Thay Đổi Tư Duy

Lượt đọc: 157 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
LÃNH ĐẠO LIÊN QUỐC GIA

❊ ❊ ❊

Mặc dù nói chung chỉ có một vài vị trí lãnh đạo các tổ chức vượt tầm quốc gia những vẫn đáng khai thác về vấn đề này để hiểu hơn về cách thay đổi tư duy. Một số trường hợp, vị trí lãnh đạo liên quốc gia có một lượng cử tri xác định; như Tổng thu ký Liên hợp quốc, hay người đứng đầu Tổ chức Y tế thế giới chẳng hạn. Lãnh đạo Nhà thờ thiên chúa giáo hay tổ chức tôn giáo khác có thể có sức ảnh hưởng vượt ra ngoài biên giới quốc gia. Quả vậy, Giáo hoàng John Paul II nổi lên giữa các vị giáo hoàng gần đây vì ông có sức ảnh hưởng không chỉ với các thành viên trong giới nhà thờ rộng lớn, mà còn với cả giới ngoại đạo trong một số vấn đề. Vượt xa hơn những người tiền nhiệm, ngoại trừ John XXIII, John Paul II có thể vừa xây dựng các câu chuyện về chính trị và các giá trị cá nhân cũng như vừa thể hiện chúng qua cuộc đời đầy ấn tượng của mình. Giáo hoàng John XXIII, nắm quyền vào những năm 1960, đã tuyên bố mình chỉ là một mục sư bình thường, kêu gọi giải phóng nhà thờ và phân hóa quyền lực. 2 thập kỷ sau, John Paul II phản đối điều này bằng cách chủ trương quay lại các giá trị bảo thủ truyền thống của nhà thờ và kiểm soát quyền lực trục tiếp từ Vatican. Nhưng bên cạnh đó, John Paul II cũng là một Giáo hoàng đi bôn ba và mang tính chất quốc tế nhiều nhất. Ông có mối quan hệ đặc biệt với giới trẻ ở nhiều vùng miền khác nhau, và được xem là người có vai trò không thế thiếu trong sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản ở Đông Âu.

Đôi khi cũng có người không có quân đội hùng mạnh, cũng không có giáo đoàn to lớn nhưng vẫn thành công trong việc tạo sức ảnh hưởng vượt ngoài biên giới quốc gia. Tương tự các nhà lãnh đạo quốc gia thành công mà chúng ta đã nhắc đến, những người này thành công vì câu chuyện của họ có tính thuyết phục và được củng cố khi họ thể hiện bản thân trong câu chuyện đó. Thế kỷ XX có 3 trường hợp điển hình cho dạng này là: Mohandas (Mahatma) Gandhi, Nelson Mandela, và Jean Monnet[1].

Có lẽ người nổi tiếng nhất là Gandhi. Lớn lên từ một vùng dân dã thuộc địa Ấn Độ cuối thế kỷ XIX, Gandhi trải qua thời trai trẻ ở Anh và sau đó sống ở Nam Phi 20 năm. Tại đây ông kinh sợ trước sự ngược đãi của bọn thực dân châu Âu đối với người Ấn Độ và những người “da màu” khác; ông đọc rất nhiều về triết học và tôn giáo; và ông đã tham gia vào nhiều cuộc chống đối khác nhau. Trở về quê hương Ấn Độ khi Thế chiến thứ I bắt đầu, Gandhi hoàn thiện những phương pháp đấu tranh thụ động - nghĩa là chống đối (hay phản kháng) một cách hòa bình (không bạo lực). Cùng với những đồng bào tâm huyết, Gandhi đã lãnh đạo nhiều cuộc diễu hành đình công và chống đối, với mục đích nhằm xóa bỏ sự phân biệt giữa các ông chủ người Anh tàn ác - những kẻ tìm cách nắm quyền bằng mọi giá - với những người Ấn Độ hiền lành. Các cuộc chống đối này được thiết lập đế nhấn mạnh sự cao quý của chính nghĩa quốc gia và sự đúng đắn của cuộc đấu tranh thể hiện những mong muốn của người Ấn Độ. Thông điệp tuyên bố của Gandhi là: “Chúng tôi không muốn chiến tranh hay đổ máu. Chúng tôi chỉ muốn được đối xử như đồng loại. Một khi đạt được sự bình đẳng, chúng tôi không còn đòi hỏi gì nữa”.

