Thay Đổi Tư Duy

Lượt đọc: 139 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
NỘI DUNG CỦA TƯ DUY: CÁC Ý TƯỞNG, KHÁI NIỆM, CÂU CHUYỆN, LÝ THUYẾT, KỸ NĂNG

❊ ❊ ❊

Đa số chúng ta dùng từ ý tưởng để biểu thị bất kỳ mọi nội dung trí tuệ nào - và điều đó là hoàn toàn hợp lý. Dĩ nhiên, có rất nhiều loại ý tưởng (ngoài những khái niệm như nguyên tắc 80/20 hay cách trang trí căn hộ mới) nhưng tôi sẽ chỉ tập trung vào 4 loại ý tưởng có tầm quan trọng đặc biệt trong quá trình nghiên cứu về thay đổi tư duy, đó là: khái niệm, câu chuyện, lý thuyết và kỹ năng.

Khái niệm, đơn vị cơ bản nhất, là một cụm từ bao quát dùng để miêu tả một tập hợp những chủ thể có quan hệ gần gũi với nhau. Ví dụ khi chúng ta nói về loại thú nuôi 4 chân biết sủa, nghĩa là chúng ta đang thể hiện khái niệm của mình về loài chó. Ngay cả trẻ con cũng biết đến hàng trăm khái niệm - từ xe hơi cho đến ngựa vằn – mặc dù có thể chúng không xác định được ranh giới giữa các khái niệm, như: giữa “chó” và “mèo” chẳng hạn - như người lớn. Người lớn còn có những khái niệm trừu tượng hơn, như: trọng lực, dân chủ, sự quang hợp, niềm tự hào - vượt quá tầm hiểu biết của trẻ con.

Câu chuyện là những bài tường thuật mô tả sự kiện diễn ra theo thời gian. Ít nhất, câu chuyện bao gồm một nhân vật chính hay một vai chính, những hoạt động diễn biến hướng đến cùng một mục tiêu, một cuộc khủng hoảng và một giải pháp, hay ít nhất là một nỗ lực tìm kiếm giải pháp. (Trong bài luận viết về thay đổi tư duy, Baker kể 2 câu chuyện rất ngắn -về người đàn ông và chiếc giày, về tác giả và căn hộ trong mơ của ông). Con người thích nghe kể chuyện và cũng là những người kể chuyện bẩm sinh. Lúc bắt đầu đi học, bọn trẻ đã biết hàng chục câu chuyện, lượm lặt từ gia đình, từ các phương tiện truyền thông, và từ sự quan sát cùng như kinh nghiệm của chính bản thân. Khi trưởng thành, họ biết đến hàng trăm câu chuyện, dù những câu chuyện này có thể chỉ được xây dựng trên cơ sở một số ít cốt truyện. (Xin nhớ rằng, chỉ có 6 loại chuyện đùa cơ bản!).

Lý thuyết là những lời giải thích tương đối chính thức về các quá trình trong thế giới. Lý thuyết có thể có dạng như “X xảy ra bởi vì A, B, C” hay “Có 3 loại Y và chúng khác nhau ở những phương diện sau” hay “Tôi dự đoán rằng hoặc Z hoặc Y sẽ xảy ra, phụ thuộc vào điều kiện D”. Nguyên tắc Pareto thể hiện một lý thuyết về cách tổ chức hiệu quả trong đời sống hàng ngày. Khi còn nhỏ, trẻ con đã dần có những lý thuyết về cách hoạt động của mọi thứ trên thế giới. Chúng cũng tiếp xúc với các lý thuyết trong nền văn hóa của chúng. Và khi bắt đầu học hành nghiêm túc ở trường, chúng sẽ biết đến những lý thuyết chính quy. Hãy xem một ví dụ sau: tất cả trẻ em ở những vùng có khí hậu mưa sẽ có các lý thuyết về bão có sấm sét. Lúc đầu có thể chúng nghĩ rằng những sự kiện thời tiết này là cơn giận dữ của bố mẹ chúng hay cơn thịnh nộ của các vị thần, hay là âm mưu của một mụ phù thủy độc ác. Sau này, qua quan sát diễn biến dự đoán được của những hiện tượng này, chúng sẽ đưa ra giả thuyết rằng chính chớp đã tạo nên sấm. Đa số, chúng sẽ không phát hiện nguyên nhân thực sự của bão sấm chớp cũng như mối liên hệ giữa chớp và sấm, trừ phi có học về ngành khí tượng và biết đến luồng khí, sự thay đổi nhiệt độ, sự tích điện, tốc độ khác nhau của ánh sáng và âm thanh.

