Thay Đổi Tư Duy

Lượt đọc: 139 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
THAY ĐỔI TƯ DUY NHỜ CÁC KHÁM PHÁ KHOA HỌC: CHARLES DARWIN

❊ ❊ ❊

Bên cạnh những đột phá khoa học được dễ dàng chấp nhận bởi cộng đồng khoa học và công chúng nói chung, thì thuyết tiến hóa của Charles Darwin không nhận được sự chào đón nồng nhiệt. Có được sự chấp nhận rộng rãi phần lớn là nhờ vào việc diễn đạt học thuyết theo nhiều cách khác nhau trong một thời gian dài - nghĩa là “tái diễn giải” nhiều lần các khái niệm then chốt và mối liên hệ giữa chúng. Ngay cả quá trình hình thành ý tưởng về tiến hóa của Darwin cũng là kết quả của việc tiếp cận theo nhiều cách khác nhau.

Mối quan tâm của Darwin về nguồn gốc đa dạng các giống loài ban đầu chịu sự ảnh hưởng từ người ông Erasmus, nhà vật lý và tự nhiên học đã tìm hiểu về tiến hóa. Các học thuyết của riêng Darwin bắt nguồn từ hành trình thời trẻ của ông trên chiếc thuyền The Beagle (1831-1836), nhưng chúng vẫn chưa kết tinh cho đến khi ông đọc - hay đúng hơn là trở lại với - những suy nghĩ của nhà kinh tế học Thomas Malthus về sự đấu tranh sinh tồn trong điều kiện nguồn lực hạn chế. Nhà tâm lý học Howard Gruber, người nghiên cứu kỹ về những ghi chép của Darwin, cho biết nhà tự nhiên học người Anh này đã biết đến các ý tưởng Malthus từ rất sớm trong quá trình học tập[1]. Do đó ông đã làm quen với các ý niệm về chọn lọc tự nhiên trước khi chúng nổ ra trong nhận thức của ông, khiến ông có ý thức một cách rõ ràng về những giá trị thay đổi mang tính cách mạng của chúng. Nói theo ngôn ngữ của chúng tôi, có thể Darwin cảm thấy tư duy mình thay đổi một cách đột ngột, nhưng ghi chép cho thấy rằng tương tự những trường hợp đột phá khác, sự thay đổi của ông diễn ra từ từ trong một thời gian lâu hơn ông tưởng.

Khi nhận thức được giá trị của các ý tưởng của mình, Darwin đã dành 2 thập kỷ tiếp theo để chọn lọc những dữ liệu chứng minh cho tiến hóa. Nhưng học thuyết của ông quá mới lạ, có thể gây sóc cho các đồng nghiệp trong giới khoa học và công chúng nói chung (trong đó có vợ ông, Emma, một người Cơ đốc sùng đạo), vì vậy ông do dự không công bố học thuyết đó trong thời mình. Chỉ khi chàng trai trẻ Alfred Wallace cũng có những kết quả nghiên cứu cơ bản giống của Darwin thì ông mới miễn cưỡng đồng ý cùng trình bày trước Hội đồng khoa học Hoàng gia (Royal Society) năm 1858. Năm sau, tác phẩm lịch sử của Darwin Nguồn gốc muôn loài đã được ra đời[2].

Lúc đầu có rất nhiều người chống đối ý kiến của Darwin. Hầu hết các nhà khoa học cùng thời phản đối học thuyết này ngay lập tức, trong đó có cả người thầy đáng kính của ông, nhà địa chất Charles Lyell. Darwin bị giới tăng lữ, các chính trị gia, và công chúng gièm pha. May mắn thay ông được những người có tài hùng biện ủng hộ, nổi bật nhất là nhà sinh học Thomas Huxley vói giọng điệu sắc bén. Khi ngày càng có nhiều bằng chứng về quá trình tiến hóa và mọi người trong ngành cũng như ngoài ngành đều đã quen dần với các tư tưởng đó thì những ý niệm từng bị xem là báng bổ thần thánh đã bắt đầu được chấp nhận. Dù vậy, cho đến nay, nhiều người Mỹ vẫn không hiểu hết các vấn đề mấu chốt của thuyết tiến hóa: họ không thấy được sự khác biệt giữa quá trình tiến hóa - một học thuyết khoa học có thể bị phàn đối tùy theo các bằng chứng mới thu được - với thuyết sáng tạo linh hồn (linh hồn do Chúa tạo ra) và những biến thể của thuyết này, một vấn đề đơn thuần về đức tin. (Thuyết tiến hóa có vé ít rắc rối hơn đối với công dân các nước khác)[3].

