Lý luận

Thay Đổi Tư Duy

Lượt đọc: 157 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
KỸ NĂNG KỂ CHUYỆN

❊ ❊ ❊

Một câu chuyện để có người nghe không đơn giản. Chúng ta đã từng nghe rất nhiều câu chuyện và có những chuyện còn nghe đi nghe lại. Đa số người ta không nhớ các câu chuyện hay lời nói đùa quá lâu vì chúng quen thuộc với những gì đã nghe, không tạo được sự khác biệt. Vì vậy, chúng ta chấp nhận chúng giống như những câu chuyện đã biết. (Đó là lý do tại sao chúng ta thường chỉ có thể nhớ một vài chi tiết của hầu hết mọi chương trình tivi nhiều tập đã xem). Mặt khác, những câu chuyện quá kỳ lạ hoặc quá khác biệt cũng khó được ghi nhớ. Có thể chúng bị trấn áp vì quá lạ kỳ hay quá đáng sợ (điều này đôi khi cũng xảy ra với tôi khi xem phim Nhật hay Ấn Độ sản xuất nội địa); hay có thể chúng bị biến dạng cho phù hợp với những câu chuyện đã biết (như trường hợp một người khi đến một quốc gia khác đã giả định sai lầm rằng những gì họ chứng kiến – chẳng hạn như một đại hội chính trị hay trận đá bóng – sẽ xảy ra hay có cùng ý nghĩa giống như trên quê hương họ). Một ví dụ rất quen thuộc với tôi: những năm 1980 và 1990 các trung tâm giữ trẻ có tiếng ở Reggio Emilia, Ý, ban đầu được xem (một cách sai lầm) là biến thể đơn giản của nhà trẻ tiến bộ kiểu Mỹ. Qua thời gian, các nhà quan sát kỹ càng đã nhận ra rằng những trường Ý đó thực chất hoạt động theo cách hoàn toàn khác - chẳng hạn, xem việc học là của một nhóm chứ không phải là hiện tượng cá nhân, hay dựa trên giáo trình chi tiết mỗi ngày để xây dựng những hoạt động tương lai.

Tối ưu, một câu chuyện mới phải có yếu tố quen thuộc  để không bị gạt bỏ ngay lập tức, đồng thời phải có sự khác biệt để thu hút sự chú ý của tư duy. Một mặt, người nghe phải được chuẩn bị nhưng mặt khác vẫn ngạc nhiên. Có thể một thập kỷ trước, khi những binh biến trên toàn thế giới những năm 1960 đã chiếm vị trí hàng đầu trong tâm trí mọi người, nuớc Anh đã không chuẩn bị để nghe Thatcher. Tương tự, trong thập kỷ sau, câu chuyện của Thatcher cũng có thể bị bác bỏ - và quả đúng là như vậy. Lúc đó mọi người đã quá thông thuộc những chính sách của bà, và vì thế họ cũng biết đến nhiều khiếm khuyết của nó. Có thể không ý thức điều này nhưng nước Anh đã được chuẩn bị cho một con đường mới, một câu chuyện mới, có lẽ một “con đường thứ 3”.

Có một cuộc đấu tranh hay sự thi thố giữa câu chuyện “mới” và “câu chuyện đối lập” - hay tổng quát hơn, là cuộc chiến giữa “nội dung” và “nội dung đối lập”. Trường hợp nước Anh vào cuối những năm 1970, câu chuyện đối lập có thể là: “Nuớc Anh đã từng là một quốc gia vĩ đại, những cái gì đã qua thì đã qua”; “Hình thái hợp lý của nước Anh là một xã hội an bình, mang tính chất chủ nghĩa xã hội, một đất nước không còn muốn thống trị thế giới”; “Có thể thay đổi hướng đi của nước Anh là tốt nhưng điều này chỉ đạt được qua tiến trình đồng thuận”; “Nước Anh nên tăng cường mối quan hệ với lục địa châu Âu và nổi lên là một quốc gia dẫn đầu trong Liên minh châu Âu”...

Hy vọng không quá nặng nề, tôi chỉ sử dụng phần lớn khuôn khổ phân tích ở trường hợp của Margaret Thatcher. Tôi đã đề cập nội dung thay đổi tư duy mà bà mong muốn và những nội dung đối lập cần phải đấu tranh. Tôi đã mô tả các đối tượng mục tiêu của bà - những thành viên Lãnh đạo trong Đảng của bà, hệ thống quan chức của Whitehall London, công chúng Anh nói chung. Tôi cũng chỉ ra cách Thatcher xử lý nội dung bằng cách xây dựng những câu chuyện đầy thuyết phục với ngôn ngữ tự nhiên cũng như thể hiện những vấn đề chủ chốt bằng chính con người bà.

