T
RONG MỘT BẬN TRÈO lấy lá thốt nốt để lợp nhà, thằng Quan, lính An Giang mới bổ sung về trung đội thông tin vớ được một ổ sáo non ba con. Nó hốt cả ổ vào mũ bưng về. Những cái mỏ há ra, viền mép còn vàng choé, loéc choéc gào lên suốt cả ngày đòi ăn. Cào cào châu chấu, con nào bằng đầu, con nào nhọn đầu cạp tất không phân biệt, không cãi cọ. Hầu như lúc nào chúng nó cũng đói, cũng tranh nhau ăn. Kém một miếng là khó chịu. Cho uống nước còn đơn giản hơn nữa. Thằng Quan chum miệng, phun một bãi nước miếng vào những cái mỏ đang há ra. Nó bảo như thế cho sáo nó nhớ chủ. Bây giờ thì bọn sáo đã biết bay chuyền. Trên cái mỏ vàng là một túm lông mào đầu rìu lúc dựng lên, lúc cụp xuống giữa đôi mắt linh lợi, nhóng nhánh đen trông rất ngộ.
Từ khi có bọn sáo buổi sáng không ngủ muộn được vì mới bảnh mắt, chúng nó đã gào điếc tai đòi ra ngoài lồng. Cửa lồng vừa mở là bay vù ra cái cây đổ nằm giữa suối. Quạt đuôi vãy cánh, dé mình quạt nước tắm. Quạ tắm thì ráo, sáo tắm thì mưa? Sai bét! Cả những hôm không mưa bọn sáo cũng tắm. Vệ sinh tỉa tót xong, bay vù vù về xâu vào rỉa bung cái nắp lồng nhốt châu chấu làm bữa điểm tâm. Bọn này rất khôn và lanh lẹn. Có lần tôi ngồi thái thịt thỏ do anh Nhương với thằng Tường lé săn về đêm qua. Ba con sáo thèm rỏ dãi, tất nhiên là nhảy chân sáo, lân la đến bên cạnh rỉa lông rỉa cánh. Chúng nó làm như không thèm quan tâm đến sự đời. Nhoằng một cái, một con lao vào cướp miếng thịt trên thớt rồi bay vù lên cây. Theo phản xạ, tôi vừa huơ tay xua thì hai con còn lại lao vào. Mỗi con tha một miếng tướng rồi biến nhanh như điện. Cũng giương đông kích tây, chính diện vu hồi bài bản. Lúc đầu còn buồn cười nhưng về sau đâm lo khi thấy chúng nó ngúc ngoắc cái cổ, cố tọng miếng thịt tướng đến phát nghẹn. May mà mãi nuốt cũng trôi.
“Côn ka keo ơi…” – (Này chim sáo ơi…) – là lời một bài dân ca Campuchia rất phổ biến. Những người lính Việt chiến đấu, công tác bên đó chắc chắn ai cũng thuộc một vài câu. Mấy thằng lính trung đoàn tôi ra ga lĩnh gạo và vũ khí, khi gặp mấy cô gái dân bạn cũng gân cổ hát nhàm tai bài này. Có điều chúng nó đã sửa lại lời rất quái quỷ : “Côn kà keo ơi! Si ây pu thum thum…?” (Chim sáo ơi! Mày ăn phải cái gì mà cái bụng to to….). Lời hát trêu chọc tuổi thanh niên vô tư lự, hồn nhiên làm các cô rúc rích cười đỏ lựng cả mặt.
Sáo là loài chim dễ thuần dưỡng và rất quyến người. Đi đâu, chỉ huýt một tiếng sáo là chúng nó theo liền. Con vù vù bay trước, con nhảy chân sáo loách choách theo sau, con đậu trên vai. Thằng Quan kiếm ớt chỉ thiên về cho sáo ăn để nó mau biết nói. Chẳng cách ly, cũng chẳng cần vải phủ lồng màu đỏ cầu kỳ như người ta nuôi chim chuyên nghiệp. Đến kỳ thích nói thích nhại thì cứ lẻo lẻo. Con nuôi của lính đương nhiên ngôn ngữ cũng của lính, toàn những từ cộc lốc, chửi thề bậy bạ. Có lần, các cán bộ đại đội đang họp trong nhà tiểu đoàn. Anh Chính tréc đang đứng lên phát biểu. Con này đậu ở cửa sổ, nghiêng đầu nghé mắt trông thấy buông luôn một câu tuy còn hơi ngọng nhưng mọi người đều nghe rất rõ: “Chíng chéc…! Chíng chéc...!”
