Khảo sát các ví dụ trong cuốn sách này, chúng ta có thể phân biệt hai trục thay đổi tư duy, thể hiện qua 4 hình thức thay đổi khác nhau. Chúng ta hãy lần lượt xem xét từng hình thức.
Một trục thay đổi tư duy mà chúng ta tìm hiểu bao gồm các tác động trực tiếp. Những nhà lãnh đạo chính trị tìm cách thay đổi tư duy thông qua tiếp xúc trực tiếp. Các nghệ sĩ, nhà tư tưởng, nhà phát minh, người xây dụng các chính sách, và những nhà khoa học cũng hăng hái thay đổi các biểu hiện trí tuệ: nghĩa là những thể hiện về một nội dung cụ thể hay về cách thực hiện công việc trong một phạm trù hay lĩnh vực cụ thể. Nhưng họ làm những điều này một cách gián tiếp, thông qua các tác phẩm hay san phẩm mà họ tạo ra bằng nhiều phương tiện hay hệ thống hình tượng khác nhau.
Trục thay đổi tư duy thứ hai liên quan đến thành phần của đối tượng chịu tác động: đồng nhất hoặc đa dạng. Các lãnh đạo chính trị và những người tìm cách tạo ra thay đổi trong chính trị làm việc với lượng dân số đa dạng hay hỗn tạp. Những thông điệp của họ không chuyên biệt cho một loại thành phần hay tri thức nào. Đúng vậy, các thông điệp tác động hiệu quả nhất đến đối tượng đa dạng khi chúng hướng đến “những người không qua trường lớp nào”. Ngược lại, có thể (hay có lẽ dễ dàng hơn khi) làm việc với những nhóm có đặc điểm chung: các thành viên của cùng một tổ chức hay tôn giáo, có cùng chuyên môn trong một lĩnh vực nào đó, hoặc đã đạt trình độ cao ở một số kỹ năng hay tay nghề. Ở trường hợp sau, “những người thay đổi tư duy” nhắm đến các đối tượng tương đối đồng nhất, hay ít nhất cũng tương đồng về cùng một vấn đề hay sở thích có liên quan. Trong trường hợp này, cần xác định những biểu hiện trí tuệ quan trọng chung của các đối tượng và bắt đầu nỗ lực tác động đến chúng.
Như vậy, 2 trục tạo ra 4 loại hình: trực tiếp và hỗn tạp (xem chương 4); trực tiếp và tương đối đồng nhất (xem chương 5); gián tiếp và đồng nhất (những nhà khoa học và nghệ sĩ sáng tạo, được mô tả trong chương này); gián tiếp và đa dạng (tác động đến công chúng qua những chương trình của Jay Winsten).
Tuy nhiên, chúng ta không cần phải phân biệt rõ ràng các thái cực đối lập giữa 4 loại hình thay đổi này. Nhiều nhà lãnh đạo thành công đã kết hợp sức mạnh của tác động trực tiếp và gián tiếp. Ví dụ như Winston Churchill và Charles de Gaulle, họ không chỉ là những bậc thầy phát ngôn, mà còn là những tác giả xuất sắc, thể hiện tư tưởng của mình qua sách báo. Tương tự, nhiều phạm trù sẽ có cả thành phần đa dạng lẫn đồng nhất. Và bản thân phạm trù cũng thay đổi qua thời gian. Khi mới xuất hiện, tivi và điện ảnh nhắm đến các dối tượng ưu tú và tương đối đồng nhất; dần dần, khi truyền thông trở nên phổ biến rộng rãi hơn và có khán giả trên toàn thế giới, tất yếu thành phần khán già trở nên đa dạng hơn. Khi muốn nhắm đến tầng lớp bình dân, chắc chắn câu chuyện phải đơn giản hơn. Nhận xét về bộ phim kinh điển những năm 1950 On the Waterfront, đạo diễn Barry Levinson nói: “Chúng tôi đã chuyển từ cách kể chuyện tinh tế này sang hình thức câu chuyện chỉ là ai đó có súng và sắp sửa giết người. Nếu làm loại phim này ngày nay, chúng tôi sẽ cảm thấy bị buộc phải đẩy nó lên, phải thực sự khai thác khía cạnh bạo lực của câu chuyện”[1].
Trong các phần viết về sáng tạo, tôi cảm thấy nên phân biệt giữa sáng tạo C (Creators) lớn và sáng tạo c nhỏ. Những sáng tạo của Einstein, Picasso, và Freud trên thế giới là sáng tạo C lớn: Họ đã tạo ra (hay ít nhất tìm cách tạo ra) những thay đổi lớn lao trong phạm trù công việc của họ. Họ muốn cuối cùng có thể tác động đến niềm tin và cách làm việc trong phạm trù đó; việc đối tượng cụ thể nào chịu tác động không quan trọng lắm, chi cần có đủ số lượng người bị tác động và những người đó có đủ sức ảnh hưởng. Darwin không cần phải thuyết phục những người hoài nghi như Louis Agassiz và Tổng giám mục Wilberforce (những người mà Huxley đấu tranh); ông chỉ cần tác động đến đủ các thành viên trong Hội đồng khoa học Hoàng gia, hay quan trọng hơn, là những người kế nhiệm của họ.
Đa số chúng ta không hy vọng sáng tạo được C lớn, mặc dù đồng nghiệp của tôi là Mihaly Csikszentmihaly nói vui rằng ít nhất chúng tôi mong ước sáng tạo “C trung”[2]. Tuy nhiên, phạm vi thay đổi tư duy có thể khác nhau, nhưng không phải vì các nhân tố khác biệt nền tảng. Cả người lãnh đạo hướng đến “Thay đổi tư duy” (lớn) hay người giáo viên, cha mẹ, người chủ của hàng, những người hài lòng với “thay đổi tư duy” (nhỏ) đều có mục đích làm thay đổi các biểu hiện trí tuệ của những người họ phải chịu trách nhiệm. Giới doanh nghiệp chỉ có sự khác biệt về số lượng cá nhân chịu tác động, về mức độ tác động, và về khả năng tồn tại lâu dài và phạm vi của tác động. Tư tưởng tích cực hay tiêu cực cũng có thể sai: “phản ứng hạt nhân” của ngày hôm qua có thể chỉ là chuyện nhỏ ngày hôm nay; nghệ sĩ, nhà khoa học hay nhà tư tưởng không danh tiếng ở thế hệ này có thể tác động đến các thê hệ sau - như họa sĩ Vincent van Gogh hay nhà sinh học về gien thục vật Gregor Mendel. Mục tiêu then chốt của chúng ta là phải nhận thức rằng bất kể tác động thay đổi tư duy sau này sẽ ra sao, thì quan trọng là nó có ý nghĩa sâu sắc đối với những người chịu tác động vào thời điểm đó - vì, như nhà kinh tế học John Maynard Keynes đã nói vui rằng “Rốt cuộc thì chung ta ai cũng chết”.
Với suy nghĩ đó, bây giờ chúng ta sẽ chuyển sang xem xét cách thay đổi tư duy bằng các phương tiện chính quy và trục tiếp hơn: trong trường học và những cơ chế giáo dục khác.
❀ ❀ ❀
[1] “Watching movies with Barry Levinson: Telling complex stories sim-ply” của Richard Lyman, Neiv York Times,26/4/2002, E01.
[2] Changing the world của David Feldman, Mihaly Csikszentmihaly, và Howard Gardner (Greenvvood, CT: Praeger, 1994).