Ví dụ về bão sấm chớp đã giúp lý giải mới liên quan giữa 3 loại nội dung mà tôi đề cập. Đầu tiên, trẻ con có thể chỉ có một khái niệm về bão sấm chớp - là một mớ hỗn độn của ẩm ướt, tia chớp, âm thanh choáng óc. Sau đó, chúng có thể nghĩ ra một câu chuyện mà chúng cảm thấy hài lòng: “Vị thần thức ăn giận dữ vì mình đã không ăn hết bữa tối. Chắc vậy nên ông đã làm tiếng động mạnh để mình sợ”. Câu chuyện này cũng có thể tiến triển thành một lý thuyết hư cấu: Chớp tạo ra bão, và bão tạo ra nhiều tiếng động mạnh. Một khóa học về khí tượng có thể dẫn đến một lý thuyết phức tạp hơn: bão sấm chớp được hiểu là những dòng khí trong một đám mây làm đảo lộn hơi ẩm và tạo nên sự tích điện, gây nên hiện tượng chớp.

Tiếp đến là nội dung thư 4 và cuối cùng của tư duy – những kỹ năng (hay thực hành) mà một người thông thạo. Các câu chuyện và lý thuyết mang bản chất gợi ý. Có thể kể chúng bằng từ ngữ, hoặc cũng có thể trình bày dưới các hình thức trí tuệ khác (như phim không lời hay đoạn video). Còn các kỹ năng (hay thực hành) bao gồm những quy trình thực hiện, và người thực hiện biết có nên - hay thậm chí có thể - diễn đạt chúng bằng lời hay không. Các kỹ năng bao gồm những điều rất bình thường - như ăn chuối hay bắt bóng - hay phức tạp - như chơi một bản xô-nát của Bach dành cho violon hay giải phương trình vi phân bằng tay. Thường thì sau khi được thực hành, độ thuần thục của kỹ năng thay đổi dần dần, mặt khác kỹ năng cũng có thể bị mất đi nếu không thực hành. Các kỹ năng cũng có thể có những hình thức thay đổi lớn hơn, và nếu vậy, nghĩa là thuộc phạm trù nghiên cứu “thay đổi tư duy” của cuốn sách này. Chẳng hạn, hãy xem trường hợp một nghệ sĩ tập một bản nhạc mới thông thường bằng cách bắt đầu từ đầu bản nhạc và dần dần thông thạo từng phần tiếp theo của ban nhạc. Nếu vì một hay tất cả những nhân tố mà tôi đã nêu, người nghệ sĩ đó cảm thấy dễ dàng hơn nếu tập bản nhạc từ cuối đến đầu, hay tập thuần thục đoạn cuối và đầu trước, hay chơi toàn bộ bản nhạc mà không cần độ chính xác, thì đó là một sự thay đổi tư duy to lớn. (Lưu ý: Sự tiến bộ dần dần do thực hành nhiều lần cũng là hình thức thay đổi tư duy, nhưng ít được quan tâm ở đây vì tính chất bình thường và đương nhiên của nó).

