Thay Đổi Tư Duy

Lượt đọc: 157 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
THAY ĐỔI TƯ DUY TRONG LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU

❊ ❊ ❊

Như vậy đến đây chúng ta đã thấy sự thay đổi tư duy trong lĩnh vực chính trị thể hiện sự phân tích đặc trưng về các vấn đề thế giới. Sự sụp đổ nhanh chóng của chủ nghĩa cộng sản, chẳng hạn, đã khiến rất nhiều người đặt dấu hỏi về khả năng tồn tại của loại hình nhà nước này. Chúng ta cũng đã biết đến những thay đổi tư duy trong tôn giáo thể hiện đời sống tình cảm của con người trong mối liên hệ với Thượng đế và, nói theo cách của nhà thần học Paul Tillich, với “những mối quan tâm tối thượng”[1]. Sự xui khiến của con tìm đã thuyết phục một phần trở lại với đức tin của mình, phần khác thì chuyển sang một đức tin mới, một phần ba còn lại trở thành những người theo thuyết bất khả tri hoặc thuyết vô thần.

Tuy nhiên, đối với thay đổi tư duy trong lĩnh vực nghiên cứu, một nhóm các đối tượng khác sẽ tham gia. Các học giả nắm vai trò phát triển những hệ thống tư tưởng giải thích về thế giới: các nhà khoa học tìm cách giải thích về thế giới vật lý và sinh học; những nhà nhân văn học cố gắng giải thích về thế giới của các trải nghiệm con người; các triết gia đưa ra những giải thích, hay ít nhất những suy ngẫm về các câu hỏi nan giải của cuộc đời, về cái chết, và bản chất của thực tiễn và trải nghiệm.

Không giống các lĩnh vực khác thào luận ở chương này, trong đó thay đổi tư duy là điều bất ngờ và thường chỉ đạt được sau các cuộc đấu tranh tư tưởng lớn lao, các học giả luôn đón nhận những ý tưởng mới và mong đợi sẽ thay đổi tư duy, (Đúng vậy, như chúng ta đã biết trong chương 6, công việc của những người nghệ sĩ, nhà khoa học, học giả, và những người lành đạo “gián tiếp” khác thay đổi tư duy của người khác). Các bằng chứng mới đạt được sẽ thay đổi niềm tin. Theo những thí nghiệm của Albert Michelson và Edward Morley cùng với khuôn khổ lý thuyết của Albert Einstein, các nhà vật lý học không còn tin vào sự tồn tại của ête ánh sáng. Triết gia người Đức Immanuel Kant, khi đọc tư triết gia người Scotland David Hume về bản chất cách giải thích nguyên nhân, đã “thức tỉnh” khỏi “giấc mộng giáo điều”. Những xu hướng không dự đoán trước trong thị trường thế giới thách thức các mô hình của các nhà kinh tế và thúc đầy họ thay đổi những tiêu chí đánh giá thị trường. Nhưng đồng thời, các học già - dựa vào quá khứ và sống phần lớn trong tư duy của họ - rất xem trọng tính nhất quán và liên tục. Như trong trường hợp chính trị Mỹ đương đại, người ta cho rằng việc tuyên bố đã thay đổi tư duy lớn là dấu hiệu của yếu kém về học thức. Và như chúng ta đã biết đối với giới trí thức (không nhất thiết là các học giả, và ngược lại), nhiều người không muốn công khai sự thay đổi quan điểm của mình - bằng chứng là hai ví dụ sau đây.

Sigmund Freud trong một lần giảng đã thể hiện quan điểm về một vấn đề. Sau bài giảng, một cậu sinh viên đến gần và rụt rè chỉ ra rằng ông đã mâu thuẫn với những gì ông viết vài năm trước. Quá đỗi nghi ngờ, Freud đòi có bằng chúng. Cậu sinh viên đả tìm ra văn bản đó và chỉ cho ông. Freud đọc qua văn bản, nhìn thẳng vào cậu sinh viên, và trả lời một cách gắt gỏng “cái đó đúng vào lúc đó”. Nhà ngôn ngữ học Noam Chomsky nổi tiếng về việc luôn sửa đổi các lý thuyết về ngôn ngữ học cứ mỗi 5 đến 10 năm, và vì thế làm xáo trộn giới sinh viên, những người truyền bá lý thuyết trước với suy nghĩ đó là những lời cuối của người thầy. Tuy vậy Chomsky lại nhấn mạnh - và tôi nghĩ ông tin chắc - rằng có sự liên tục sâu sắc trong lý thuyết của ông và rằng những thay đổi chỉ thể hiện tính chất bề mặt của cùng một cơ sở khoa học ông theo đuổi bền bỉ trong nửa thế kỳ qua.

