Có người thích thú hoặc thờ ơ với các đổi mới, và cũng có người chống lại chúng. Thường thì sự phản đối bị xem là tiêu cục - một trong các yếu tố chủ chốt cản trở thay đổi tư duy -nhưng nó cũng có thể đóng một vai trò tích cực hơn: việc đấu tranh với tư tưởng ban đầu ta chống đối nhằm chứng minh chúng sai hoặc không thích hợp cũng mang lại ích lợi. Quá trình này có thể giúp chúng ta nâng cao tầm nhận thức, hiểu sự việc sâu hơn, và dần dần đến sự thay đổi về tư duy.
Ví dụ, tôi không hề thích âm nhạc theo chủ nghĩa tối giản của Steve Reich hay Philip Glass, nghệ thuật “pop” (đại chúng) hay “op” (tạo ảo giác) của những năm 1960, hoặc “tiểu thuyết mới” của những tác giả người Pháp giữa thế kỷ XX. Tuy nhiên, vì không phải là nghệ sĩ hay nhà phê bình, nên tôi cảm thấy không cần thiết phải tuyên bố về việc mình không thích (mà cũng chẳng ai quan tâm đến việc đó!). Nhưng mặt khác, vì là người viết về tư tưởng, tôi có phản ứng tiêu cức mạnh mẽ với nhiều ý tưởng hậu hiện đại khác nhau - đặc biệt là quan điểm nghi vấn về khả năng giải thích các vấn đề, tư tưởng giải thích xã hội về tất cả các kiến thức, và thuyết tương đối về mọi mặt. Sự phản đối của bản thân tôi đối với những ý kiến đó là một ví dụ xác đáng về quá trình thay đổi tư duy một cách gián tiếp.
Cơ bản nổi lên từ những năm 1960 ở Pháp, tư tưởng phi giải thích (hay chủ nghĩa phi giải thích) đặt nghi vấn về khả năng phát triển lý lẽ giải thích mạch lạc cho mọi hiện tượng, hay khả năng giải thích thống nhất ý nghĩa của một văn bản.Theo nhà phê bình giáo dục, triết gia Jacques Derrida, tất cả các văn bản đều mang những mâu thuẫn nhất định, làm giảm tính chính xác của chúng[1]. Những người đọc hay nhà phân tích có thể chỉ ra các mâu thuẫn dó. Chủ nghĩa giải thích xã hội cho rằng tất cả mọi tri thức đều phải được giải thích (điều này thì các nhà nhận thức học không thể có ý kiến gì khác), nhưng nhanh chóng tư tưởng này lại leo thang với lời khẳng định táo bạo hơn rằng bản thân khoa học là chỉ một phát kiến xã hội, một sự đồng thuận nhất thời trên cơ sở xem xét về sức mạnh và quyền lực. Theo quan điểm này, giải thích khoa học không mang tính ưu việt hơn các hình thức giải thích khác trên cơ sở khách quan. Chúng đơn thuần chỉ là những lý lẽ cạnh tranh nhau để được chấp nhận hoặc không, phụ thuộc vào một số yếu tố ngẫu nhiên như tập quán thông thường hay tác động của người tiếp nhận[2]. Đôi khi người ta trích dẫn lời Thomas Kuhn để biện hộ cho quan điểm giải thích xã hội về khoa học, dù tôi tin rằng ông không có ý sử dụng hình thái mà tôi vừa nêu[3]. Chủ nghĩa tương đối là tư tưởng cho rằng tất cả các phân tích đều có giá trị như nhau, hay ít nhất là không có một cơ sở độc lập nào có thể đánh giá những lý thuyết giải thích cạnh tranh nhau. Nói chung, các quan điểm này không chỉ đơn thuần đặt ra câu hỏi liệu có thể đạt đến một chân lý hay không, mà thậm chí còn nghi ngờ về khả năng tồn tại lâu dài của chân lý, của những lời giải thích đáng tin cậy, cũng như nghi ngờ giá trị của mọi lời xác nhận chung nào - dĩ nhiên, ngoại trừ xác nhận rằng không hiện hữu một lời xác nhận chung nào[4].
Ai đó có thể đơn giản chấp nhận các tư tưởng như chủ nghĩa tương đối, phi giải thích, hay chủ nghĩa giải thích xã hội để xây dựng bản ngã; còn cá nhân tôi tin rằng những tư tưởng cực đoan này sẽ tự bác bỏ nhau. (Tại sao phải chú ý đến những người nhất định cho rằng không có ý tưởng hay tác phẩm nào thực sự chân thật hay có giá trị hơn so với cái khác?). Nhưng như tôi đã nói, việc đấu tranh với các tư tưởng chúng ta bất đồng cũng có giá trị của nó. Hơn nũa, thật lòng mà nói ngay cả tôi cũng bị ảnh hưởng khi tiếp xúc với các tư tưởng này. Tôi có xu hướng giảm tuyên bố khẳng định cái gì đúng hay sai. Tôi nhận thức nhiều hơn về tầm quan trọng của lập trường, quyền lực, sức ảnh hưởng, và sự thức thời. Tôi để ý hơn đến những mâu thuẫn tiềm ẩn trong văn bản, (e là) kể cả của tôi. Tôi thậm chí còn có thể chấp nhận ý kiến cho rằng không bao giờ có một chân lý cuối cùng, mặc dù tôi hoàn toàn ủng hộ tư tưởng đấu tranh cho chân lý, cái đẹp, đạo đức, và tiến bộ. Như vậy ở khía cạnh vừa nêu, các tư tưởng trong giáo dục, khoa học, nghệ thuật đều có sức ảnh hưởng cho dù chúng hấp dẫn hay đáng ghét đối với chúng ta.
