Chuyện Lính Tây Nam

Lượt đọc: 735 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Câu chuyện Ph’nom Penh

❊ ❊ ❊

T

HÁNG 5 NĂM 1982, anh Bến chủ nhiệm chính trị trung đoàn cử tôi về Ph’nom Penh học lớp viết tin theo giấy triệu tập quân đoàn. Chắc anh ấy thấy mấy bài bích báo của tôi ít lỗi chính tả, làm thơ hơi vần và có hình minh họa vẽ bông hồng cắm súng.

Tôi khoác ba lô ra S’toung đón xe lên đường. Sau hai ngày tăng bo trên đủ loại phương tiện, tôi cũng mò đến được tới nơi cần đến. Đón tôi là anh Lê Huy Khanh, sau này tôi biết là nhà văn quân đội. Tôi trình các giấy tờ cần thiết. Anh Khanh hỏi em đã in mấy tác phẩm rồi? Bút danh là gì? Tôi ngớ người hỏi lại tác phẩm gì ạ? Thì truyện ngắn hay thơ trên Văn nghệ Quân đội ấy.

Ông này đùa chắc? Một cái trích ngang ngắn được trình bày bằng mồm. Rằng em là lính Tiểu đoàn 4, em lên ban chính trị rồi được cử về đây đi học lớp viết tin. Anh Khanh cười ngất. Đúng là các bố quan liêu. Đây là trại sáng tác của Tổng cục Chính trị, chỉ dành cho các nhà văn quân đội. Thấy mặt tôi thuỗn ra, anh ấy lại càng cười tợn. Thôi, đã về đây thì cứ ở lại đây. Coi như cho chú nghỉ càn rừng mấy tháng. À có biết nấu ăn không? Tất nhiên là có rồi.

Các nhà văn quân đội các nơi tục tục về dự trại. Anh Nguyễn Quốc Trung cao nhẳng đen sì như lính Pốt. Môi cũng xám tựa làn da sốt rét. Đôi mắt lớn và giọng nói chậm hơi nằng nặng. Anh này trùm thêm cái khăn cà ma xuống đơn vị ban đêm thế nào cũng có đứa bắn nhầm. Anh Trần Đình Thế trắng trẻo đẹp giai như công tử màn bạc vừa bước ra từ vũ trường quận 1. Anh này mà bị một đại đội lính Pốt nữ nó vây thì chắc đời ra bã. Anh Ngô Quốc Dân mắt hơi hiếng, vui tính dễ gần, và là bạn tâm tình của tôi suốt thời gian này.

Mấy hôm sau, các nhà văn số 4 Lý Nam Đế góp mặt. Bác Vũ Sắc trưởng biên tập, bác Đỗ Gia Hựu giám đốc Nhà xuất bản Quân đội nhân dân sang trước. Trại viết do Quân đoàn 4 đăng cai. Anh Khanh trong vai trưởng trại, mời bác Sắc và bác Hựu về ở riêng trong cái biệt thự hai tầng gần đài phát thanh, lại kéo tôi về làm tiểu đồng điếu đóm. Công việc của tôi chẳng có gì ngoài ngày ba bữa xuống bếp trại gần đó lấy cơm. Đi chợ mua thêm những món cải thiện cho hai sếp theo yêu cầu của trưởng trại, không được để phích hết nước nóng… Tóm lại là làm cần vụ, thế thôi! Hai bác ở Hà Nội, lại phố ngay gần nhà nên mấy bác cháu rất thoải mái trong sinh hoạt. Anh nào sợ kiểm duyệt chứ tôi lúc đó thì không.