Nhưng nhân tố nào thúc đẩy hoặc cản trở sự thay đổi? Lịch sử không có chỗ cho những thử nghiệm tính toán. Chúng ta không bao giờ biết chắc được nhân tố nào đã hậu thuẫn cho câu chuyện của Thatcher. Tuy nhiên, ít nhất trong suy nghĩ, chúng ta có thể xem xét tác động thay đổi của các đòn bẩy đã được giới thiệu ở chương 1.

Thatcher là một nhà hùng biện và tranh luận xuất sắc. Trở lại những ngày bà lãnh đạo chính trị ớ Oxford, bà biết cách phân tích vấn đề và đưa ra những luận điểm hậu thuẫn bên này hay chống lại bên kia. Ảnh hưởng bởi nhà kinh tế học Frederich von Hayek và người đồng nghiệp thân thiết Keith Joseph, bà có thể tranh luận với những vị trí mới của Đảng Bảo thủ trước nhiều đối tượng khác nhau. Bà rất sắc sảo trong các cuộc tranh luận ở nghị viện và trong mục “hỏi đáp” hàng tuần ở Hạ viện. Nhằm thay đổi tư duy của những người ủng hộ bà, bà đã chỉ ra những khó khăn và sai lầm trong 30 năm qua và chứng minh rằng cách suy nghĩ mới của bà có thể giải quyết những vấn đề đó, giúp quốc gia ngày càng thành công và vững mạnh hơn.

Nghiên cứu

Thatcher là bậc thầy nghiên cứu chính trị. Bà luôn thu thập thông tin từ các bộ phận nội các và các văn phòng Whitehall khác nhau. Bà nghiền ngẫm kỹ các dữ liệu, khắc sâu vào trí nhớ để hỗ trợ hiệu quả cho những bài tranh luận. Bà liệt kê tỷ lệ gia tăng trong thất nghiệp, đình công, và lạm phát dưới những chế độ trước và tự hào khi các con số này bẵt đầu trở nên thay đổi vào giữa thập kỷ 80. Bên cạnh đó, bà cũng chỉ ra những thay đổi tốt đẹp về thái độ, hành vi và quan điểm của các quốc gia khác - mà có lẽ do sự ảnh hưởng của bà - đã loại bỏ các chính sách xã hội chủ nghĩa.

Sức cộng hưởng

Về cơ bản, lãnh đạo sẽ không hiệu quả - do đó không thể kêu gọi sự thay đổi - nếu những câu chuyện và con người họ không đánh đúng tâm lý người nghe. Thatcher đã tổng hợp các luận điểm cùng với dữ liệu bằng một văn phong mỹ miều. Thế hiện sự gia tăng quyền lực của mình, bà đã tuyên bố “Chúng ta không chỉ vạch ra toàn bộ chương trình cho chính quyền, mà còn phải luyện tập cách tự quảng bá và học cách diễn đạt ý tưởng phức tạp và rắc rối bằng ngôn ngữ trực tiếp, đơn giản và rõ ràng. Đến nay, chúng ta đã tranh đấu được gần 4 năm, vì vậy chương trình của chúng ta, cùng với sự may mắn, sẽ đánh vào tâm lý chung mọi người, chứ không phải là một dự án cấp tiến bừa bãi”.[1]

Nếu nói tất cả những người Anh đều yêu quý và ủng hộ Thatcher thì hơi quá. Nhưng bà có khả năng cô lập những đối thủ dám chỉ trích các chính sách của bà cũng như những người cùng phe làm cho bà “lung lay”. Chủ yếu Thatcher chuyển thông điệp của mình đến những cử tri có khả năng thuyết phục được. Những người này cảm thấy Thatcher cùng tầng lớp với mình - chắc chắn phần nào là nhờ nền tảng gia đình thường dân và phong thái nghiêm túc của bà. Có thể thêm vào nhóm từ có chũ “re” (xem chương 1) rằng họ cảm thấy gắn bó (relate), tin tưởng (rely) va tôn trọng (repspect) bà. Thatcher rất nhạy bén với sự tương tác hai chiều này. Bà đã từng nói: “Tôi cảm thấy không cần người phiên dịch để nói với những người cùng ngôn ngữ. Và tôi cảm thấy rằng rất may là chúng ta có cuộc sống giống nhau. Tôi cảm thấy những trải nghiệm trong đời sẽ giúp tôi rất nhiều trong cuộc tranh đấu sắp đến”[2].

