Thật ngạc nhiên từ rất sớm trẻ em đã nắm bắt được việc dạy và học[1]. Trẻ 2-3 tuổi đã có thế nhận ra những trường hợp dạy bảo[2]. Chúng yêu cầu được hướng dẫn cách làm việc gì đó, lắng nghe một cách châm chú; khi đã thành thạo, chúng có thể chỉ lại cho những đứa khác; và chúng còn biết điều chỉnh tốc độ và chi tiết giảng dạy cho phù hợp với trình độ chúng giả định cho “học trò” của riêng mình. Trẻ em không chỉ dễ thay đổi tư duy mà chúng còn có thiên hướng thay đổi tư duy của người khác. Vì trẻ có nhiều khả năng khác nhau -từ khả năng học ngôn ngữ cho đến bắt chước giọng điệu - nên rất khó nhận biết cách chúng đạt được khả năng dạy và học nếu không “thúc đẩy” chúng làm điều này. Nếu thử yêu cầu một con chó hay một con mèo truyền đạt kiến thức mới cho đồng loại thì khoa học nhận thức hay chủ nghĩa hành vi cũng chẳng giúp gì được.
Thời tiền sử, đa số việc học hỏi đều diễn ra trong môi trường tự nhiên xung quanh để tồn tại hàng ngày. Bọn trẻ quan sát người lớn săn bắn, hái lượm, may quần áo, dựng chỗ ở, và chuẩn bị thức ăn; chúng dần dần (hoặc nhanh chóng) làm quen với những hoạt động này và có cơ hội tự thực hành khi đã sẵn sàng. Đôi khi, việc trở thành người lớn được đánh dấu bằng một nghi lễ chuyển tiếp. Bọn trẻ cũng được nghe các câu chuyện về nguồn gốc bộ tộc, về chiến thắng cũng như thiên tai, và chúng phải hiểu rõ về những truyền thuyết này để sau này có thể kể lại cho con cháu. Đó là các chế độ giáo dục văn hóa thời xa xưa, và cũng là các chế độ hiện nay của vài nền văn hóa Thời đồ đá hoặc tương tự còn sống sót.
Tuy nhiên, cách đây khoảng 5000 năm, tri thức đã được tích lũy nhiều hơn vì thế hình thức học tập tự phát là không đủ. Ngày càng tăng kiến thức kỷ thuật về xác định phương hướng, sản xuất dụng cụ, chữa bệnh, và thông tin thương mại, tất cả đều cần được nắm bắt thông thạo. Nổi bật nhất là các hình thức trao đổi bằng văn bản bắt đầu được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau, từ lưu trữ thông tin, cho đến truyền bá pháp luật, nhân rộng các thông tin quan trọng về chiến tranh, phả hệ, hay nghi thức.
Chúng tôi không biết chính xác trường học bắt đầu xuất hiện như thế nào trong các nền văn hóa. Nhưng chúng tôi biết, qua thời gian, một số cá nhân nhất định được chọn làm giáo viên hay người hướng dẫn và được trao quyền dạy dỗ những người trẻ; các tài liệu viết và giảng quan trọng trờ thành các “chủ đề” giảng dạy; các tòa nhà, một phần của tòa nhà, hay các địa điểm khác được dành để phục vụ cho việc hướng dẫn học sinh. Các trường học ban đầu chỉ có khóa học một vài năm, hạn chế chỉ dành cho nam sinh, và cơ bản chỉ dạy văn hóa cho các đối tượng chọn lọc: những người sẽ tham gia vào giới tăng lữ, những người sẽ nắm quyền cai trị, hay những người có phương tiện và động cơ để trở thành người có học vấn.
Đi nhanh đến hiện tại. Trên khắp thế giới, giáo dục được xem là một trong những chức năng quan trọng nhất của xã hội. Giáo dục cơ bản phổ quát là mục tiêu ở mọi nơi, và nhiều xã hội phát triển hầu như đã đạt được điều này. Phương tiện và mục tiêu của giáo dục có thể khác nhau giữa các xã hội, nhưng rõ ràng rằng nếu thiếu giáo dục mọi người sẽ không thể hành động thích hợp trong thế giới hiện nay, chưa nói tới thế giới tương lai. Trường học là thành phần nghiên cứu then chốt của tôi vì đây là tổ chức liên quan trực tiếp đến quá trình thay đổi tư duy. Tôi thấy các trường học trong xã hội hiện nay, qua quá trình vất vã đã giúp học sinh đạt được 3 kỹ năng trí tuệ mới: (1) học cách học tập trong môi trường phi tự nhiên; (2) học cách hiểu những hàng chữ trên giấy hay trên màn hình vi tính; (3) và học cách suy nghĩ theo một vài quy chuẩn trọng yếu.
