Khoảng thời gian đó, một người lạ mặt xuất hiện ở Cloisterham; đó là một nhân vật tóc bạc phơ nhưng lông mày đen nhánh. Bận chiếc áo khoác chẹt màu xanh da trời gài khuy kín cổ, cùng áo gile vàng nhạt và quần dài xám, ông ta mang dáng dấp như một quân nhân. Thế nhưng, tại Crozier (khách sạn danh tiếng, nơi ông ghé lại cùng một chiếc vali), ông tự giới thiệu mình chỉ là một gã nhàn rỗi sống bằng khoản thu nhập riêng. Ông còn cho biết thêm rằng mình muốn thuê một chỗ trọ tại thành phố cổ kính nên thơ này trong một hoặc hai tháng, với ý định sẽ định cư hẳn ở đây. Cả hai lời tuyên bố đều được người lạ mặt đưa ra trong phòng cà phê của khách sạn Crozier, cho bất kỳ ai quan tâm hoặc không quan tâm, khi ông đứng quay lưng về phía lò sưởi trống rỗng, đợi món cá thờ bơn chiên, thịt bê nướng và một ly rượu sherry. Về phần gã bồi phòng (trong bối cảnh việc kinh doanh ở Crozier luôn trong tình trạng ế ẩm kéo dài), gã chính là đại diện duy nhất cho "bất kỳ ai quan tâm hoặc không quan tâm" ấy, và nuốt trọn từng lời thông tin đó.
Đầu của vị khách này to một cách bất thường, và mái tóc bạc của ông cũng xù dày rậm rạp lạ thường. "Này bồi," ông ta vừa nói vừa lắc mạnh mái tóc xù, giống như một con chó Newfoundland lắc đầu trước khi ngồi vào bàn ăn, "ta đoán quanh đây chắc cũng tìm được một chỗ trọ tươm tấp cho một lão già cô đơn chứ nhỉ, hả?"
Gã bồi phòng khẳng định chắc chắn là có.
"Một nơi nào đó cổ kính một chút," vị khách nói. "Phiền chú em lấy giúp ta chiếc mũ trên cái móc kia xuống một chút được không? Không, ta không cần đội; hãy nhìn vào bên trong xem. Chú em thấy chữ gì viết ở đó?"
Gã bồi phòng đọc: "Datchery."
"Bây giờ thì chú em biết tên ta rồi đấy," vị khách nói; "Dick Datchery. Treo nó lên lại đi. Như ta vừa nói, ta thích một nơi nào đó cổ kính, kỳ lạ và hẻo lánh; một nơi tôn nghiêm, có kiến trúc cổ và... bất tiện một chút."
"Cháu nghĩ ở thị trấn này có nhiều sự lựa chọn về chỗ trọ bất tiện lắm, thưa ngài," gã bồi phòng đáp, tỏ ra tự tin một cách khiêm tốn về lợi thế ấy của địa phương; "quả thực, cháu không nghi ngờ gì việc chúng cháu có thể đáp ứng ngài về khoản đó, dù ngài có kỹ tính đến đâu. Nhưng một chỗ trọ 'có kiến trúc cổ' ư!" Điều đó dường như làm gã bồi phòng bối rối, gã lắc đầu.
"Chẳng hạn như thứ gì đó mang phong cách Nhà thờ Giáo đường ấy," ông Datchery gợi ý.
"Ông Tope," gã bồi phòng sáng mắt lên, xoa xoa cằm, "sẽ là người thích hợp nhất để cung cấp thông tin về mảng đó đấy ạ."
"Ai là ông Tope?" Dick Datchery hỏi.
Gã bồi phòng giải thích rằng ông ấy là người cai quản Nhà thờ, và bà Tope quả thực từng cho thuê trọ hoặc rao cho thuê; nhưng vì chẳng có ai đến thuê, tờ giấy rao dán trên cửa sổ nhà bà Tope — vốn từ lâu đã trở thành một hình ảnh quen thuộc ở Cloisterham — đã biến mất; có lẽ một ngày nào đó nó đã rơi xuống và chẳng bao giờ được dán lại nữa.