Cũng ở đây tôi gặp chú Bùi Minh Quốc to cao đẹp trai trong bộ gabacdin Tô Châu xanh mới cáu. Tôi hỏi sao chú lại lấy tên Dương Hương Ly trong các bài thơ. Chú ngồi cười hiền, giải thích Dương Hương Ly là tên con gái chú. Để tên tác giả thế cho đỡ nhớ nó. Buổi tối tôi hỏi bác Vũ Sắc em Dương Hương Ly có xinh không. Bác Sắc bảo: “Nó học giỏi lắm nhưng mắt cận nặng. Mày thích nó à?”. Tôi biết gì mà thích. Thấy thơ hay với tên đẹp thì mơ mộng đoán già đoán non thế thôi. Ai cấm?

Chú Duy Khán là người nhập trại sau cùng. Tác giả Tuổi Thơ Im Lặng người đen nhỏ, chiếc hộp đựng thuốc lá vụn bằng sắt tây kè kè giắt bên mình. Điếu thuốc cuốn dán bằng nước bọt không lúc nào rời khỏi miệng. Lúc đó, tập truyện này chú Khán mới viết đến chương Con Vện. Mọi người ngồi uống trà sáng. Chú Duy Khán đọc thuộc lòng câu văn đắc ý mới viết: “Nửa đêm mẹ về, gọi chúng tôi dậy. Mắt nhắm mắt mở tôi thấy nửa con chó luộc. Tịch buồn thỉu buồn thiu. Sớm, lúc quét nhà, thấy xương xẩu vung vãi, tôi lại nhớ Vện: Giá Vện còn nhỉ!...” Thằng bé con nó không biết vừa gặm xương con chó của mình. Bác Sắc tợp ngụm trà, bảo anh ác quá, ác quá. Bác Hựu phương phi to béo, không bình luận gì chỉ cười hề hề.

Ph’nom Penh không thu hút được tôi. Thứ nhất bởi tôi không có tiền. Lính chiến biên rừng có tiền hay không tiền cũng chẳng để làm gì. Nhưng buổi chiều thủ đô tưng bừng phố xá mà không tiền thấy mồm miệng nó nhạt lắm. Bước qua quán cà phê nhạc Thanh Tuyền, thấy tụi lính hậu cần vểnh râu cáo phì phà Samit tán con bé chủ quán mắt ướt mông to là đã thôi muốn quên đi, những muốn quên đi khoảng trời thương yêu rồi. Ghen tỵ là một thói xấu nhưng lắm lúc ước thèm còn khẩu AK, giật vài loạt cho tụi nó chạy có cờ chơi. Mẹ kiếp! Thứ nữa cũng bởi tôi thèm ngủ. Chắc tại nhịp sinh hoạt bình lặng quá nên lúc nào cũng buồn ngủ. Nằm giường chưa quen, con khỉ rừng Aural treo võng vào chấn song cửa sổ để ngủ cho ngon. Các anh ấy bận viết. Tôi rửa chén bát buổi sáng xong, ngồi ngó cây phượng vĩ đang nở hoa đỏ rực ngoài cổng. Ngó ra ngoài đường một lát là hai mắt bắt đầu díp lại như có bọ ngủ chui vào. Hôm nào nổi hứng thì hộ tống hai sếp đi dạo phố. Bác Sắc bảo: “Mày viết đi, nằm chảy thây mãi ra làm gì”. “Viết cái gì ạ?”.“Thì viết những tấm gương dũng cảm, viết những chuyện chiến đấu dưới tiểu đoàn mày ấy, đưa tao sửa cho. Chúng nó đầu tiên cũng như mày thôi. Viết đi đừng sợ”.