Trẻ em có thể học hỏi từ môi trường tự nhiên. Nhưng loại học tập trong trường không diễn ra tự nhiên như trên cánh đồng, trên thảo nguyên, hay trên đường phố. Ở trường, một nhóm trẻ em tập trung với nhau trong thời gian đã định mỗi ngày; học sinh phải hòa hợp với nhau, phải để ý cử chỉ của người lớn, và phải ngồi im trong một thòi gian tương đối dài để học tài liệu mà việc ứng dụng chúng trong cuộc sống hàng ngày của bọn trẻ có vẻ rất mơ hồ.
Thử thách đầu tiên của các nhà giáo dục là làm cho bọn trẻ quen vơi môi trường xã hội trong trường học. Đây là sự thay đổi tư duy ở mức cơ bản nhất: giúp bọn trẻ chuyển từ học hỏi qua quan sát sang học tập trong môi trường giáo dục chính quy. Buớc khởi đầu này có thể là một thời khác kỳ diệu - ở các trường Do Thái truyền thống, chẳng hạn, những học sinh nhỏ tuổi được cho ăn các chữ cái có bọc mật ong - hoặc có thể là bước làm quen với các hình phạt, chẳng hạn bị ăn vài roi nếu không nghe lời. Ở các quốc gia phát triển ngày càng có nhiều nhà trẻ hay mẫu giáo giúp trẻ em làm quen với những loại tương tác đặc trưng diễn ra trong lóp học. Sự thay đổi tư duy có được từ việc tham gia vào các trường học như vậy rất có ý nghĩa. Trong những năm đầu đời, bọn trẻ học hỏi chủ yếu thông qua quan sát hành động hàng ngày của người lớn; nhưng một khi đã tiếp xúc với “kiến thức trường học”, trẻ em có thể học tập về các vật thể và sự kiện trong một môi trường tách biệt với nơi chốn và thời gian chúng thực sự diễn ra.
Trường học là phương tiện để có học vấn
Thế giới sách vở khác biệt với thế giới nghe-nói rất nhiều. Trong một đoạn hội thoại bình thường, ý nghĩa được thể hiện qua nhiều thứ như giọng điệu, ánh mắt, hay cử chỉ. Một đứa trẻ không biết ngôn ngữ cũng có thể nắm bát phần lớn đoạn hội thoại vì nó đang sống trong cùng một không gian với người nói chuyện; quả vậy, “vận động cơ thể” là cách duy nhất mà bọn trẻ có thể bắt đầu học ngôn ngữ của môi trường xung quanh (và cùng là cách mà người lớn chủ yếu có thể giao tiếp khi họ không nói cùng ngôn ngữ). Nhưng trong ngôn ngữ viết, toàn bộ ngữ nghĩa phải được thể hiện qua các câu chữ trên giấy. Dù cảm xúc của chủ thể ra sao, ngôn ngữ viết không đơn thuần là bản chép lại lời nói (những ai đọc nguyên bản của một cuộc phòng vấn hay một cuộc nói chuyện ứng khẩu có thể thấy rõ điều này). Đúng hơn, ngôn ngữ viết được dùng để diễn đạt mọi việc bằng những từ ngữ chọn lọc chính xác thu được từ ngữ cảnh[3].