"Ta sẽ ghé thăm bà Tope," ông Datchery nói, "sau bữa tối."
Thế là sau khi dùng xong bữa tối, ông được chỉ đường cẩn thận và lên đường. Nhưng vì Crozier lại là một khách sạn nằm ở nơi cực kỳ kín đáo, còn chỉ dẫn của gã bồi phòng lại chính xác một cách tai hại, chẳng mấy chốc ông đã đâm ra hoang mang. Ông cứ loanh quanh lẩn quẩn quanh Tháp Nhà thờ mỗi khi thoáng thấy nó, trong đầu tràn ngập ấn tượng rằng nhà bà Tope đâu đó rất gần đây, và giống như lũ trẻ chơi trò giấu đồ, ông thấy mình "nóng" dần lên khi nhìn thấy Tháp, và "lạnh" đi khi không thấy nó nữa.
Ông đang cảm thấy thực sự "lạnh" thì bắt gặp một mảnh nghĩa địa, nơi một con cừu tội nghiệp đang gặm cỏ. Tội nghiệp là bởi một thằng bé có diện mạo gớm giếc đang ném đá nó qua hàng rào; nó đã làm con cừu khập khiễng một chân, và đang vô cùng hào hứng với mục tiêu "thể thao nhân đạo" là đập gãy nốt ba chân còn lại để hạ gục nó.
"Trúng nó nữa rồi!" thằng bé reo lên khi sinh thể đáng thương nhảy chổng ngược lên; "lõm cả một khoảnh lông rùi nhé."
"Để nó yên!" ông Datchery nói. "Mi không thấy mi đã làm nó khập khiễng rồi sao?"
"Nói dối," tay thợ săn nhí vặn lại. "Nó tự làm nó khập khiễng đấy chứ. Tui thấy nó tự làm mà, tui chỉ ném chọi cho nó một phát để cảnh cáo, cho nó biết đường mà đừng có làm dập thịt cừu của chủ nó nữa thôi."
"Lại đây."
"Không lại! Chừng nào ông bắt được tui thì tui lại."
"Vậy đứng yên đó rồi chỉ cho ta xem nhà ông Tope ở đâu."
"Làm sao tui đứng đây mà chỉ nhà lão Tope cho ông được, khi nhà lão Tope ở tận bên kia Nhà thờ, qua mấy lối băng ngang, rồi ngoằn ngoèo qua bao nhiêu cái góc đường cơ chứ? Đồ ngốc! Lè lè-è-è!"
"Chỉ cho ta nơi đó, ta sẽ thưởng cho mi thứ này."
"Đi thôi, vậy thì theo tui."
Cuộc đối thoại ngắn gọn kết thúc, thằng bé dẫn đường, rồi một lúc sau dừng lại cách một lối đi có mái vòm một khoảng, giơ tay chỉ.
"Nhìn kìa. Ông thấy cái cửa sổ với cái cửa ra vào đằng kia không?"
"Đó là nhà ông Tope à?"
"Nói dối; không phải đâu. Đó là nhà lão Jasper."
"Thế sao?" ông Datchery nói, nhìn lại lần nữa với vẻ khá hứng thú.
"Đúng rồi, và tui sẽ không lại gần LÃO ĐÓ đâu, tui nói cho ông biết thế."
"Tại sao lại không?"
"Bởi vì tui không muốn bị nhấc bổng cả hai chân lên, bị đứt dây đeo quần và bị nghẹt cổ đâu; tui đủ khôn để không bị Lão ĐÓ làm thế. Chờ đấy, rồi có ngày tui sẽ cho một hòn đá lửa bay thẳng vào sau cái gáy già của lão! Giờ thì nhìn sang bên kia mái vòm đi; không phải phía có cửa nhà lão Jasper đâu; phía bên kia kìa."
"Ta thấy rồi."