Thông điệp của Gandhi không thể đơn giản hơn, khiến chúng ta liên tưởng đến Chúa và những nhà lãnh đạo tôn giáo khác. Nhưng nó mâu thuẫn với một câu chuyện đối lập đã ăn sâu: đó là phải chiến đấu với thế lực thực dân để có sự bình đẳng - như nước Mỹ cuối thế kỷ XVIII, hay Nam Phi đầu thế kỷ XIX. Ngoài ra, Gandhi không chỉ dùng ngôn ngữ để thể hiện thông điệp; ông còn xây dựng các buổi kết hợp cầu nguyện, tuyệt thực, và đối mặt với thế lực thù địch mà không dùng đến vũ khí, thậm chí sẵn sàng làm những điều đó đến chết. Hiện thân của ông trong thông điệp không thể nào xúc động hơn; tác động của nó còn vượt xa lời nói, gồm rất nhiều những hình ảnh liên tưởng, ví dụ hình ảnh ông ngồi xuống đất để quay tơ dệt vải.

Câu chuyện của Gandhi có sức vang dội khắp thế giới. Dù có gây khó chịu cho một số người (Churchill đã từng gièm pha ông là “kẻ tu hành cõi trần”), những nó đã truyền cảm hứng cho nhiều nhà lãnh đạo cũng như người dân – từ Martin Luther King Jr. ở Nam Mỹ đầu những năm 1960, cho đến sinh viên, những người tụ tập tại Quảng trường Thiên An Môn ở Bắc Kinh để đòi dân chủ năm 1989.

Tuong tự Gandhi, Nelson Mandela cũng là hiện thân của một thông điệp có sức cộng hưởng vượt ra ngoài biên giới đất nước Nam Phi. Quả vậy, trong số các nhà lãnh đạo gần đây, Mandela được nhiều người xem là người ấn tượng và có sức ảnh hưởng nhất. Được đào tạo là một luật sư, Mandela tích cực tham gia chống nạn phân biệt chủng tộc khi gia nhập Đại hội dân tộc châu Phi ANC (Atrican National Congress). Lúc đầu ông chủ trương chống đối phi bạo lực, nhưng sau hàng loạt những vụ đụng độ không có kết quả, ông đã tham gia vào một nhóm bán vũ trang. Suýt chết vì chiến đấu cũng như vì sự kết án của tòa, Mandela bị bỏ tù 27 năm. Mặc dù bị tù đày có thể làm thoái chí, kích động hay cô lập những người khác - đặc biệt là khi điều này diễn ra ỏ độ tuổi trung niên, thời gian đỉnh cao của một cá nhân - thì đối với Mandela, điều đó chỉ làm ông kiên cường hơn. Sau khi được tha, ông từ chối mọi vấn đề liên quan đến xung đột vũ trang; thay vào đó, ông cùng với đối thủ chính trị là F.W. de Klerk đã thiết lập nên những thế chế dân chủ, và vào năm 1994 ông thắng cử chức Tổng thống Nam Phi[2].

Thay vì tìm cách trả thù các đối thủ từng là cai ngục của mình, Mandela kêu gọi hòa giải, ông tin tưởng - và có thể thuyết phục người khác - rằng Nam Phi không thể trở thành một xã hội nếu không bỏ lịch sử đau thương lại đằng sau. Duới sự lãnh đạo của Tổng Giám mục đoạt giải Nobel hòa bình Desmond Tutu, Mandela đã triệu tập được Ủy ban sự thật và hòa giải. Mang ý tưởng giống Gandhi, mục tiêu của ủy ban này là tìm cách xác minh sự thật diễn ra trong những năm chủ nghĩa Apartheid nhưng không đưa ra mức phán xét cao nhất. Với sự thật đã được xác minh ở mức có thể, các công dân dù tin tưởng ở mức độ khác nhau nhưng đã có thể chấp nhận quá khứ và dồn sức lực tương lai để xây dựng một xã hội mới mang tính đại diện đầy đủ hơn. Là bậc thầy diễn đạt ngôn ngữ cũng như phi ngôn ngữ, Mandela yêu cầu người từng là cai ngục của ông ngồi ngay hàng ghế đầu trong buổi tuyên thệ nhậm chức Tổng thống của mình.