Xin có một chú thích về vấn đề này, đặc biệt thú vị trong trường hợp những người thay đổi tư duy tiềm năng. Theo nhà sử học về khoa học Frank Sulloway, khả năng sẵn sàng thay đổi tư duy về thuyết tiến hóa phụ thuộc đáng kể vào một nhân tô bất ngò: thứ tự con trong gia đình[4]. Kết quả cho thấy những người con thứ thường dễ dàng chấp nhận các nguyên lý cơ bản trong thuyết tiến hóa Danvin hơn so với những người con đầu. Đúng vậy, những người con đầu phải mất trọn một thế kỷ đế chấp nhận thuyết tiến hóa ở cùng mức độ với những người con thứ. Rõ ràng những người ngay từ đầu đã phải cạnh tranh với các anh em của mình sẽ để cảm thông với học thuyết Darwin hơn những người ngay từ đầu đã có tất cả cho riêng minh. Sulloway đã chỉ ra rằng đối với các quan điểm mang tính cách mạng khác cũng xảy ra tương tự, dù là lĩnh vực khoa học, chính trị, hay tôn giáo. Nói ngắn gọn, nếu muốn thay đổi suy nghĩ các tư tưởng quan trọng, bạn hãy tìm những đối tượng là con thứ trong gia đình.

Chắc chắn những ý tưởng của Darwin không phải là trực giác. Chúng ta biết điều này vì nói chung trẻ từ 8 tuổi đã có tư tưởng về thuyết sáng tạo[5]. Cho dù bố mẹ có là nhà sinh học tiến bộ hay là nhà truyền giáo chính thống thì tất cả các học trò nhỏ tuổi đều tò mò trước câu hỏi về nguồn gốc, và có vẻ với chúng rõ ràng tất cả mọi sinh vật đều được tạo ra cùng một thời điểm lịch sử (hay tiền sử) nào đó và không thay đổi đáng kể sau đó. Ngoài ra, chúng thích tin rằng các thay đổi quan trọng diễn ra trong cuộc đời của một sinh vật (ví dụ như việc hình thành bắp tay) sẽ được truyền cho con cháu của sinh vật đó (chứng tỏ những ý kiến trước đây của nhà sinh vật học người Pháp Jean-Baptiste Lamarck mang tính trục giác hơn nhiều so với ý kiến của Darwin). Vì vậy, toàn bộ khuôn khổ học thuyết: rằng sinh vật không phải được tạo ra cùng một lúc, mà qua một quá trình diễn ra từ từ qua hàng triệu năm và vẫn đang tiếp diễn; rằng con người và đười ươi hiện đại tiến hóa từ cùng một tổ tiên cách đây vài triệu năm; rằng di truyền sinh học mà chúng ta truyền cho các thế hệ tương lai không bị ảnh hưởng bởi những trải nghiệm trong đời sống chúng ta (ít nhất là cho đến khi có liệu pháp tinh trùng); và trên hết, rằng bằng chứng khoa học đã bác lại nguồn gốc sáng tạo trong kinh thánh ở mọi khía cạnh - (đối với nhiều người) vẫn rất khó được chấp nhận.