Và sức mạnh của sự cộng hưởng có thể thấy rõ nhất khi sự cộng hưởng đó chấm dứt. Quả vậy, thời gian cuối của 10 năm cầm quyền, Thatcher ngày càng trở nên độc tài và không chịu lắng nghe, không chịu học hỏi để sửa sai. Bà không chỉ đánh mất nhiều sự ủng hộ từ công chúng, mà - nguy hiểm thay - từ chính những người lãnh đạo trong đảng của bà. Sự sựp đổ của bà diễn ra rất nhanh chóng.

Sử dụng nhiều cách tiếp cận

Là nhà lãnh đạo nói chuyện trước lượng dân chúng lớn, đa dạng, Thatcher chủ yếu phải dựa vào những câu chuyện và Câu chuyện lớn của bà. Dĩ nhiên bản thân tình hình nuớc Anh đã là một nội dung cụ thể, được diễn đạt bằng tiếng Anh thông thường (nếu không nói là của Nữ Hoàng). Và Thatcher đã tiếp sức mạnh cho thông điệp của mình bằng những hình ảnh khôn ngoan; chẳng hạn, áp phích chiến dịch năm 1979 của bà cho thấy một hàng dài những người đàn ông và đàn bà bên ngoài vãn phòng thất nghiệp. Áp phích mang thông điệp “Lao động không có việc làm”[3]. Đồng thời, câu chuyện cùng được thể hiện mạnh mẽ không kém qua chính cuộc đời Thatcher: nguồn gốc khiêm tốn, tính tự lập, và lòng dũng cảm của bà trong cuộc chiến tranh (tại quần đảo Falklands), chống lại khủng bố (vụ ném bom Brighton), và các xung đột chính trị. Cuộc sống gia đình hạnh phúc, ổn định, cũng như niềm tin chân thành vào tôn giáo càng củng cố cho những hiện thân này. Việc thể hiện thông điệp trung tâm theo nhiều cách khác nhau đã trợ giúp Thatcher rất nhiều. Điều này cũng giai thích tại sao những người khác có cùng thông điệp những không thế hiện nó bằng chính cuộc đời họ lại không thành công trong giao tiếp với công chúng - như John Major của Anh, hay Newt Gingrich của Mỹ chẳng hạn.

Một biểu hiện cá nhân quan trọng của Thatcher là bà tự tin vào con đường đứng đắn của mình và nhất quyết đi theo. “Tôi hoàn toàn tin tưởng một điều: sẽ không có cơ may thay đổi quan điểm nền tảng để vực nước Anh thoát khỏi suy thoái nếu mọi người tin rằng chúng ta dễ dàng thay đổi đường lối vì áp lực”[4]. Cuối cùng thì sự kiên định dó đã được đền bù xứng đáng: “Mọi người đã thấy được tính hiệu quả của các chính sách kinh tế của chúng ta, đặc biệt được chứng minh qua việc giải quyết vụ khủng hoảng Falklands”[5].

Nguồn hậu thuẫn và phần thưởng

Dù chính trị phần nào là công việc của ý tưởng nhưng bên cạnh đó cũng là sự tích lũy và sử dụng các nguồn lực. Margaret Thatcher biết rằng bà phải có một lực lượng mạnh mẽ ủng hộ bà từ bên trong. Bà cẩn thận chọn thành viên, trao cho họ quyền lực và sự tín nhiệm cần thiết, và không ngần ngại thay thế người nào không đáp ứng được. Quả là không khôn ngoan khi chính trị gia nào có tham vọng chống đối Thatcher; bà trả miếng rất nhanh, nhưng đồng thời bà chắc chắn sẽ thưởng cho những ai trung thành.

Để xây dựng nguồn hậu thuẫn và phần thưởng cho toàn quốc, ý tưởng then chốt của Thatcher là giảm quy mô và quyền lực của toàn bộ hệ thống chính quyền trung tâm và chuyển nguồn lực cho các cá nhân để họ có thể sử dụng khi thích hợp. Lúc đầu đây chỉ là lời hứa: 2 năm khi bà mới nắm quyền, hầu hết các chỉ số kinh tế nước Anh còn tệ hơn thời phái Tory trở lại nắm quyền. Nhưng khi nền kinh tế đi lên, nạn thất nghiệp giảm xuống, người dân của Thatcher bắt đầu nhận được những phần thưởng đã hứa. Nói theo ngôn ngữ chính trị Mỹ là họ trở nên “khấm khá hơn” trước đó 4, 5 năm.

