em là một bà già: đó! Em hôn chàng khi em là một công chúa trẻ,” công chúa Nắng thì thầm. “Mặt trời đang mọc đó phải không chàng?”

Nguyễn Như Quỳnh (dịch)
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của George MacDonald

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.