Ngoài khám phá thú vị về thứ tự con trong gia đình, còn có một số nhân tố liên quan đến nền tảng giáo dục được cho là có ảnh hưởng đến sự chấp nhận thuyết tiến hóa. Rõ ràng những người theo chủ nghĩa chính thống có niềm tin mạnh mẽ nhất về nguồn gốc con người trong giáo lý sẽ cảm thấy khó chấp nhận các quan điểm đó. Khi quan điểm chống thuyết tiến hóa được tuyên bố công khai, thì sự phản đối càng trở nên mạnh hơn. Như trường hợp nhà khoa học Thụy Sĩ - Mỹ giữa thế kỷ XIX Louis Agassiz mặc dù đã thu thập được bằng chứng ủng hộ thuyết tiến hóa, nhưng vì đã cam kết tin vào giáo lý nên ông không muốn thay đổi suy nghĩ của mình, chứ chưa nói đến việc tuyên bố sự thay đổi đó với các đồng nghiệp lừng lẫy. Một nhân tố khác cũng cản trở thay đổi quan điểm về thuyết tiến hóa là kiến thức cá nhân về các phương pháp khoa học và về sự khác biệt giữa các vấn đề khoa học và các vấn đề đức tin. Các nhà khoa học và những người có hiểu biết khoa học sẽ cảm thấy ngày càng khó bỏ qua vô số các bằng chứng về địa chất, hóa thạch và thí nghiệm chứng minh quá trình tiến hóa. Những nhà khoa học vẫn muốn giữ đức tin vào giáo lý, bằng cách nào đó, phải có khả năng mổ xẻ nhận thức, hay nói nôm na, phải có hai bộ sách về trí tuệ khác nhau. Lý luận và nghiên cứu nghiêng về ủng hộ thuyết tiến hóa.

Vậy quan điểm về những lý thuyết khoa học thay đổi như thế nào? Trong tác phẩm nổi tiếng Cấu trúc của những tiến hóa khoa học - The structure of scientific revolutions, nhà sử học về khoa học Thomas Kuhn đã đưa ra giải thích hợp lý nhất về quá trình chấp nhận các lý thuyết hay những chuẩn mực mang tính cách mạng[6]. Như Kuhn mô tả, các nhà khoa học hàng đầu của một thế hệ sẽ khó chấp nhận cách giải thích mới. Sự hoài nghi này xảy ra tương tự với quan điểm mặt trời là trung tâm vũ trụ của Copernicus, thuyết tương đối của Einstein, cơ chế lượng tử của Heisenberg, và thuyết các lục địa di chuyển của Wegener, trong số các thuyết khác. Tại sao? Vì những nhà bác học kỳ cựu, được đào tạo theo cách suy nghĩ cũ, sẽ phải từ bỏ các tư tưởng đã gán bó ăn sâu từ lâu. Chuẩn mực mới dễ được chấp nhận nhất bởi các cá nhân mới tham gia vào một lĩnh vục nào đó. Những “chú ngựa non háu đá” không có sự gán bó bất di bất dịch đối với cách nhìn cũ, họ có vẻ linh hoạt hơn, và (đặc biệt khi họ là con thứ) có thể cảm thấy hài lòng ở mức nhất định khi thấy hệ thống giáo điều cũ bị hạ bệ và có cơ hội theo đuổi những chủ đề hoàn toàn mới. (Đúng vậy, tôi còn nhớ rõ cảm giác của mình khi mới trở thành một nhà tâm lý học. Tôi cảm thấy hứng khởi khi đặt mình vào hàng ngũ những nhà nhận thức học đổi mới hơn là với các nhà hành vi học hay những nhà tâm lý vật lý không hợp thời). Đối với phân khúc dân số gồm những nguời trẻ hay báng bố thần thánh thì việc nhiều người phản đối một ý kiến có thế khiến các thành viên của phân khúc này chấp nhận ý kiến đó một cách dễ dàng hơn.

Như tôi đã nêu, khác với lãnh đạo các chủ thể lớn, nhưng người lãnh đạo gián tiếp không làm tư duy thay đổi bằng các bài diễn thuyết hoa mỹ trước công chúng hay bằng tài hùng biện trực tiếp đầy thuyết phục. Hầu như suốt cuộc đời Charles Darwin là một người sống ẩn dật. Ông sống xa London và chẳng mấy khi vào trung tâm thành phố. Ông có những căn bệnh không chẩn đoán được và ông viện cớ này để tránh các cuộc gặp mặt không mong muốn; vì thế, chủ yếu ông trao đổi với các nhà khoa học khác qua thư từ. Chắc chắn Darwin đã rất may mắn có một người phát ngôn tài giỏi và kiên trì như đề cập ở trên, Huxley, người được đặt biệt danh là “con chó của Darwin”. Với Darwin và những người như ông thì việc trao đổi trực tiếp với người khác không phải là phần quan trọng trong công việc của họ. Thay vào đó, họ thay đổi tư duy bằng chính công việc của mình.