Cho đến gần đây, vì chúng ta sống trong thế giới mà chữ viết chiếm vị trí tối quan trọng, gánh nặng chính của trường học là phải làm cho trẻ em hiểu và dễ dàng tạo được ngôn ngữ viết trong xã hội. Bên cạnh đó, cũng có các loại hình đọc viết khác ngày càng trở nên quan trọng trong thế kỷ 21. Rất nhiều giao tiếp trên thế giới thực hiện bằng phương tiện hình ảnh vừa tĩnh vừa động. Các trang web kết hợp chữ viết cùng với hoạt hình, phim ảnh, âm nhạc và những thứ tương tự. Do đó có vô số hình thức biểu hiện khác nhau. Không những thế, phần chữ viết trên màn hình vi tính thường không có trật tự tuyến tính như hình thức và nội dung của chữ in trong sách thế này. Các văn bản hòa vào siêu văn bản; vô số đường dẫn với đặc tính riêng có thể kết nối rất xa; không nhất thiết phải thể hiện hay trình bày thông tin theo một trật tự định trước nào.
Hiện tượng giảm tính ưu việt của chữ viết diễn ra trong thời chúng tôi. Xu hướng này giúp ích cho những người khó đọc theo cách truyền thống và khuyến khích những người đã đọc giỏi mở rộng khả năng của họ. Với chủ đề đang đề cập, điều quan trọng cần nhấn mạnh là cách suy nghĩ của mọi người khác biệt nhau tùy thuộc vào việc họ lớn lên từ nền văn hóa tiền văn tự, hay nền văn hóa cổ điển hoặc hiện đại, trong đó văn bản là tối ưu, hay nền văn hóa hậu hiện đại, nơi có sẵn vô số cách đọc viết có lúc hỗ trợ nhau, có lúc lại gây rối. Tất cả những điều này nói lên rằng ngày nay nhiệm vụ thay đổi tư duy cũng thay đổi. Ngày nay nếu muốn thâm nhập vào đầu óc người khác, chúng ta phải biết loại tư duy nào cần thay đổi: yếu tố này sẽ quyết định các hình thức thể hiện thông tin tối ưu, cách thức thông báo tối ưu, phương tiện truyền đạt tối ưu, cũng như quyết định các nhân tố giúp đạt điểm quyết định.
Trường học là phương tiện để có cách suy nghĩ dựa trên kiến thức
Bắt đầu thiên niên kỷ mới, một học giả yêu cầu tôi nêu phát minh quan trọng nhất trong 2000 năm qua. Phần vì muốn câu nói của tôi được trích dẫn lại nên tôi đã nói vui là “âm nhạc cổ điển”. Câu trả lời chín chắn hơn cho câu hỏi đó phải là “các môn học kiến thức”. Những ai trong chúng ta sống trong hoặc xung quanh môi trường học tập sẽ cảm thấy các môn học là rất bình thường. Xung quanh chúng ta có rất nhiều các môn học như toán học, khoa học, lịch sử, khoa học xã hội, và nghệ thuật, nhưng giống như con cá trong câu tục ngữ chúng ta là người cuối cùng biết rằng mình đang ở trong nước. Còn những người ở ngoài môi trường học vấn có lẽ cùng nghĩ rằng các “môn học” là một phần sẵn có của đời sống con người.
Phương thức suy nghĩ dựa trên kiến thức tác động đến quá trình thay đổi tư duy, nhưng quan trọng không kém, Chúa trời hay tụ nhiên không cho chung ta sẵn các phương thức này. Chúng được các học giả hay nhóm học giả phát triển dần dần, thường là phải qua nhiều năm gian khổ. Lịch sử và vật lý không phải tự nhiên có được: mà ở phương Tây nhờ nổ lực của Thucydides và Herotodus mới có lịch sử, và nhờ nỗ lực của Aristotle và Archimedes mới có vật lý. Và lịch sử mà chúng ta học ngày nay phụ thuộc vào các nhân vật quan trọng như Jules Michelet người Pháp và Leopold von Ranke người Đức, cũng như vật lý hiện đại sẽ ra sao nếu không có những khám phá của Galileo, Newton, và Einstein. Nhiều tư tưởng đã thay đổi qua các giai đoạn lớn của một nền văn hóa có thế là nhờ vào những nhà tư tưởng xuất sắc, có người được biết tên, nhiều người khác chỉ đơn giản là một cá nhân trong thế giới rộng lớn.