Vì vậy sẽ rất thú vị khi một học giả có sự chuyển biến quan điểm lớn và công nhận điều đó. Một trong những trường hợp chấn động nhất của hiện tượng này là sự thay đổi trong cách viết của triết gia người Áo - Anh Ludwig Wittgenstein. Tác phẩm lớn Wittgenstein viết trong những năm còn trẻ là Tractatus Logico-Philosophicus. Trong tác phẩm này, Wittgenstein đã trình bày một quan điểm mộc mạc về bản chất của tri thức: Tri thức được dựa trên niềm tin vào sự việc, được mô tả chính xác bằng ngôn ngữ và logic; những gì người ta không thể phát biểu thì họ phải im lặng. Có một mới liên hệ rõ rằng giữa các vật thể trên thế giới, giữa các tữ trong ngôn ngữ, và giữa những suy nghĩ trong tư duy con người.

Nhưng trong những năm sau đó, Wittgenstein đã tư bỏ cách suy nghĩ này. Thay vào đó ông xem ngôn ngữ là tập hợp các thực hành được thể hiện trong một cộng đồng. Thay vì xem khoa học, toán học, và logic là những nền tảng vững chắc của tri thức, Wittgenstein tin rằng các vấn đề của cuộc đời đều phải dựa vào việc sử dụng ngôn ngữ; nếu biết cách sử dụng ngôn ngữ sắc bén, chúng ta sẽ có thể loại bỏ (chứ không phải giải quyết) những khó khăn về triết học. Sự khác biệt quá chấn động đến nổi Wittgenstein Trước (người ta gọi ông như vậy) có những người ủng hộ khác với Wittgenstein Sau. Nhóm theo Wittgenstein Trước vẫn tiếp tục tập trung xem ngôn ngữ là một bức tranh thể hiện thế giới; nhóm theo Wittgenstein Sau lại nghĩ ngôn ngữ sáng tạo ra thế giới nhận thức mà chúng ta cũng là thành phần trong đó.

Điều thú vị là mặc dù việc thay đổi suy nghĩ của Wittgenstein đã quá rõ rằng với mọi người (kể cả ông), ông không nói nhiều về điều đó. Ông chỉ hạn chế trong những câu nhận xét ngắn gọn thế này: “Cách đây 4 năm, tôi có dịp đọc lại cuốn sách đầu tiên của tôi và giải thích các ý tưởng đó cho một người. Chợt tôi cảm thấy nên xuất bản các suy nghĩ cũ đó cùng với những cái mới; đề từ đó những ý tưởng mới có thể được hiểu đúng đắn khi chứng tỏ trái ngược và chống lại nền tảng suy nghĩ cũ của tôi. Kể từ khi dành hết thời gian cho triết học, cách đây 16 năm (nghĩa là năm 1929), đến nay tôi bị buộc phải nhận ra những sai lầm nghiệm trọng trong các vấn đề tôi đã viết ở cuốn sách đầu tiên”[2].

Xét trên 7 nhân tố R của chúng tôi, sự thay đổi tư duy của Wittgenstein xuất phát tư lý lẽ (reason) - là sự phân tích logic về tác phẩm của chính ông trước đây - nhưng không có nhiều lý do giải thích sự xuất hiện của thay đổi này. Quả vậy, hiếm khi có sự tuyên bố về thay đổi tư duy, việc một học giả công khai về sự thay đổi tư duy và lý do thúc đẩy việc này lại càng hiếm hơn[3]. Những triết gia kiêm nhà nhân loại học người Pháp Lucien Lévy-Bruhl đã làm như vậy, sau khi ông có sự thay đổi tư duy đạt được tư một nhân tố khác trong 7 đòn bầy của chúng tôi: nghiên cứu (research).

Lévy-Bruhl trở nên nổi tiếng với hàng loạt các cuốn sách trong những năm đầu thế kỷ trước[4]. Trong những bài viết có sức ảnh hưởng lớn này, ông giải thích sự khác biệt nổi bật giữa tư duy con người nguyên thủy và con người hiện đại tiến bộ. Lévy-Bruhl trước (như tôi gọi ông) cho rằng những người nguyên thủy không thể suy nghĩ logic và họ cho thấy một hiện tượng lạ gọi là “gia nhập” trong đó một vật thể có thể là một phản của vật thể khác - chẳng hạn, một con vat có thể vừa là chính nó vừa là một phần của tinh thần con người. Lévy-Bruhl đã bị phê phán thẳng thắn khi đưa ra tuyên bố quả quyết như vậy, đặc biệt là từ những nhà nhân chủng học cho rằng ông chưa bao giờ gặp những người được gọi là nguyên thủy và ông đã đọc sai các dữ liệu làm cơ sở cho các giải thích của ông.