Hãy xem một nhà khoa học khác với các ý tưởng làm thay đổi quan niệm trên phạm vi rộng lớn: Albert Einstein. Từ nhỏ Einstein đã suy nghĩ rất nhiều về vấn đề bản chất của không gian và thời gian. 5 tuổi, ông thắc mắc tại sao kim của la bàn luôn chỉ về một hướng; thời niên thiếu, ông suy ngẫm về việc di chuyển trên một chùm tia ánh sáng; lớn lên, ông tưởng tượng vị trí của các vật trong thang máy khi chiếc thang máy đó rơi tự do trong không gian[7]. Einstein không e ngại các lý thuyết hiện hữu giải thích về vũ trụ vật lý. Trong một loạt tái định nghĩa lại những vấn đề then chốt, ông đã đưa ra thuyết tương đối riêng và chung.

Ban đầu những ý tưởng của Einstein rất khó nắm bắt, và chỉ vài người có thể hiểu hoàn toàn ý nghĩa ứng dụng của chúng. (Trong khi đó những người cùng thời với Darwin lại hiểu rất rõ những ứng dụng của các ý tường của ông). Tuy nhiên, trong lĩnh vực của Einstein ý kiến của các nhân vật hàng đầu mang tính chất quyết định, và may mắn thay các bài viết ban đầu của ông đã được Max Planck, nhà vật lý học xuất sắc thời đó, chấp nhận cho in trên tờ Annalen der Physik. Vì thế, trong giới vật lý tương đối đồng nhất, công trình của Einstein được tiếp nhận nhanh chóng hơn so với của Darwin - và khi ông dự đoán đúng về nhật thực năm 1919, thì danh tiếng khoa học của Einstein đã được tồn tại mãi mãi. (Thế nhưng, Einstein nhận Giải Nobel Vật lý năm 1921 vì khám phá về tác động quang điện, chứ không phải vì thuyết tương đối của ông - thuyết này vẫn bị xem là mang tính chất quá suy đoán).

Không nghi ngờ gì về vị thế của Darwin và Einstein trong ngôi đền những nhà khoa học vĩ đại nhất của mọi thời đại - họ đứng ngang hàng với Galileo và Newton - nhưng tính chất khoa học của các luận cứ của Sigmund Freud vẫn còn gây nhiều tranh cãi. Các bằng chứng khoa học không đồng nhất ủng hộ thuyết phân tâm học; đúng hơn, trong phạm vi có thể kiểm chứng, những bằng chứng đáng tin cậy chống lại các luận cứ về phân tâm học. Vậy chính xác hơn phải nói rằng Freud đã phát triển một quan điểm về bản chất con người -với mức độ chi tiết đáng khâm phục tuy chưa hoàn toàn chính xác - xứng đáng để suy xét. Mượn lời nhà thơ W.H. Auden, Freud là người tạo ra “bầu không khí tư tưởng”. Như vậy, Freud thực chất là một nhà tư tưởng độc đáo và táo bạo hơn là một nhà khoa học - một loại lãnh đạo gián tiếp mà bây giờ chúng tôi sẽ đề cập đến.

❀ ❀ ❀

[1] Darwin on man của Howard Gruber (Chicago: University of Chicago Press, 1981), 162.

[2] Charles Darwin của Janet Browne (London: Jonathan Cape, 1995).

[3] The disciplined mind của Howard Gardner (New York: Penguin 2000), chương 7 và phần tham khảo.

[4] Bom to rebel của Frank Sulloway (New York: Pantheon, 1996).

[5] “Beyond scopes: Why creationism is here to stay” của E. Margaret Evans, trong Imagining the impossibie: Magical, scientific, and religious thinking in children, ấn bản của K. Rosengren, c. Johnson, và P. Harris (Cambridge: Cambridge University Press, 2000), tr. 330-351.

[6] The structure of scientific revolutions của Thomas Kuhn, (Chicago: University of Chicago Press, 1970).

[7] Creating minds của Howard Gardner (New York: Basic Books, 1993); Einstein của Banesh Hoíímann (St. Albans, Englanđ: Paladin, 1975); Ein-stein/Picasso của Authur Miller (New York: Basic Books, 2000).

Người dịch: Võ Kiều Linh
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 27 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.