Chúng tôi đê cập đến quan điểm phi giải thích hay chủ nghĩa tương đối trong phạm trù trí tuệ, hay đề cập đến chủ nghĩa cộng sản hay phát xít trong phạm trù chính trị, nhằm nhắc nhở rằng không phải đổi thay nào cũng được mong muốn như nhau. (Người theo thuyết tương đối thuần túy sẽ có quan điểm đối lập rằng không có sự thay đổi nào được mong muốn hơn cái nào). Một số người, đặc biệt là những người “con út” trong gia đình, sẽ bị mọi ý tưởng mới ảnh hưởng, bất kể đúng sai thế nào; những người khác, cứng rắn và có thế lực nhất, sẽ phản đối các ý tưởng mới, ngay cả khi chúng xứng đáng được chú ý. Trừ những ai theo trào lưu tôn giáo chính thống, chúng ta nên luôn cởi mở để thay đổi tư duy; rất đáng quan tâm đến các tư tưởng ảnh hưởng đến nhiều người, cho dù có khi cá nhân chúng ta cảm thấy chúng chẳng mấy giá trị. Quá trình suy nghĩ của chúng ta được mài giũa khi đấu tranh với các tư tưởng này, và thậm chí có thể cuối cùng chúng ta lại tìm thấy ích lợi của những ý kiến mà chúng ta đã từng phản đối. Trong phạm trù lãnh đạo gián tiếp, việc nhận biết khả năng chống đối có ý nghĩa rất giá trị đối với người sáng tạo cái nhìn mới cũng như đối với người ban đầu phản đối ý kiến lạ lùng và ngoại lai - có lẽ vì nó tác động sâu sắc đến mỗi cá nhân.
Bất kể những phản đối ban đầu, các ý tưởng của những người như Albert Einstein hay Charles Darwin, Carol Gilligan hay Judith Rich Harris, Marcel Proust hay Martha Graham, đều gây ảnh hưởng đến rất nhiều người. Họ trở nên nổi tiếng; ý tưởng của họ được lan truyền, dù công chúng có biết đến danh tính những người sáng tạo hay không. Thậm chí còn có các trường học hay các tổ chức thế hiện tầm nhìn của họ. Chẳng hạn, vấn đề sở hữu Trường Martha Graham là một chủ đề gây tranh cãi ngay cả trước khi bà mất năm 1991, và việc ai là người “nắm” hàng chục tác phẩm của bà (để có thể trình diễn chúng) cũng được tranh luận qua nhiều thập kỷ. Các hiệp hội phân tâm học và các viện đào tạo theo ý tưởng của Freud là những bằng chứng mạnh mẽ khác về tầm ảnh hưởng gây tranh cãi. Ngay từ đầu, các cá nhân sáng tạo này đã tập trung vào một lượng đối tượng giới hạn trong cùng một phạm trù, cùng giới chuyên môn, và cơ bản là đồng nhất. Darwin phải thuyết phục những nhà sinh học, với Freud thì những nhà tâm lý học; Stravinsky phải tìm ban nhạc và vũ đoàn ballet để biểu diễn tác phẩm của ông; Picasso phải có phòng triển lãm để trưng bày các tác phẩm cho người mua. Thế nhưng, lĩnh vực thương mại không chỉ nhắm vào các đối tượng giới hạn đó. Những người sáng chế sản phẩm mới hay phát triển chính sách mới phải tìm cách thu hút được lượng công chúng lớn nhất có thể, để thay đổi suy nghĩ của hàng triệu người. Câu chuyên về Jay Winsten là một ví dụ điển hình cho trường hợp này[5].
❀ ❀ ❀
[1] Of grammatology của Jacques Derrida (Baltimore: Johns Hopkins University Press, 1974).
[2] The golem: What everyone should know about Science của Harry Collins và Trevor Pinch (Cambridge: Cambridge Unversity Press, 1993); "Condem-nation without absolutes” của Stanley Fish, New York Times, 15/10/2001, A19; “There is no such thing as an orientation to understanding: Why nor-mative schemes are good for nothing” của Stanley Fish, văn bản chưa xuất bản, University of Illinois, Chicago Cirlce, 2002; “Don’t blame relativism” của Stanley Fish, The responsive community 12, số 3 (2002): 27-31; Simians, cyborgs, and women: The reinvention of nature của Donna Haraway (New York: Routledge, 1991); Modest-witness, second millennium: Femaleman meets oncomouse; feminism and technoscience của Donna Haravvay (New York: Routledge, 1996); Postmodernism is not what you think của Charles Lemert (Malden, MA: Blackwell, 1997); xem thêm bài phê bình của Allan Sokal và Jean Bricmont, Intellectual imposters (London: Prohle, 1998).
[3] Structure of scientific revolutions của Kuhn.
[4] The postmordern condition của Jean-Francois Lyotard (Minneapolis; University of Minnesota Press, 1979/1984).
[5] Jay Winsten, trao đổi cá nhân, 1999-2002.