"Đi vào một chút phía bên đó, có cái cửa thấp, bước xuống hai nấc thang. Đó là nhà lão Tope, có tên lão trên một cái biển hình bầu dục."
"Tốt. Mới mi nhìn này," ông Datchery vừa nói vừa lấy ra một đồng shilling. "Mi nợ ta một nửa đồng này đấy."
"Nói dối! Tui không nợ ông cái gì hết; tui đã gặp ông bao giờ đâu."
"Ta bảo mi nợ ta một nửa, vì trong túi ta không có đồng 6 pence lẻ nào. Vậy nên lần tới gặp ta, mi sẽ phải làm việc khác cho ta để trả nợ."
"Được rồi, đưa đây cho tui cầm."
"Mi tên gì, và sống ở đâu?"
"Lao Phái. Nhà trọ Hai Xu Cho Lữ Khách, băng qua bãi cỏ bên kia."
Thằng bé lập tức lao đi cùng đồng shilling vì sợ ông Datchery sẽ hối hận, nhưng nó dừng lại ở một khoảng cách an toàn, rồi chọc tức ông bằng một điệu nhảy quỷ quái để biểu thị rằng tiền đã vào tay thì không bao giờ đòi lại được, phòng trường hợp ông cảm thấy bứt rứt trong lòng.
Ông Datchery tháo mũ ra để lắc xù mái tóc bạc lần nữa, tỏ vẻ hoàn toàn cam chịu, rồi đi về hướng đã được chỉ.
Nơi ở chính thức của ông Tope, nối liền bằng một cầu thang phía trên với nhà ông Jasper (chính vì thế mà bà Tope mới phụng sự vị quý ông đó), có quy mô vô cùng khiêm tốn, mang chút dáng dấp của một ngục thất mát rượi. Những bức tường cổ kính dày cộp, và các phòng trông như thể được đào khoét ra từ trong lòng tường chứ không phải được thiết kế trước. Cửa chính mở ngay ra một căn phòng không thể mô tả được hình dáng, với trần nhà có vòm cuốn; căn phòng này lại dẫn sang một căn phòng khác cũng không thể mô tả nổi hình dáng, với một vòm cuốn khác: các cửa sổ đều nhỏ hẹp và nằm lọt thỏm trong độ dày của tường. Hai căn phòng ấy, không khí thì bí bách, còn ánh sáng tự nhiên thì u tối u ám, chính là khoảng không gian mà bà Tope đã rao cho thuê suốt bấy lâu nay giữa một thành phố chẳng biết thưởng thức. Tuy nhiên, ông Datchery lại biết thưởng thức hơn. Ông nhận thấy rằng nếu ngồi mở rộng cửa chính, ông có thể ngắm nhìn dòng người qua lại cổng thành và có đủ ánh sáng. Ông nhận thấy rằng nếu vợ chồng ông Tope sống ở tầng trên dùng một cầu thang phụ nhỏ để đi ra đi vào — chiếc cầu thang đâm thẳng ra khu khuôn viên qua một cánh cửa mở ra ngoài, gây ngạc nhiên và bất tiện cho một số ít người đi bộ trên con đường hẹp — thì ông sẽ được hoàn toàn riêng tư như ở một dinh cơ độc lập. Ông thấy tiền thuê vừa phải, và mọi thứ đều bất tiện một cách kỳ lạ đúng như ông mong muốn. Vì vậy, ông đồng ý thuê chỗ trọ ngay tại chỗ, trả tiền mặt, và sẽ dọn đến vào tối hôm sau, với điều kiện ông được phép lấy ông Jasper làm người bảo đảm — vì ông Jasper đang sống ở cổng thành, mà cái hang trong tường của người cai quản nhà thờ lại là một phần phụ thuộc ở phía bên kia cổng.
Vị quý ông tội nghiệp đáng kính ấy rất cô độc và buồn ủ rầu, bà Tope nói, nhưng bà không nghi ngờ gì việc ông ấy sẽ "nói giúp cho bà". Có lẽ ông Datchery đã nghe phong phanh chuyện xảy ra ở đây hồi mùa đông năm ngoái?