Đối mặt với những lời phê bình gay gắt đó, đa số các học già sẽ hành động theo một trong những cách sau: chuyển hoàn toàn sang chủ đề mới, bảo vệ một cách ngoan cường vũ khí của họ, hoặc đưa ra những thay đổi tinh vi trong luận điểm mà không công khai thừa nhận giá trị của những lời chỉ trích. Với danh tiếng của mình, Lévy-Bruhl đã không đi theo các cách thông thường này. Thay vào đó, trong những bài viết tiếp theo, ông thảo luận cởi mở về các vấn đề ông đã đi quá xa và đã hiểu sai dữ liệu; ông thực sự thừa nhận mình đã học hỏi từ các nhà phê bình và có lập trường với một sắc thái khác hẳn. Đáng chú ý hơn, trong các ghi chép của ông vào những năm cuối đời, ông đã thảo luận công khai những nghi ngờ, những thay đổi tư duy và những sai lầm trong giải thích và lập luận của chính mình[5]. Hãy xem 4 ý kiến “rút lui” của ông:

• Thay vì giả định về những “thói quen tư duy” này của người nguyên thúy, thực ra sẽ là tiến bộ hơn nếu chúng ta bỏ qua ý tưởng này, ít nhất là tạm thời, để xem xét các dữ kiện[6].

• Tôi từ bỏ ý tưởng về hiện tượng gia nhập. Tôi biết nhiều hơn và tôi phân tích tốt hơn nhiều so với 30 năm trước[7].

• Tôi sẽ không còn nêu ý kiến bản thân theo chiều huống này. Trên hết, tôi sẽ không còn đặt, nói chung, một mức độ ngang nhau cho hai đặc tính nền tảng của trí lực nguyên thủy, ngớ ngần và bí ẩn. Bây giờ có vẻ là chỉ có một đặc tính nền tảng duy nhất[8].

• Nói ngắn gọn, bước đi mà tôi vừa có, và hy vọng là chính xác, là từ bỏ việc đưa ra một vấn đề một cách không chính xác dẫn đến những khó khăn bế tắc và tôi sẽ xem xét vấn đề chỉ dựa trên các dữ kiện mà thôi[9].

Rõ ràng, Lévy-Bruhl đã ngay thẳng hơn rất nhiều học già trong việc nói về những thay đổi tư duy của bản thân và cơ sở của thay đổi dựa trên lý luận và nghiên cứu. Và cũng đáng ghi nhận rằng những thảo luận này không xuất hiện trong các ấn phẩm cuối cùng trước khi chết của ông mà trong những ghi chép chỉ được xuất bản vài năm sau khi ông mất. Với các ấn phẩm, không thể biết được ông có thực sự ngay thẳng với thế giới cũng như với bản thân hay không.

Trong các chương trước tôi đã nói về sự thay đổi của các chuẩn mực đối khi xảy ra trong khoa học. hầu hết các học già đều được sinh ra và chết đi trong cùng một thời chuẩn mực. chỉ có một số ít, như Darwin và Enstein, là tạo ra các chuẩn mực mới được những người trẻ hơn trong cùng lĩnh vực chấp nhận, dù có thể nhanh hay chậm. Trường hợp một người phát triển một kiếu mẫu và sau đó từ bỏ nó vì cái khác thì vô cùng ít. Wittgenstein và Lévy-Bruhl là các ví dụ cho trường hợp này. Như đã nói trong trường hợp của Whittaker Chambers, có hai điểm thay đổi cùng diễn ra: một là sự thay đổi trong tư duy của bản thân người đó, và điểm kia là sự sẵn sàng tuyên bố công khai về thay đổi đó và chấp nhận mọi hậu quả.

❀ ❀ ❀

[1] The essential Tillich của Paul Tillich, ấn bản của F. Forrester (Chicago: University of Chicago Press, 1999).

[2] Philosophical investigations của Ludwig Wittgenstein (New York: Macmillan 1953), tr. X.

[3] Một ví dụ gần đây, Giáo sư Mark Taylor đã phản đối thuyết Deconstruction, một học thuyết mà ông đã ủng hộ trong 20 năm qua. “Chuyện một giáo sư đưa ra lời tạ lỗi cùng các sinh viên vì đã dẫn dắt họ đi lạc lối trong học vấn là chuyện không xảy ra hàng ngày”, trích trong “The examined life” của Joshua Glenn, Boston Globe, tháng 9/2003.

[4] How natives think của Lucien Lévy-Bruhl (London: George Allen and Unwin, 1910/1926); Primitive mentality cùng tác giả (London: George Allen and Unwin, 1923).

[5] The notebooks on primitive mentality của Lucien Lévy-Bruhl (New York: Harper and Row, 1945,1979).

[6] Như trên, tr. 30.

[7] The notebooks on primitive mentality của Lucien Lévy-Bruhl (New York: Harper and Row, 1945/1979), tr. 60.

[8] Như trên, tr. 37.

[9] Như trên, tr. 90.

Người dịch: Võ Kiều Linh
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 27 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.