Thay Đổi Tư Duy

Lượt đọc: 139 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
PHẦN TỰ NHIÊN

❊ ❊ ❊

Chúng ta được sinh ra trong thế giới với nhiều tác động và khuynh hướng, những tri thức mà chúng ta bắt đầu xây dụng dựa trên những kinh nghiệm mà chúng ta trải qua. Mỗi sinh vật đều phải xây dựng sự hiểu biết về thế giới từ đống hỗn tạp. Nếu tất cả các khuôn mặt mà chúng ta gặp đều chỉ có một mặt thì chúng ta sẽ nhìn thế giới như Cyclops; nếu ngôn ngữ duy nhất chúng ta nghe là Esperanto (Quốc tế ngữ) thì đó là thứ mà chúng ta sẽ nói; nếu tất cả các bề mặt đều nhám (hoặc nhẵn hay như bàn cờ) thì đó là kết cấu mà chúng ta sẽ học để cảm nhận. Và vì tất cả các tri thức vừa mới có này được lưu trữ trong não, khu vục vỏ não và dưới vỏ não xử lý những nhận thức đó sẽ trở thành cửa sổ chúng ta nhìn thế giới.

Dĩ nhiên, đôi khi cũng có trục trặc trong sự phát triển não bộ. Ví dụ, một phần trăm nhỏ trong dân số - chẳng hạn 5% đến 10% - có biểu hiện khó khăn trong việc học đọc các văn bản chữ cái. Chúng ta có thể giả thuyết rằng những người này có khiếm khuyết ẩn nào đó - có lẽ họ xử lý âm thanh ngôn ngữ không đủ nhanh (để họ có thể phân biệt được giữa pat và bat trong văn nói bình thường) hay không thể chuyển những âm thanh riêng biệt (puh) thành các nét viết cụ thế (p, chứ không phải là q, d hay b). Cách đây 50 năm những người này sẽ bị xem là ngu dốt; cách đây 100 năm họ có thể đã bị đuổi khỏi trường. Tuy nhiên, ngày nay, chúng ta nhận ra rằng vấn đề khó đọc thường chỉ là một rối loạn riêng biệt (chứ không phải là rối loạn chung), thể hiện những khó khăn trong việc kết nối một số neuron thần kinh mà (may mắn thay) không là vấn đề nan giải đối với phần lớn dân số.

Có những cách xứ lý nào cho trường hợp này? Trước đây, việc giáo dục những người bị khó đọc chủ yếu dựa vào nghệ thuật. Một số giáo viên có tài xác định các vấn đề của trẻ và sáng tạo một hệ thống thích hợp để phục hồi các trải nghiệm. Nhưng ngày nay, sự xuất hiện của các kỹ thuật hình ảnh thần kinh đã phát triển việc chữa bệnh khó đọc thành một ngành khoa học: Cần phải xác định từ sớm những trẻ “có nguy cơ” khó đọc. Những dạng thần kinh bất thường khác nhau sẽ quy định loại can thiệp nào thích hợp và vào độ tuổi nào. Sau khi đã can thiệp, các kỹ thuật hình ảnh tương tự có thể xác định những tác động can thiệp lên tổ chức thần kinh và xem khả năng nắm bắt các kỹ năng đọc theo đó dã được sắp xếp có tổ chức chưa.

Kết quả của việc can thiệp chiến lược như vậy trong não bộ của chúng ta - hay trong “phần tự nhiên” của chúng ta — dĩ nhiên, là một “sự thay đổi trí óc” theo đúng nghĩa đen của nó. Khi chúng ta xem não bộ như một chiếc hộp đen, sự can thiệp chỉ hoạt động đơn thuần ở mức độ hành vi: Chúng có thể có hiệu quả, hoặc không, nhưng hầu hết các kết quả đều mang tính phỏng đoán. Một khi bắt đầu hiểu chi tiết hơn những gì đang thực sự diễn ra trong não bộ, chúng ta có thể tấn công vấn đề trực tiếp hơn. Chúng ta có thể xác định các cấu trúc bị de dọa để hỗ trợ chung hoặc phát triển những khả năng thay thế; và chúng ta có thể quan sát những gì đang diễn ra trong não bộ khi khả năng đọc được cải thiện hoặc không. Mối liên kết giữa việc thay đổi não bộ và thay đổi tư duy trở thành vấn đề kiến thức, chứ không còn là vấn đề phỏng đoán, cầu may, hay nghệ thuật đặc trưng nữa.