Khi cố nhớ lại, ông Datchery chỉ có một hiểu biết mơ hồ và hỗn loạn về vụ việc được nhắc tới. Ông xin lỗi bà Tope khi bà thấy mình có trách nhiệm phải đính chính từng chi tiết trong bản tóm tắt sự việc của ông, nhưng ông chống chế rằng mình chỉ là một lão già cô đơn sống qua ngày nhờ khoản thu nhập riêng một cách nhàn rỗi nhất có thể, và vì có quá nhiều người liên tục sát hại quá nhiều người khác, khiến một lão già tính tình dễ dắt thật khó mà giữ cho các chi tiết của từng vụ án không bị lẫn lộn vào nhau trong đầu.
Vì ông Jasper tỏ ra sẵn lòng bảo đảm cho bà Tope, nên ông Datchery, người vừa gửi danh thiếp lên, được mời bước lên cầu thang cửa phụ. Ngài Thị trưởng cũng đang ở đó, ông Tope nói; nhưng không cần phải coi ngài ấy là khách khứa xa lạ, vì ngài ấy và ông Jasper là bạn thân của nhau.
"Tôi xin lỗi," ông Datchery nói, cúi chào lịch thiệp với chiếc mũ kẹp dưới nách, hướng lời nói đến cả hai vị quý ông; "đây chỉ là một sự cẩn trọng ích kỷ về phía tôi, và chẳng có gì đáng quan tâm đối với ai khác ngoài bản thân tôi. Nhưng với tư cách là một lão già sống bằng khoản thu nhập riêng, và có ý định trải qua phần đời còn lại ở nơi xinh đẹp này trong bình yên và lặng lẽ, tôi xin mạn phép hỏi liệu gia đình ông Tope có hoàn toàn đáng kính không?"
Ông Jasper có thể bảo đảm điều đó mà không một chút đắn đo.
"Thế là đủ rồi, thưa ngài," ông Datchery nói.
"Bạn tôi, Ngài Thị trưởng," ông Jasper nói thêm, giơ tay ra hiệu một cách trang trọng về phía nhân vật quyền quý đó để giới thiệu với ông Datchery; "lời tiến cử của ngài ấy thực ra quan trọng đối với một người xa lạ hơn nhiều so với một kẻ vô danh tiểu tót như tôi, tôi chắc chắn ngài ấy cũng sẽ làm chứng cho họ."
"Ngài Thị trưởng Đáng kính," ông Datchery gập người cúi chào, "khiến tôi thật vô cùng ân huệ."
"Những người rất tốt, thưa ngài, vợ chồng ông Tope ấy," ông Sapsea nói với vẻ bề trên. "Quan điểm rất chuẩn mực. Cư xử rất đúng mực. Rất mực kính trọng. Rất được Viện trưởng và Hội đồng Giáo sĩ tán thành."
"Ngài Thị trưởng Đáng kính ban cho họ một lời chứng nhận," ông Datchery nói, "mà họ quả thực có thể lấy làm tự hào. Nếu tôi được phép, tôi xin hỏi Ngài (nếu tôi được phép) liệu trong thành phố dưới sự cai trị nhân từ của Ngài có nhiều danh thắng đáng quan tâm không?"
"Thưa ngài," ông Sapsea đáp, "chúng tôi là một thành phố cổ kính, và là một thành phố giáo phận. Chúng tôi là một thành phố hiến pháp, đúng như vị thế của một thành phố như vậy, và chúng tôi duy trì, bảo vệ những đặc quyền vinh quang của mình."
"Ngài," ông Datchery cúi chào, "truyền cho tôi ham muốn được hiểu biết nhiều hơn về thành phố này, và củng cố thêm ý định trút hơi thở cuối cùng ở đây của tôi."
"Ngài giải ngũ bên Lục quân ạ?" ông Sapsea gợi ý.