Gì chứ chuyện đánh nhau thì đầy. Thế là tôi viết. Cũng lên lĩnh giấy bút như ai, cũng một mình một phòng gò lưng cặm cụi. Thỉnh thoảng hứng chí lại gác chân lên bàn đốt một điếu CAPSTAN mua được do ăn bớt tiền đi chợ. Nhìn khói thuốc bay qua cửa kính chiều mưa, lòng bồi hồi rạo rực vì sắp thành nhà văn đến nơi. Đúng ba hôm sau, tôi trình trưởng biên tập một tập linh tinh chuyện thượng vàng hạ cám dưới tiểu đoàn. Bác Sắc đọc xong im lặng một lúc, hỏi: “Này sao chết nhiều như thế hả mày?”. “Vâng, thế đấy ạ!”. Bác lẳng lặng cất luôn cái bản thảo đầu tay của tôi vào cặp riêng, không nói gì. Mấy hôm sau lại bảo: “Hay mày viết những chuyện khác đi, đừng viết chuyện đánh nhau nữa. Chuyện dân vận chẳng hạn. Có khi tạng mày viết những chuyện như thế lại ăn tiền”. Lại “Vâng!”. Lại mấy ngày đăm chiêu bóp trán giả vờ suy nghĩ cấu tứ, rình hai sếp sang bên trại văn là tranh thủ ngủ. Không ngủ thì lang thang tiêu khiển, xem tụi vệ binh rà điện bắt cá quanh cống rãnh doanh trại. Những chuyện dân vận là gì? Mấy năm đánh nhau dưới tiểu đoàn toàn chui rừng, mới lên ban chính trị mấy tháng, có bao giờ tham gia trực tiếp vào đời sống xã hội dân bạn đâu? Biết gì mà viết ạ? Chia gạo cho dân đói, cấy lúa giúp dân, dạy những bài hát nhảm nhí xuyên tạc cho bọn trẻ con, tiêm thuốc cho người bệnh thì hẳn là dân vận rồi. Nhưng nhất thiết không được kể những chuyện ra dân xin chó, chui bụi ngó trộm con gái tắm suối bị kiến cắn sưng mông, nhậu say lăn ra nhà bà giá ngủ… Nhớ chưa!

Vậy là tôi bắt đầu mê mải viết câu chuyện tôi tự tưởng tượng, coi như một bài tập làm văn thi học kỳ. Đó là câu chuyện về tình bạn giữa một anh lính Việt và một thanh niên Campuchia. Anh lính Việt tìm thấy và cứu được anh bạn này khi đang gần chết đói ở Biển Hồ. Anh bạn Campuchia đi lính Hun Xen vì có mối thù riêng với Angka, tổ chức đã bức giết cô gái người yêu của anh ấy. Bối cảnh hai người bạn gặp nhau tại nhà một ông già làm đường thốt nốt và thuộc nhiều chuyện cổ về ma cọp. Cổ tích huyền thoại và hiện tại cách mạng đan cài trong vị men đắng của nước thốt nốt chua cùng xâu cá kết khô. Kết luận: Angka và ma cọp tàn ác chẳng khác gì nhau, phải chung sức đánh đuổi nó. Sáng hôm sau, đơn vị của hai anh cùng lên biên giới. Đại khái thế!

Đặt tên đứa con tinh thần của mình là Men Thốt Nốt, tôi lại nộp cho bác Sắc. Đọc xong, sếp khoái trá ra mặt, sửa chữa chút ít rồi mang truyện ngắn của tôi ra đọc rút kinh nghiệm trước toàn trại viết. Chú Duy Khán bảo thường thôi, thường thôi. Anh Khanh khen có không khí lắm. Các anh khác không nói gì vì bận sáng tác, chưa xong truyện nào. Anh Dân đang viết dở truyện của anh ấy, phải quay sang đánh máy cho tôi vì cả trại chỉ có một cái máy chữ duy nhất và mỗi anh ấy biết đánh máy. Khi gõ xong câu chuyện, ở phần tên tác giả, anh Dân cười hô hố rồi gõ: Đại Văn Hào Phố Phùng. Nhà tôi ở Hà Nội lúc đó đã chuyển từ Hàng Khoai về Phùng Hưng, không ở cùng ông bà ngoại nữa. Nhà mới cách cơ quan các bác bên phố Lý Nam Đế cái cầu đá xe lửa. Cùng dân Hà Nội, lại thấy tôi bằng tuổi con mình mà dấn thân chiến trường xa xôi nên các bác ấy thương. Bác Vũ Sắc ở làng Hoàng Mai. Cứ mỗi sáng Chủ nhật, nghe tiếng flute dặt dìu say đắm thổi bài Khát vọng trong chương trình Văn nghệ, bác lại nháy mắt hãnh diện: “Đấy đấy, nó chơi đấy”. Nó ở đây là anh Dương nhạc công, con trai bác và cũng bằng tuổi tôi.

