N
GƯỜI DÂN CAMPUCHIA sau khi thu hoạch vụ lúa mùa duy nhất, bắt đầu mùa vụ phên đường thứ hai trong suốt khoảng mùa khô, khi cây thốt nốt ra buồng.
Đầu tiên, người ta đi chặt những cây tre đực già, có gióng đều so le đối xứng. Họ vạc cành ngang đi, để lại đoạn ngắn rồi buộc áp vào thân cây thốt nốt làm một loại thang đặc biệt. Có những cây có thể cao hơn 20m nên phải hai, ba cây tre mới tới ngọn cây. Vào những buổi chiều tà, dân làm đường leo lên, dùng hai thanh tre cứng kẹp lấy cuống hoa đực. Ngày nào cũng kẹp nhẹ nhàng ở những đoạn vòi hoa bánh tẻ, như nặn trái vú sữa. Vừa kẹp lại vừa hát nữa càng tốt, bởi cây thốt nốt gần người và nó ưa nịnh.
Vài hôm sau, đến khi đoạn cuống hoa thốt nốt đực đã cương tức mọng lên, chực phụt ra nước, họ dùng dao sắc cắt vát vòi hoa, treo ống tre bương vào. Ống tre phải xông khói lòng trong ống để chống mọt, và để nước ngọt khỏi bị lên men. Sau một đêm tí tách, những giọt ngọt trời ban sóng sánh đã đầy. Họ mang xuống, gom lại đổ chảo để nấu đường. Vị khói ta thấy trong nước thốt nốt ngọt như một phá cách, điểm xuyết cho hương đường xứ lạ thêm chút duyên đời. Giống như vị trái quất, trái chanh thoáng trong ly nước mía mát lạnh làm tăng độ hấp dẫn. Cái gì độc chất, độc vị bao giờ cũng chóng gây ngán, kể cả là chất ngọt.
Còn muốn làm nước thốt nốt chua, người ta phải chọn lấy nước ở những quày hoa cái, bỏ thêm vào ống mấy mảnh vỏ cây có tác dụng lên men là có “bia” uống ngay. Quày hoa cái ngắn nhưng lớn, cho nước nhiều hơn hoa đực. Thứ nước cái này vị chua lẫn nồng ngọt dịu, sinh ga rất mạnh, làm cho con người ta trở nên lắm lời, nhiều ham muốn và thích nhảy múa. Độ chua càng lớn độ cồn càng cao và dùng nhiều gây nghiện. Tôi đã chứng kiến có lần lính ta mang một can 20 lít nước thốt nốt chua ra sân phơi nắng để uống cho thêm bốc. Một lát sau, cái can nhựa từ từ phồng lên hết cỡ rồi nổ bùm.
Nhưng những kẻ say sưa nước thốt nốt chua đầu tiên không phải là con người, mà là chính là loài ong. Vị men ngậy nắng thốt nốt chua quyến rũ lũ ong phóng đãng. Ong chui cả vào trong lòng ống, chìm ngập trong men. Ong chui ra ướt lướt thướt, khệnh khạng như một tay anh chị, lết bụng vẽ những đường vô nghĩa trên mặt tàu lá rộng. Rung cánh một lúc nó mới nhớ ra mình cần phải bay. Nhưng vừa bốc lên được nửa mét đã vội lộn xuống, đập bộp đứ đừ trên mặt đất. Để chống ong và để che mưa, người ta cài những mảnh lá thốt nốt trên miệng ống. Ong say là mồi ngon của sáo. Những con sáo tinh ma nhưng lười biếng, chỉ việc đậu trên tàu thốt nốt, chờ lũ ong say chui ra là tranh nhau đớp gọn món ong tẩm, khỏi mất công săn đuổi.
Lũ sáo này lại chỉ điểm cho chúng tôi những cây chắc chắn có ống thốt nốt chua. Bọn tôi thèm nên canh lúc đêm gần sáng vào ca gác cuối, áng chừng sắp đầy ống thì trèo cây nẫng tay trên, tháo về uống trộm. Dân thấy mất ống nhiều nên biết nhưng họ không dám nói. Để chống lại sự thất thoát, họ treo ống xong liền tháo luôn đoạn thang tre buộc dưới cùng đi. Sáng sáng khi đi lấy nước, họ vác cái thang thửa đến từng cây ốp vào. Nghĩ chua chát, hóa ra đười ươi giữ ống là thế này đây. Nhìn thấy tức mà không làm gì được. Thằng Xuân bọ liên lạc còn nghiện hơn, ra tận gốc cây chửi: “đ...m boòng pò ôn nhé, máu xương bọ còn không tiếc, boòng pò ôn lại tiếc bọ mấy cái ống nước thốt nốt à?”. Đám dân bạn không hiểu nó nói gì, nhe răng cười trắng lóa.