"Ngài Thị trưởng đã quá đề cao tôi rồi," ông Datchery đáp.
"Hải quân chăng, thưa ngài?" ông Sapsea lại gợi ý.
"Một lần nữa," ông Datchery lặp lại, "Ngài Thị trưởng lại quá đề cao tôi rồi."
"Ngoại giao là một nghề nghiệp cao quý," ông Sapsea nhận xét chung chung.
"Đến đây thì tôi phải thú nhận Ngài Thị trưởng cao tay hơn tôi rồi," ông Datchery nói với nụ cười khéo léo và một cú cúi đầu; "ngay cả một con chim ngoại giao lọc lõi cũng phải ngã gục trước cây súng cao tay như vậy."
Lời lẽ ấy thực sự làm êm tai. Đây là một vị quý ông có phong thái lịch thiệp, nếu không muốn nói là vô cùng uy nghi, người vốn quen với địa vị và tôn nghiêm, thực sự đang nêu một tấm gương sáng về cách ứng xử với một Ngài Thị trưởng. Cách xưng hô ở ngôi thứ ba ấy có điều gì đó khiến ông Sapsea cảm thấy công lao và vị thế của mình được công nhận một cách đặc biệt.
"Thế nhưng tôi xin thứ lỗi," ông Datchery nói. "Mong Ngài Thị trưởng lượng thứ cho, nếu trong phút chốc tôi đã lỡ làm mất thời gian của Ngài, mà quên mất những công việc khiêm tốn của riêng mình tại khách sạn Crozier."
"Không sao cả, thưa ngài," ông Sapsea nói. "Tôi đang trên đường về nhà, và nếu ngài muốn tiện đường ngắm nhìn bên ngoài Nhà thờ của chúng tôi, tôi rất lòng được chỉ cho ngài."
"Ngài Thị trưởng," ông Datchery nói, "thật tử tế và rộng lượng quá đỗi."
Vì ông Datchery, sau khi chào cảm ơn ông Jasper, quyết không chịu bước ra khỏi phòng trước Ngài Thị trưởng Đáng kính, nên Ngài Thị trưởng phải dẫn đường xuống cầu thang; ông Datchery đi theo sau, tay kẹp chiếc mũ dưới nách, và mái tóc bạc xù bồng bềnh tung bay trong gió chiều.
"Tôi có thể mạn phép hỏi Ngài," ông Datchery nói, "liệu vị quý ông mà chúng ta vừa chia tay có phải là người mà tôi nghe đồn quanh đây là đang đau đớn tột cùng vì mất đi người cháu trai, và đang dồn cả phần đời còn lại để trả thù cho nỗi đau ấy không?"
"Chính là vị quý ông đó. John Jasper, thưa ngài."
"Ngài có thể cho phép tôi hỏi liệu đã có nghi vấn gắt gao nào nhắm vào ai chưa?"
"Còn hơn cả nghi vấn nữa, thưa ngài," ông Sapsea đáp; "gần như đã chắc chắn một trăm phần trăm."
"Chà, hãy tưởng tượng xem!" ông Datchery thốt lên.
"Nhưng bằng chứng, thưa ngài, bằng chứng phải được xây dựng từng viên đá một," Ngài Thị trưởng nói. "Như tôi vẫn thường nói, kết quả mới làm nên công trạng. Công lý chỉ chắc chắn về mặt đạo đức thôi thì chưa đủ; nó phải chắc chắn một cách 'phi đạo đức' — tức là về mặt pháp lý."
"Ngài," ông Datchery nói, "nhắc cho tôi nhớ về bản chất của luật pháp. Phi đạo đức. Mới đúng đắn làm sao!"
"Như tôi vẫn nói, thưa ngài," Ngài Thị trưởng tiếp tục một cách hợm hĩnh, "cánh tay của luật pháp là một cánh tay mạnh mẽ, và là một cánh tay dài. Tôi diễn đạt như thế đấy. Một cánh tay mạnh mẽ và một cánh tay dài."