Những biến cố trên thế giới

Ngay cả những người không phải là “ông lớn, bà lớn” trong các biến cố cũng đều biết đến phạm vi công việc rộng lớn của người lãnh đạo. Những nhân tố nằm ngoài tầm kiểm soát của người lãnh đạo có thể gây tác động rất lớn. Trong trường hợp của Thatcher, các biến cố là tác động tiêu cực của các cuộc khủng hoảng dầu lửa do sự suy sụp của vua nước Iran năm 1979, hay những tác động tích cực của cuộc bầu cử Ronald Reagan trong năm tiếp theo. Một số những sự kiện đáng nhớ nhất của nhiệm kỳ Thatcher không nằm trong tầm tay của bà, như: lực lượng vũ trang Argentina chiếm đóng các quần đảo Falklands, Quân đội cộng hòa Ai-len (IRA) thả bom khủng bố, quyền lực của Mikhail Gorbachev gia tăng trong Liên bang Xô viết. Thế nhưng bà đã thể hiện dấu ấn người lãnh đạo qua cách ứng phó các sự kiện khó biết trước hay khó kiểm soát đó và khiến chúng gắn liền với bà. Thatcher đạt được điểm cao ở phương diện này.

Sự chống đối

Ngay từ đầu, Thatcher đã biết cần phải vượt qua các câu chuyện đối lập (hay các nội dung đối lập) có tác động mạnh ở Anh những năm 1970. Bà tìm ra những người chống đối bên trong đảng, và gọi họ là “những kẻ nhu nhược”. Bà hào hứng tấn công họ, và tuy có khó khăn lúc đầu nhưng sau vẫn có tiến triển đáng kể khiến họ phải im lặng. Tinh thần dũng cảm, sự khôn ngoan trong việc phân phối các nguồn lực và phần thưởng, cùng với chiến thắng của bà trong trận Falklands có lẽ đã kéo cán cân về phía bà.

Nhằm loại bỏ sự chống đối, Thatcher tìm cơ hội thuyết phục trục tiếp theo những cách riêng, chẳng hạn đối với những thành viên công đoàn, bà nói: “Tôi hiểu nỗi lo âu của các bạn. Các bạn sợ rằng sản xuất thêm hàng hóa với ít nhân lực hơn nghĩa là ít công việc hơn... những các bạn đã nhầm... con đường đúng đắn để giải quyết nạn thất nghiệp là sản xuất nhiều hàng hóa với chi phí thấp hơn, và vì thế nhiều người có thể mua hơn... chúng tôi sẽ tạo ra những điều kiện bảo vệ giá trị đồng tiền bạn kiếm được cũng như số tiền bạn tiết kiệm được”[6].

Tuy vậy, với kinh nghiệm từng trải trong nhiệm kỳ của mình, Thatcher phải thừa nhận rằng không thể hoàn toàn vượt qua mọi chống đối: “Hệ thống tài chính chính thống, tỷ lệ điều chỉnh và đánh thuế thấp, hệ thống hành chính nhỏ gọn, hệ thống phòng thủ mạnh mẽ, sự sẵn sàng đứng lên vì lợi ích bị đe dọa của nước Anh mọi lúc mọi nơi - tôi nghĩ rằng không thể làm hài lòng tất cả mọi người về các vấn đề này. Các cuộc đấu tranh vì những điều đó tưởng chừng đã chiến thắng. Giờ thì tôi biết rằng những cuộc tranh đấu đó sẽ không bao giờ kết thúc”[7].

Tuy nhiên, Thatcher bị mất quyền lực không phải vì sức mạnh của các câu chuyện đối lập, mà vì bà ngày càng trở nên kiêu căng. Trong trường hợp này, niềm kiêu hãnh bên trong chứ không phải sự chống đối bên ngoài đã dẫn đến sự sựp đổ của bà. Nếu Thatcher chịu tiết chế tư tưởng cực đoan trong các chính sách chính trị như lời khuyên của những người ủng hộ bà, thì có lẽ bà đã không phải đối mặt với sự nổi dậy của những thành viên trong đảng. Dư vậy, theo tôi trường hợp Thatcher có lẽ vẫn là một ví dụ “thay đổi tư duy” thành công nhất trong chính trường dân chủ nủa sau thế kỷ XX. Bây giờ chúng ta sẽ chuyển sang bên kia đại dương để xem 2 chính trị gia hàng đầu của Mỹ những năm 90 là: Bill Clinton và Newt Gingrich.

❀ ❀ ❀

[1] Downing street years của Thatcher, tr. 4.

[2] Downing street years của Thatcher, tr. 10.

[3] Xem hình sau trang 114 của cuốn Iron lady của Young.

[4] Downing street years của Thatcher, tr. 123.

[5] Như trên, tr. 264.

[6] Path to power của Thatcher, tr. 416.

[7] Downing street years của Thatcher, tr. 755.

Người dịch: Võ Kiều Linh
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 27 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.