Cải thiện năng lực đọc là sự can thiệp có tác động đến một kỹ năng quan trọng. Nếu khả năng đọc được cải thiện đáng kể, thì đó sẽ là một phương tiện hiệu quả để tiếp xúc, và có thể là làm chủ, những khái niệm, câu chuyện, và lý thuyết trong nền văn hóa. Tôi nghĩ còn quá sớm để nghĩ đến loại can thiệp có tác động trực tiếp đến những biểu hiện thần kinh của các câu chuyện và lý thuyết. Những nỗ lực thay đổi nội dung trí óc qua can thiệp vào thần kinh thành công đầu tiên nhất ở các khái niệm, và đặc biệt những khái niệm khó nắm bắt đối với một nhóm người người nhất định. Chẳng hạn, có thể sự can thiệp sẽ giúp những người tự kỷ hiểu về các khái niệm cần có trong giao tiếp xã hội con người.

Với suy luận này, chúng ta sẽ chuyển từ hiện tại sang tương lai. Tôi dự đoán sẽ có 3 cách tiếp cận trong việc tạo thay đổi tư duy liên quan trực tiếp đến não bộ. Cách thứ nhất là thông qua huấn luyện hành vi tác động tới não bộ và chúng ta có thể quan sát điều này trực tiếp qua hình ảnh. Cách thứ haican thiệp trực tiếp vào neuron thần kinh. Có lẽ trong tương lai những thay đổi trong não bộ sẽ diễn ra trực tiếp - có thể thông qua cấy ghép nơron hoặc qua sử dụng thuốc hay hormone nhằm tạo ra những biến đổi có thể thấy được trong các mối nối neuron.

Chẳng hạn chúng ta xác định rằng một nhóm những người khó đọc gặp khó khăn trong việc phát triển mạng lưới thần kinh trên các khu vực vỏ não kết nối chéo các dấu hiện thính giác với các dấu hiệu thị giác. Từ đó củng cố phần não bộ này. Cách tiếp cận thứ ba là thông qua điều chỉnh gien. Chúng ta có thể khám phá những người bị tật khó đọc có các đột biến gien ở nhiễm sắc thể số 1, 2, 6 và/hoặc 15[1]. Thay vì sử dụng các phương pháp gián tiếp qua hành vi hay tác động vào thần kinh, chúng ta có thể chữa trị những gien bị lỗi – chỉnh sửa hoặc thay thế chúng.

Tôi cảm thấy không thoải mái lắm với những đề xuất thử nghiệm trực tiếp vào não bộ và gien nhằm chỉnh sửa các khiếm khuyết về nhận thức. Tuy vậy tôi khá chắc rằng những công tác nâng cấp thần kinh này - như cách người ta gọi chúng – sẽ được thử nghiệm[2]. Ngoài ra, nếu những can thiệp này chứng minh thành công và không có tác dụng phụ đáng chú ý nào, nhiều người - có lẽ kể cả tôi - sẽ chấp nhận chúng. Dĩ nhiên, không ai biết được sẽ có nguy cơ nào. Nếu chúng ta chấp nhận những can thiệp đó trong việc chữa trị các vấn đề khó đọc, sau này liệu chúng ta có thử tăng IQ hay khả năng thông minh giao tiếp theo cách tương tự? Và, để đưa chúng ta lại gần hơn với chủ đề của cuốn sách này, liệu chúng ta sẽ có nhiều nỗ lực rõ ràng hơn trong việc kiểm soát tư duy hay thay đổi tư duy, nhờ có thêm kiến thức về cách thức hoạt động của não bộ và tư duy? Nhà khoa học thần kinh Martha Farah đã nhắc chúng ta về việc phát triển nhanh chóng của các công cụ: “Cách đây 20 năm, không chắc các nhà khoa học thần kinh có thể đưa ra những chỉ số não bộ về sự thật và dối trá, về trí nhớ chân thực và sai lầm, về xu hướng tội phạm bạo lực tương lai, về cách suy xét đạo đức, ý định hợp tác, hay thậm chí những nội dung cụ thể (hình dung ra những ngôi nhà và các khuôn mặt). Chúng ta sẽ có gì trong 20 hay 50 năm tới?[3]

Trong khi một nhánh học giả có được hiểu biết về trí óc con người thông qua nghiên cứu về não bộ và gien, thì một nhánh khác cũng làm điều này với niềm đam mê không kém qua nghiên cứu về hệ thống thông tin và trí thông minh nhân tạo: “phần nhân tạo”, theo cách tôi gọi.

❀ ❀ ❀

[1] From reading to neurons của Albert Galaburda (Cambridge: MIT Press, 1989); Xem phần của Sally Shaywitz trong The pretenders: Gifted people who have difficulty learning của Barbara Guyers va Sally Shaywitz (Homewood, IL: High Tide Press, 2002).

[2] Xem thảo luận đầy đủ về việc tăng cường thần kinh trong “Emerging ethical issues in neuroscience” của Martha Farah,Nature Neuroscience 5, số 11 (2003), tr. 1123-1129.

[3] Xem thảo luận đầy đủ về việc tăng cường thần kinh trong “Emerging ethical issues in neuroscience” của Martha Farah,Nature Neuroscience 5, số 11 (2003), tr. 1128.

Người dịch: Võ Kiều Linh
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 27 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.