"Thật đanh thép!—Và một lần nữa, thật chính xác làm sao!" ông Datchery thì thầm.
"Và không lộ ra cái mà tôi gọi là những bí mật của chốn ngục thất," ông Sapsea nói; "'những bí mật của chốn ngục thất' là thuật ngữ tôi thường dùng trên bệ xét xử."
"Và còn thuật ngữ nào khác ngoài từ ngữ của Ngài có thể diễn tả được điều đó chứ?" ông Datchery nói.
"Như tôi đã nói, không cần phải tiết lộ chúng ra, tôi xin dự đoán với ngài rằng, khi đã biết ý chí sắt đá của vị quý ông mà chúng ta vừa chia tay (tôi mạn phép dùng từ 'sắt đá' vì sức mạnh của nó), trong vụ án này, cánh tay dài sẽ vươn tới, và cánh tay mạnh mẽ sẽ giáng xuống.—Đây là Nhà thờ của chúng tôi, thưa ngài. Những nhà thẩm định xuất sắc nhất đều tán thưởng nó, và những người dân ưu tú nhất của thị trấn chúng tôi cũng tự hào đôi chút về nó."
Suốt thời gian đó, ông Datchery vừa đi vừa kẹp chiếc mũ dưới nách, mái tóc bạc xù tung bay. Ông có một vẻ thoáng ngơ ngác kỳ lạ như thể đã quên mất chiếc mũ của mình khi ông Sapsea chạm vào nó; rồi ông vỗ tay lên đầu như thể mơ hồ kỳ vọng sẽ tìm thấy một chiếc mũ khác đang đội trên đầu.
"Xin mời đội mũ vào, thưa ngài," ông Sapsea khẩn khoản; rồi hào hoa thêm vào: "Tôi sẽ không phiền đâu, tôi bảo đảm với ngài đấy."
"Ngài thật quá tốt, nhưng tôi làm thế cho mát thôi ạ," ông Datchery nói.
Rồi ông Datchery chiêm ngưỡng Nhà thờ, còn ông Sapsea thì chỉ trỏ như thể chính ông ta đã sáng chế và xây dựng nên nó: quả thực có một vài chi tiết nhỏ không vừa ý ông ta, nhưng ông ta lướt qua như thể thợ xây đã phạm sai lầm lúc ông ta vắng mặt. Xong chuyện Nhà thờ, ông ta dẫn đường qua nghĩa địa nhà thờ, rồi dừng lại tán tụng vẻ đẹp của buổi chiều tà — một cách hoàn toàn tình cờ — ngay sát bên văn bia của bà Sapsea.
"Nhân tiện đây," ông Sapsea nói, có vẻ như vừa từ trên cao đáp xuống để đột ngột nhớ ra điều gì; giống như thần Apollo giáng từ đỉnh Olympus xuống để nhặt lại cây đàn lyre bị bỏ quên; "đó là một trong những điểm thu hút nhỏ của chúng tôi. Sự yêu mến của người dân nơi đây đã biến nó thành như vậy, và thỉnh thoảng người ta vẫn thấy khách phương xa chép lại dòng chữ ấy. Bản thân tôi không tự đánh giá nó, vì đó là một tác phẩm nhỏ của chính tôi. Nhưng viết ra nó cũng tốn công đấy, thưa ngài; tôi có thể nói là rất khó để trau chuốt cho nó có sự nhã nhặn."
Ông Datchery đắm đuối trước tác phẩm của ông Sapsea đến mức, mặc dù có ý định trút hơi thở cuối cùng ở Cloisterham — và do đó hẳn sẽ có nhiều cơ hội để chép lại sau này — ông đã định chép ngay nó vào sổ tay tại chỗ, nếu không vì sự xuất hiện của kẻ trực tiếp đục đẽo và vĩnh cửu hóa nó, Durdles, đang uể uải bước về phía họ. Ông Sapsea liền gọi Durdles, không bỏ lỡ cơ hội cho hắn thấy một tấm gương sáng về cách ứng xử đối với cấp trên.