Mandela đã thành công trong việc thay đổi tư duy không chỉ của hàng triệu người dân với nhiều tư tưởng khác nhau mà còn của hàng triệu người quan sát trên khắp thế giới - trong đó rất ít người dự đoán rằng Nam Phi lại có thể trở thành một quốc gia mới mà không phải trải qua hàng chục năm đổ máu. Những ý tưởng như Ủy ban sự thật và hòa giải đã vượt lên trên tầm vóc một quốc gia. Thành công của Mandela có được là nhờ hành vi gương mẫu của ông sau khi ra tù và việc lãnh đạo Nam Phi bảo thủ sẵn sàng đàm phán với ông. Cả 2 ví dụ đều thể hiện khả năng tạo sức cộng hưởng của Mandela bên cạnh những điều khác.

Nhân vật có tầm quan trọng toàn cầu thứ 3 chủ yếu hoạt động ở lĩnh vực hậu trường, đó là nhà ngoại giao và kinh tế học người Pháp Jean Monnet, sinh năm 1888. Khi cuộc sống yên bình của Monnet bị Thế chiến thứ I đảo lộn, là một nhà nghiên cứu lịch sử thận trọng và có suy nghĩ, ông suy ngẫm tại sao các quốc gia châu Âu lại tiếp tục chiến tranh sau khi đình chiến kể từ thời Đại đế Charlemagne hơn 1000 năm trước. Ông bắt tay vào việc tạo nên những tổ chức có thể hợp nhất châu Âu. Sau nỗi đau Thế chiến thứ I, Liên minh các quốc gia sụp đổ, chủ nghĩa Phát-xít lớn mạnh, cùng với cuộc Thế chiến thứ II chưa từng có, người nông cạn sẽ nghĩ rằng nỗ lực xây dựng cộng đồng các nuớc châu Âu quá là phù phiếm. Tuy vậy, Monnet là người có niềm tin vững chắc vào phương châm quen thuộc của ông: “Với tôi, mỗi thất bại (hay mỗi thử thách) là một cơ hội”[3]. Giữa những tổn thất về vật chất lẫn tinh thần của một châu Âu bị chiến tranh xé nát, Monnet đã nhìn thấy và tiến đến gieo mầm cho một chính thể châu Âu lớn hơn.

Cũng giống Gandhi và Mandela, Monnet theo đuổi sứ mệnh của mình suốt nửa thế kỷ và chỉ đạt được tác động mạnh nhất khi đã bước sang tuổi 70. Suốt thời kỳ hậu Thế chiến thứ II, ông đóng vai trò xúc tác trong việc thiết lập một số thể chế, bao gồm Cộng đồng than và thép châu Âu, Ủy ban hành động của Liên bang châu Àu, và thị trường chung châu Âu. Ông phản đối hầu như mọi đường lối, nhất là của Tuớng Charles de Gaulle, người ủng hộ quyền tự trị Pháp, và của những nhà dân tộc học thuộc phe phái Thatcher. Có thể de Gaulle đã thắng thế trong cuộc bầu cử ở Pháp những năm 1960, nhưng tầm nhìn của Monnet cuối cùng đã chiến thắng trên toàn lục địa. Sau khi Monnet mất năm 1979, Liên minh châu Âu đã được thành lập, đồng euro được sử dụng ở 12 quốc gia, và kể từ bài viết này, Liên bang châu Âu càng tiến gần tới hiện thực hơn bất cứ lúc nào kể từ thời Napoleon.

Không giống tổng thống, giáo hoàng, hay người đứng đầu tổ chức quốc tế như Liên hợp quốc, Gandhi, Mandela và Monnet đều không có một lượng khán giả xác định chắc chắn. Họ phải tạo ra những cử tri cho mình từ vô số đối tượng khác nhau mà không có sự đút lót tài chính hay vũ khí chính trị cưỡng chế. Họ phải xác định và đàm phán với bên đối lập đang nắm giữ quyền lực: như các nhà lãnh đạo Nam Phi và thuộc địa Ấn Độ trong trường hợp của Gandhi; hay những người bảo vệ cho chủ nghĩa apartheid trong trường hợp của Mandela; hay những quyền lợi quốc gia cố hữu trước đây của châu Âu trong trường hợp của Monnet. Đồng thời, họ phải xác định và thuyết phục cả lượng cử tri bên ngoài. Gandhi và Mandela đã không thể lãnh đạo các cuộc đấu tranh dành độc lập nếu không có “đội quân” thường dân ủng hộ, những người sẵn sàng chết vì chính nghĩa phi bạo lực. Và dù hoạt động sau hậu trường sân khấu, theo cách mà tôi gọi là lãnh đạo “gián tiếp” (xem chương 6), nhưng tầm nhìn của Monnet về châu Âu cuối cùng đã chiến thắng trong cuộc bỏ phiếu. Tuy vậy, chiến thắng này vẫn chưa được chấp nhận ở Thụy Sĩ và Na Uy, những quốc gia vẫn tồn tại bên ngoài Liên minh (một cách đáng ngạc nhiên).