Mối liên hệ giữa nội dung và hình thức trong thực hành kỹ năng có phần khác biệt. Không thể đơn giản diễn đạt nội dung - như nguyên tắc 80/20 chẳng hạn - bằng một hệ thống biểu tượng và rồi sau đó chỉ giữ những nét cơ bản và thay đổi chút ít khi sử dụng hệ thống biểu tượng khác. Trạng thái hiện hữu của thực hành bao gồm cả nội dung lẫn hình thức - như câu nói nổi tiếng của nhà thơ William Butler Yeat “Làm sao có thể phân biệt người nghệ sĩ múa với điệu múa?”. Nội dung và hình thức của một quy trình có thể thay đổi - nhưng nói chung chúng cùng thay đổi. Nhiều trường hợp sự thay đổi của một thực hành có tác động đến những thực hành khác; chẳng hạn, nếu một người học cách viết văn mới, thì người đó cũng có thể phát biểu (hay thậm chí còn sáng tác nhạc) theo một cách mới. Trong trường hợp đó, chúng ta có thể nói rằng một thay đổi cụ thể trong nội dung có thể biểu hiện (hay, nói một cách kỹ thuật hơn là “chuyển biến”) qua nhiều hình thái khác nhau.

Có người sẽ hỏi rằng liệu có thể quy định nội dung tư duy được không: nghĩa là kể ra toàn bộ những khái niệm, câu chuyện, lý thuyết, và các kỹ năng trong tư duy của một người cụ thể - hay thậm chí của toàn bộ loài người. Ở một góc độ, câu hỏi này chỉ là hỏi đố. Con người luôn tạo ra hoặc xây dựng nhiều cách thể hiện tư duy mới, và vì thế nội dung tư duy mang tính chất mở, và có thể mở rộng vô hạn. Đồng thời, cũng có những hình thức phân loại các nội dung cơ bản như: tự điển, bách khoa toàn thư, trang vàng, và các dụng cụ nghiên cứu. Dù trong trường hợp nào, chắc chắn những khái niệm, câu chuyện, lý thuyết, và kỹ năng đều chứa đựng phần lớn nhận thức về cuộc sống chúng ta. Chẳng hạn như:

Những khái niệm phổ biến: chủ thể sống/chết; đạo đức/phi đạo đức; vui sướng/đau khổ; cây cối/động vật.

Những câu chuyện phổ biến: nam nữ gặp nhau; người anh hùng bị hạ gục bởi một sai lầm bi kịch; cái thiện chiến thắng cái ác; đứa con hoang trở về nhà.

Những lý thuyết phổ biến: những ai giống mình là tốt, khác mình là không tốt; nếu hai sự kiện diễn ra gần nhau, cái đầu là nguyên nhân của cái sau; lẽ phải thuộc về kẻ có sức mạnh.

Những kỹ năng phổ biến: chia các nguồn lực một cách cân bằng; dồn sức để chuẩn bị cho một cuộc đấu có cá cược cao; hoàn thành nhiệm vụ chỉ ngay trước hạn chót.

Như vậy, chúng ta đã biết những nội dung chính trong tư duy con người. Tất cả chúng ta sở hữu - hay, nếu bạn là người theo tâm lý hiện đại, thì tất cả chúng ta là - những ý tưởng, khái niệm, câu chuyện, lý thuyết và kỹ năng trong ta. Các nhà khoa học nhận thức tranh cãi sôi nổi về vấn đề có phải chúng ta được sinh ra đã có sẵn những nội dung này không - hay nói theo thuật ngữ là liệu có những ý tưởng bẩm sinh không (chẳng hạn trường hợp con người khi sinh ra đã biết đến nguyên tắc 50/50), hay liệu khả năng học hỏi những ý tưởng của chúng ta có như nhau không (nếu vậy, có thể xây dựng những nền văn hóa trong đó nguyên tắc 77/23 cũng dễ nắm bắt ngang như nguyên tắc 50/50 hay 100/0), hay liệu có những ý tưởng nào đó dễ học hỏi hơn vì chúng ta có tố chất nắm bắt chúng (chẳng hạn con người học hỏi quy luật 50/50 dễ dàng hơn quy luật 80/20 rất nhiều). Hoàn toàn rõ ràng: tôi ủng hộ giả thuyết sau cùng nhất. Nhiệm vụ chính cho các nhà khoa học nhận thức là xác định những ý tưởng này và giải thích cách chúng xuất hiện.

Trong những chương tiếp theo, tôi sẽ trình bày cách thức thay đổi của những loại ý tưởng khác nhau: xem xét quá trình các nhân tố tạo nên hoặc cản trở những thay đổi quan trọng trong tư duy.

Người dịch: Võ Kiều Linh
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 27 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.