"À, Durdles! Đây là người thợ đá, thưa ngài; một trong những danh nhân của Cloisterham chúng tôi; ai ở đây cũng biết Durdles. Ông Datchery này, Durdles, đây là vị quý ông sắp sửa tới định cư ở đây."
"Tôi mà là ông ta thì tôi chẳng làm thế," Durdles cằn nhằn. "Bọn tôi ở đây tẻ nhạt nặng nề lắm."
"Ông chắc chắn không nói đại diện cho bản thân mình rồi, ông Durdles," ông Datchery đáp, "và càng không phải đại diện cho Ngài Thị trưởng."
"Ngài Thị trưởng là ai chứ?" Durdles hạch hỏi.
"Ngài Thị trưởng Đáng kính."
“Tôi chưa từng bị giải đến trước mặt ông ta bao giờ,” Durdles nói, ánh mắt chẳng có chút gì là của một người dân trung thành với tòa thị chính, “và chừng nào tôi bị giải đến thì tôn kính ông ta cũng chưa muộn. Cho tới lúc đó, và ở đâu, khi nào,
‘Mister Sapsea là tên,
Nước Anh là tổ quốc,
Cloisterham là nơi ở,
Đấu giá viên là cái nghề.’”
Ngay lúc đó, Lao Phái (đi trước là một chiếc vỏ hàu bay vèo qua) xuất hiện trên hiện trường, yêu cầu ông Durdles lập tức "vứt" cho nó số tiền ba pence — khoản tiền công hợp pháp đã quá hạn mà nó đã cất công tìm kiếm ông khắp nơi trong vô vọng. Trong khi gã thợ đá, với cái bọc kẹp dưới nách, từ tốn tìm và đếm tiền, ông Sapsea tranh thủ thông báo cho cư dân mới biết về thói quen, công việc, nơi ở và tiếng tăm của Durdles. "Tôi đoán một người lạ tò mò có thể ghé thăm ông và các tác phẩm của ông, thưa ông Durdles, vào bất kỳ lúc nào rảnh rỗi chứ nhỉ?" ông Datchery nhân đó hỏi.
"Bất kỳ vị quý ông nào cũng được chào đón đến thăm tôi vào bất kỳ buổi tối nào nếu mang theo rượu đủ cho hai người," Durdles đáp, miệng ngậm một đồng penny và tay cầm vài đồng bán penny; "hoặc nếu ông ấy muốn gấp đôi số đó lên, ông ấy sẽ được chào đón gấp đôi."
"Ta sẽ đến. Cậu Lao Phái, chú em nợ ta cái gì nhỉ?"
"Một việc."
"Nhớ trả nợ ta một cách sòng phẳng bằng công việc chỉ đường cho ta đến nhà ông Durdles khi ta muốn đến đó nhé."
Lao Phái, thổi một tiếng còi chói tai qua cái kẽ răng trống hếch trên miệng như một biên bản thu tiền sòng phẳng cho mọi khoản nợ, biến mất dạng.
Ngài Thị trưởng Đáng kính và Kẻ Sùng bái sau đó cùng nhau bước đi cho đến khi họ chia tay, với muôn vàn lễ nghi, trước cửa nhà Ngài Thị trưởng; ngay cả khi đó, Kẻ Sùng bái vẫn kẹp chiếc mũ dưới nách, để mái tóc bạc xù bồng bềnh tung bay trong gió.
Đêm đó, ông Datchery tự nói với mình khi ngắm mái tóc bạc trong chiếc gương soi dưới ánh đèn ga trên gờ lò sưởi phòng cà phê khách sạn Crozier, rồi lắc xù nó lên: "Đối với một lão già cô đơn, tính tình dễ dắt, sống nhàn rỗi bằng khoản thu nhập riêng, thì mình đã có một buổi chiều tương đối bận rộn đấy chứ!"