Vì vậy chúng ta đối mặt với vấn đề sau. Kiến thức miêu tả các cách suy nghĩ tiên tiến và tối ưu nhất về những vấn đề liên quan đến con người. Tuy nhiên, xét theo góc độ học vấn, cách suy nghĩ của đa số chúng ta về các vấn đề này vẫn còn thiếu sót. Vậy chúng ta phải thay đổi tư duy như thế nào để phù hợp hơn với phương thức suy nghĩ dựa trên kiến thức tinh vi?
Loại kiến thức được sử dụng trong suy nghĩ học vấn khác rất xa so với trực giác. Thực tế các nghiên cứu cho thấy hầu hết những khái niệm trực giác của trẻ em đều thiếu sót trầm trọng. Hiểu biết kiến thức là việc không dễ đạt được. Chúng ta, con người thông thái, đã tiến hóa để leo núi, bơi qua kênh đào, dễ dàng nghe nhận các ngôn ngữ xung quanh mình (ít nhất là ở thời thơ ấu). Tiến hóa có thể được khoa học chứng minh, nhưng tất cả bọn trẻ 8 tuổi và nhiều người lớn đều vẫn tin vào thuyết Chúa sáng tạo. Như nhà tâm lý học về phát triển David Henry Feldman đã chỉ ra, ban đầu các thành quả nhận thức cao nói trên chỉ có được từ một số ít cá nhân trong xã hội - họ có các chúc năng “đặc trưng riêng” của con người[4]. Qua thời gian, nhờ tiếp xúc các ý tưởng nhiều hơn và năng lực dạy và học gia tăng, các tài năng đó đã trở nên phổ biến rộng rãi hơn trong xã hội.
Ở đây chúng ta đi vào trung tâm của vấn đề thay đổi tư duy, tác phong trường học: làm quen với không khí lớp học có thể không phải lúc nào cũng dễ chịu, nhưng cũng không quá khó đối vơi hầu hết chúng ta. Để thành thạo kỹ năng đọc viết cũng mất nhiều thời gian của nhiều người và đặc biệt khó khăn đối vơi 5 đến 10% trong chúng ta. Bản thân kỹ năng đọc viết không đối lập với trực giác (đúng hơn nên xem chúng là các hệ thống công cụ biểu hiện mới, đòi hỏi sự vận động của một hệ thống nhận thức mới). Nhưng các nghiên cứu khoa học về nhận thức cho thấy cả nội dung kiến thức lẫn những thói quen dựa trên kiến thức của tư duy đều có thể đối lập với trực giác một cách sâu sắc[5].
Hãy xem một vài ví dụ. Galileo bảo rằng tất cả mọi vật đều tăng tốc ở cùng tốc độ; Newton nói rằng một trái táo rơi hay một hành tinh trong quỹ đạo đều cũng chịu sự chi phối của các định luật chuyển động; Darwin tuyên bố rằng chúng ta và tinh tinh hiện đại đều tiến hóa từ cùng một tổ tiên linh trưởng; Einstein thách thức các căn cứ giác quan của chúng ta cho rằng tuyệt đối có thế xác định được không gian và thời gian. Nhưng hiểu biết về thế giới tự nhiên này không phải có được từ trực giác. Tương tự, cách họ xây dựng các kiến thức cũng là một dạng kiến thức siêu việt. Các sử gia không chỉ nhìn qua cửa sổ và ghi lại những gì họ thấy, mà họ ngồi trong thư viện, đọc các cuốn sách dày bụi, nghiền ngẫm những tài liệu cổ xưa, và cố gắng tìm hiểu, suy luận từ những gì lượm lặt được từ các tài liệu tạp nham (và gần đây hơn, là từ tranh ảnh, video, băng đĩa hay tài liệu kỹ thuật số). Có thể bắt đầu với sự tò mò về thế giới tự nhiên nhưng các nhà vật lý dành thời gian với thiết bị phòng thí nghiệm, xây dựng những thiết bị siêu thanh, tung hứng với các phương trình trên máy vi tính, hay tạo ra các mô hình vô số chiều.