Rồi bỗng dưng con sáo anh Nhương nhận nuôi lìa đời. Nó lìa đời bởi cái sự “dân chủ” nửa vời. Cứ mỗi chiều tối, chén kễnh xong là nó tự nhảy vào lồng. Bố này còn cẩn thận đi chốt cửa lồng lại theo thói quen. Nhẽ ra cứ để ngỏ cửa, coi đó như là một cái nhà của nó chứ đừng coi là cái lồng của mình thì nó còn cơ hội thoát thân. Một sáng thức dậy, tôi bỗng thấy là lạ vì không nghe tiếng nó đòi ra như mọi khi. Có gì đó có vẻ không ổn, tôi chạy đến ngó vào lồng bỗng thấy sởn gai ốc. Một con rắn xanh lét, mình sọc dưa dài đến gần 2m đang nằm khoanh trong lồng sáo. Nó đang ngủ. Khoảng giữa thân phình lên một cách quái dị. Chính nó đã nuốt chửng con sáo của chúng tôi mất rồi!
Thói tham ăn cũng làm hại con rắn. Cái bụng phình không cho nó rút trườn qua nan lồng được nữa. Tôi điên tiết khều cái lồng sáo xuống rồi gọi tất cả dậy. Phát gậy đầu tiên của anh Nhương chọc cái lồng sáo lăn nghiêng. Con rắn tỉnh giấc, ngo ngoe cái đầu bé tý kiếm lối ra. Phát gậy thứ hai, nhằm thẳng cái đầu con rắn vụt tới. Cái đầu nát toét mắc vào nan lồng. Thân mình nó xoắn lại, gồng lên. Một trận mưa gậy khác dần nó và cả cái lồng từ đầu đến đuôi nát bấy. Chỉ chừa lại khúc giữa theo yêu cầu của thằng Quan. Thằng này sợ con sáo trong bụng rắn bị đau thêm lần nữa. Mẹ kiếp cái loài bò sát máu lạnh kinh tởm này! Từ đó, cứ gặp rắn bất kể lành độc, chúng tôi đập phang cho kỳ chết.
Nuôi sáo như một phong trào. Dưới Đại đội 1, thằng Đặc nuôi một con sáo đen. Thằng Căn ra dân cũng xin bọn trẻ con được con sáo đá. Giống sáo đá lông ghi pha đen, cổ quàng khoanh lông trắng lớn con lắm mồm, nhưng chậm chạp hơn sáo đen. Sáo đá nhiều thằng bảo quê tao gọi là cà cưỡng. Chuyện giống loài, tên gọi tép tôm, cào cào châu chấu đã khởi đầu cho nhiều trận cãi nhau muôn thuở quê tao quê mày.
Thằng Đặc làm cho sáo đen cái lồng. Sáo đá của thằng Căn đầu tiên nuôi trong ống bơ. Nhưng giống sáo đá lớn nhanh, cái ống bơ chật nên lại gửi sang lồng sáo đen. Tuy vậy, giống sáo cũng không hiếu chiến như gà chọi hay họa mi. Chúng nó chung lồng nhưng không mổ nhau khi còn non. Chỉ tranh ăn những khi có châu chấu hai thằng bắt về.
Rồi sáo biết bay chuyền, nhớn nhao trưởng thành thành “ông kẹ” sáo do được lính chiều, chuyên gây phiền phức. Hai đứa đi chơi đâu là huýt sáo theo cho nó oai. Cứt sáo tanh lòm ỉa trắng vai áo lính nhưng tụi nó vẫn chịu được. Cứt ai vừa mũi người ấy, ăn chơi phải nghiến răng. Mấy con sáo còn thích phẹt vào áo của thằng Tào anh nuôi khi đang phơi, dường như ở đó có mùi gì hấp dẫn. Tào kỹ tính sạch sẽ, lại không yêu động vật nên có lần nó rình vồ được quả tang, dọa bóp chết toi. May nghĩ thế nào lại tha. Cả hội đang đánh tiến lên, con sáo nhảy vào cắp cái bút bi ghi điểm, bay ra suối thả tõm. Điên nổ ruột.