Phòng Chính trị Quân đoàn bồi dưỡng cho trại viết hai con heo. Các cây bút văn chương cự phách không ai biết làm thịt. Nhà văn nhà thơ chẳng ai đi thịt heo bao giờ. Được giao việc, tôi sang đại đội vệ binh nhờ anh em chọc tiết, cạo lông rồi chia thịt trả công. Một loáng, hai con heo đã phanh bụng móc hàm trắng hếu. Các anh ca cẩm có mỗi chục mống ăn thế chó nào hết được. Thì bán bớt đi mua thêm thứ khác, tôi xúi. Thế mày đi bán đi. Tôi gọi xe lôi, chất một con heo lên xe chạy thẳng ra chợ Olympic. Xe dừng, cánh lái thịt ào đến ngay. Không nhớ là đã thu bao nhiêu tiền nhưng tôi bán đứt con heo chỉ trong vòng 5 phút, khi Thanh Tuyền trong băng cối thằng hàng cà phê đầu chợ chưa kịp buồn xong Nỗi buồn hoa phượng.

Trở về, tôi đưa tiền cho anh Khanh sau khi đã trích lại khoản cà phê tối tự thưởng. Bữa cơm chiều, xoay trần làm đủ các món heo cho mâm bốn người. Đến lúc ăn, anh Khanh lôi ra chai rượu Thằng Gồng với bốn cái ly hạt mít. Bác Sắc khoái trá hỏi tôi: “Mày có biết uống không?”. “Dạ, kh…ô…ông… ạ!”. “Thế thì tốt! Nhưng hôm nay vui thì cũng làm vài chén đi”. “Vâng…ạ!”. Tôi nâng niu nhấm nháp ba ly cho các anh vui lòng, bụng nghĩ cái chai kia nếu Cáp đen chưa tử trận chỉ tợp dăm hụm là hết sạch.

Rửa chén bát xong, tôi xin phép chuồn ra phố. Lang thang từ đài phát thanh ra đến Cầu Sập phải hơn 1.5km đi bộ. Trên cầu, hàng nhậu đêm, hàng nước giải khát đốt đèn trứng vịt lốm đốm. Tôi gọi một chai 65, vài con khô nướng rồi ngồi kê dép thõng chân ngay đoạn đứt cây cầu, cảm nhận tận cùng cái hụt hơi của cao độ xuống lòng sông. Tonle Sáp dưới chân sáng mờ cuồn cuộn sóng. Độc ẩm nhưng sao rượu vào như thể. Mà cũng đâu phải là độc ẩm. Mới phần ba chai, tôi đã choáng thấy bạn nhậu xuôi dòng. Ờ! Thì tao uống với mày, uống với dòng sông đêm hơn ba năm trước, tiểu đoàn tao đã ngược lên đánh trận U Đông. Hơi rượu vào trong gió sông thổi mạnh. Gió ù ù thổi khiến thoáng lạnh hồn. Anh em tao đấy, anh em tao đang về theo gió đấy. Tụi nó đã hy sinh khối. Còn mày chắc cũng thương tích đầy mình. Nhất là cái trận cồn sông tụi giang hạm nó giã cối 81, trúng địch thì ít mà trúng mày thì nhiều. Cá chết trắng hết. Thôi tao đổ xuống chén rượu đền mày. Xa tít bên cầu, nơi những đám mây vần vụ, chớp giật nhoang nhoáng kia là quê cha quê mẹ tao. Chớp đông nhay nháy, gà gáy thì mưa mày có biết không?

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 30 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.