Do đó nếu muốn thay đổi tư duy của người học, nếu muốn họ có thể vận dụng những kiến thức do các học giả khám phá qua hàng thế kỷ, cần phải dành nhiều năm để giáo dục học sinh về các kiến thức chuyên biệt đó. Theo tôi, đây là lý do chính để duy trì trường học. Người ta ước đoán rằng phải mất 10 năm để trở thành chuyên gia trong một lĩnh vực (và có lẽ phải mất 10 năm nữa để có những đóng góp thực sự cho lĩnh vực đó). Cho dù phỏng đoán này chưa hẳn đã đúng nhất, nhưng rõ ràng đa số mọi người sẽ không sử dụng được các công cụ kiến thức nếu không được hướng dẫn cách ứng dụng trong một thời gian đáng kể.
Vậy cách tốt nhất để có nền tảng suy nghĩ học vấn là gì? Các nghiên cứu của tôi cho thấy việc học tập kiến thức sẽ thuận lợi nếu có điều kiện sau. Thứ nhất, cần phải đối mặt trực diện với nhiều khái niệm nhầm lẫn (hay sai lầm) của bọn trẻ: cả về nội dung (ví dụ như con người là giống loài không liên quan đến thế giới động vật, cũng như thực vật) lẫn về phương pháp (ví dụ như chỉ cần tiến hành các thí nghiệm một lần và ý nghĩa của chúng lúc nào cũng minh bạch). Cần nhận biết rõ ràng và đối mặt với các suy nghĩ phản kháng. Bọn trẻ cần hiểu rằng các khái niệm đó chưa chắc đã chính xác dù chúng có tin tưởng bao nhiêu. Nhận thức này chỉ có được khi phải đương đầu thường xuyên và có hệ thống với những suy nghĩ và kết luận mang tính “tự nhiên” nhưng không chính xác.
Thứ hai, phải lôi cuốn người học bằng nhiều ví dụ nổi bật: các lý thuyết khoa học cụ thể, những tấm gương lịch sử, các tác phẩm nghệ thuật. Trong cuốn Tư duy học thuật-The disci-plined mind, tôi đề xuất xây dựng chương trình giảng dạy tập hợp từ nhiều ví dụ kiến thức ở các lĩnh vực[6]. Đối với khoa học, tôi chọn thuyết tiến hóa, với trọng tâm chi tiết hơn là vấn đề phân bố chim sẻ trên các ngọn đảo Galapagos. Đối vói nghệ thuật, tôi chọn bản The marriage of Figaro của Mozart và đi vào trọng tâm hơn với đoạn tam tấu vài phút trong hồi 1. Trong lịch sử cận đại, tôi tập trung vào cuộc tàn sát của phát-xít Đức Thế chiến thứ II với Hội nghị Wannsee ngày 20/1/1942 đóng vai trò nòng cốt (trong đó kế hoạch“hành quyết cuối cùng” được đưa vào hành động). Sau khi nghiên cứu kỹ lưỡng qua các số liệu hay luận điểm, chúng ta có thể hiểu chi tiết về 3 ví dụ này và thu được các kết qua cho việc học tập sau này, trong số đó là cơ hội tìm hiểu và đánh giá cách các học giả thai nghén và diễn giải những kiến thức phôi thai đó.
Khi quyết định tập trung vào chi tiết của một ví dụ, điều kiện thứ ba xuất hiện: đó là cơ hội tiếp cận một chủ đề theo nhiều cách khác nhau.
❀ ❀ ❀
[1] Luận điểm này được trình bày chi tiết hơn trong The unschooled mind (New York: Basic Books, 1991) và trong The disciplined mind (New York: Penguin, 2000) của Howard Gardner.
[2] Making learning visible: A point publication of Harvard project zero and Reggio children, 2001, có trên trang sách điện tử pzweb.harward.edu; “Teaching as natual cognition and its relation to preschoolers’ developing theory of mind” của Sidney Strauss, Margalit Ziv, và Adi Stein, Cognitive psychology 17 (2002): 1473-1487; The cultural origins of human cognition của Michael Tomasello (Cambridge: Harvard University Press, 1999).
[3] The world on paper của David Olson (New York: Cambridge University Press, 1994)
[4] Beyond universals in cognitive development của David Feldman (Norwood, NJ: Ablex, 1980/1994).
[5] The unschooled mind của Gardner, chương 2 đến chương 5; The disciplined mind của Gardner, chương 6.
[6] The disciplined mind của Gardner, từ chương 7 đến chương 9.