Khi nhắm đến các đổi tượng không đồng nhất, những nhà lãnh đạo có 2 loại vũ khí là thuyết phục và thể hiện bản thân. Họ phải kể lặp đi lặp lại các câu chuyện một cách thuyết phục, hiện thân câu chuyện qua những hành động đúng mực trong cuộc sống và qua các hình ảnh có tính chất khơi gợi. Họ phải xác định, hiểu rõ và cuối cùng là làm lung lay các câu chuyện đối lập phổ biến. Và đáy chính là chỗ họ thể hiện tài năng.

Quả là rất khó huy động một lượng khán giả đa dạng, giải pháp đã được kiểm chứng là xây dựng và phát biểu trôi chảy một câu chuyện đơn giản rõ ràng. Đúng thế, bài học cay đắng nửa đầu thế kỷ XX là các câu chuyện đơn giản và khủng khiếp nhất lại thường chiến thắng, như: Mục tiêu của chính trị là đạt được quyền lực và sử dụng nó để thỏa mãn mục đích cá nhân; Lẽ phải thuộc về kẻ mạnh; Nhà nước có toàn quyền - chúng ta phải tuân thủ hoặc sẽ bị tiêu diệt. Các câu chuyện đơn giản này đã mang lại chiến thắng cho những loại “chủ nghĩa” đáng sợ: như chủ nghĩa phát xít, Đức quốc xã... Thậm chí còn có thể nói rằng những chính sách đáng căm thù của Hitler, Mussolini, Tojo, đã thuyết phục được đa số những người đồng bào của họ; vai trò nổi tiếng của họ chỉ phai mờ đi khi quân đội thất bại hay nạn đói đe dọa. Có vẻ là ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, những “chủ nghĩa” này còn hấp dẫn hơn chế độ dân chủ. Churchill mô tả điều khó hiểu này trong câu nói nổi tiếng của ông: “Dân chủ là hình thức cai trị tồi tệ nhất, ngoại trừ tất cả các hình thức chỉ thỉnh thoảng được thử nghiệm khác”[4].

Tuy nhiên, Gandhi, Mandela, và Monnet đã không chọn con đường dễ dàng. Họ không đơn giản chỉ kể một câu chuyện quen thuộc theo cách hiệu quả hơn mà họ chọn một nhiệm vụ khó khăn hơn nhiều: đó là xây dựng một câu chuyện mới, kể câu chuyện đó một cách thuyết phục, thể hiện nó trong chính cuộc sống của bản thân, và giúp những người khác hiểu lý do tại sao câu chuyện đó xứng đáng chiến thắng câu chuyện đối lập đơn giản hơn. Thêm vào đó, họ còn sử dụng các yếu tố đòn bẩy thay đổi tư duy một cách liên tục và sáng tạo: lý luận, hình thức trình bày đa dạng, và sự cộng hưởng trải nghiệm chung với những người họ muốn ảnh hưởng. Đồng thời, họ cố gắng xoa dịu những lực lượng chống đối mà họ phải đối mặt; lợi dụng những sự kiện xảy ra trên thế giới; và điều phối tất cả các nguồn lực họ có theo ý muốn. Với riêng tôi, 3 người này là những nhà lãnh đạo anh hùng. Họ đã chọn một câu chuyện phức tạp hơn, ít quen thuộc hơn, một câu chuyện mang tính “bao quát” hơn, và họ đã thành công trong việc thổi sức sống câu chuyện vào các thể chế vẫn tồn tại sau khi họ đã rút ra khỏi ánh đèn sân khấu.

❀ ❀ ❀

[1] Xem những chân dung đầy đủ hơn ở nội dung và phần tham khảo cuốn Leading minds của Howard Gardner, 1995.

[2] Long walk to freedom của Nelson Mandela (Boston: Little, Brown, 1994).

[3] Jean Monnet: The first statesman of interdependence của François Duchêne (New York: Norton, 1994), tr. 23.

[4] Trích trong Hansard, 13/5/1940.

Người dịch: Võ Kiều Linh
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 27 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.