Lính 78 ở đơn vị tôi đến năm 1982, từ khi có Luật Nghĩa vụ quân sự được chiếu cố hơn. Tác chiến dài ngày lính cũ ít phải đi. Chỉ xuống anh nuôi giúp việc lặt vặt hoặc tăng gia rau cỏ, cải thiện chờ đợt ra quân gần Tết. Gia tài có gì đâu? Mấy chục phụ cấp tiền Rịa lẫn tiền Việt. Anh em còn ở lại trong bữa nhậu chia tay, góp vào mỗi người cho một ít như người ta bỏ phong bì đám cưới bây giờ. Màn mùng mới lĩnh đem mắc cho chó để liên hoan. Ra chợ làm đôi tông gan gà, ít xấp vải Thailand, đôi cục xà bông Camay, cái hộp quẹt ga sơn mài… nhét vào cái bồng lép kẹp là lên đường về quê mẹ.
Chuyến xe về nước trên thùng ngoài những cái bồng lép cũng có cả những cái ba lô căng phồng thuốc Samit, kem đánh răng 3 màu, vải ốt pho Thái của mấy anh sĩ quan Ph’nom Penh đi “công tác” nhờ xe lính ra quân. Sợ bẹp cái lồng sáo, hai thằng để lên trên đống ba lô. Sáo không phân biệt được ba lô lép của chủ, ba lô đầy của sĩ quan đi buôn. Cứ buồn ỉa là nó phẹt lung tung. Thấy sáo ỉa đầy nắp ba lô thuốc lá, các anh giắt K.54 tưởng mình to, tức tối bắt quăng cái lồng sáo đi. Một trái nặng nặng tròn tròn tức thì bỗng đâu gõ cái cốp vào mũ kèm theo những ánh mắt không thiện cảm gì. Từ đó các anh ấy chán, không thèm càm ràm nữa. Đời lính chiến thoát chết trở về có cái lồng sáo là quý nhất, có họa khùng điên mới dây với chúng nó làm gì.
Từ trạm Long Bình hành quân bộ ra ga Hố Nai, lên tàu hồi hương trên chuyến tàu áp Tết. Đến ga Đà Nẵng tàu dừng nghỉ lâu. Sân ga xanh rì áo lính tràn xuống ăn uống rửa ráy. Chợt thấy tiếng kêu thất thanh ở hàng cơm bên cạnh. Hóa ra hai con sáo thừa cơ lao vào cướp cá cơm với tôm kho của người ta đang ăn. Bộ đội cười rộ. Mấy cô mấy bà đang dùng bữa hẳn đã có chồng, nhưng chắc chưa thấy một giống chim nào láo như thế. Quả không hổ danh chim bộ đội. Thằng Căn vỗ bốp bốp vòi nước máy đang chảy gọi: “Sáo tắm, sáo tắm!”. Hai con sáo bỏ rình hàng ăn, sà xuống xòe cánh vãy đuôi quạt nước tung tóe la chí chóe. Dân tình bâu lại xem đôi sáo tắm trên sân ga. Có người nằng nặc đòi trả 70 đồng đôi sáo cọc cạch này. Một số tiền khá lớn lúc đó, nhưng chúng nó dứt khoát không bán. Chẳng ai đi bán đứng đồng đội bao giờ.
Qua đèo Hải Vân, ra đến đất Quảng Bình. Tàu bắt đầu chạy nhanh. Một con châu chấu ở đâu lạc vào bậu trên cửa sổ tàu. Thằng Đặc nhanh tay vồ được. Nó dứ dứ cho con sáo đen của nó nhưng con đá lại giật được. Vẫn sẵn tính thiên vị, nó mở lồng túm con đá, lấy lại con châu chấu cho con đen ăn. Con châu chấu hơi to, con đen cặp ngang mỏ lừa lựa xoay dọc để nuốt. Đã thế lại còn chui khỏi lồng, nhảy lên bậu cửa tàu để lảng xa con đá. Hấp! Một cơn gió phất qua bạt con đen khỏi ô cửa sổ. Thằng Đặc nhoài mình ra khỏi ô cửa gọi: “Ời ời sáo ơi, sáo à”... Tiếng gọi của nó lạc đi trong tiếng bánh sắt nghiến ray ầm ầm. Con sáo đen vẫn còn bay đuổi theo đoàn tàu mãi, đuối hơi rồi mất tích trong bầu trời phía sau.
Con sáo đá thằng Căn mang về quê, thôn Mai Hiên, Mai Lâm, huyện Đông Anh nuôi. Một thời gian sau cũng chết. Chắc vì nó cũng nhớ héo hắt trảng rừng K’Bal Tàhiên, nơi quê nhà của nó.