C
Ó NHỮNG THỨ rất bình thường người ta hay quên, thì ghi lại để nhắc mình thêm mốc nhớ, là nhớ những miếng nước bình thường quân ngũ.
Đầu tiên phải là nước gạo rang. Chắc như bắp, đơn vị nào cũng như đơn vị nào. Xuống hậu cần xin lẻ gạo, bỏ vô chiếc xoong nhôm móp trung đội, rang nhỏ lửa cho hạt gạo tím sậm vỏ ngoài, có thể quậy nhanh tay đũa, để thêm cho thấy vài sợi khói nhẹ bốc lên thơm cháy, sau đó đổ nước đun sôi. Trong lòng chiếc chén kiểng mang đi từ độ Ph’nom Penh, một thứ cà phê lính rừng không tên vàng trong, càng để lâu càng sậm, có vị thơm bùi dễ uống.
Thứ nhì kể đến nước hà thủ ô. Loại nước này mất công hơn. Dây hà thủ ô rất sẵn ở bìa rừng, quanh cứ. Một loài dây leo thân nâu tím, xoắn bện vào với nhau nếu không bám được vào chỗ nào để vươn lên đón nắng. Lá hà thủ ô mọc đối, hai mặt mịn một lớp lông tơ bàng bạc. Chiếc lá bứt ra khỏi thân dây, một đốm sữa trắng đục mọng dần, dinh dính bám tay người hái. Cẩn thận kỹ tính hơn, thằng Đại còn vác xẻng đi đào củ hà thủ ô từ sáng sớm, vừa đi vừa huýt sáo một giai điệu đầy tiếng gió. Răng nó bị hô, và nó đang phấn đấu vào đảng.
Dây, củ hà thủ ô mới hái về chớ nên đun nước uống ngay, trừ khi cấp tốc. Củ hà thủ ô đen đủi nhưng khi thái ra màu trắng bột, có vị đắng. Muốn ngon, muốn thơm phải phơi héo nửa nắng mới đạt. Nước hà thủ ô vàng xanh, không đắng mà lại có vị mát ngọt. Buổi tối bên chén nước hà thủ ô đặc sánh, thằng Đại vổ bắt đầu câu chuyện muôn thuở: Hồi trước chiến tranh, ở cơ quan tớ... Thằng Đặc cắt ngang, cười nham hiểm hỏi trước anh cơ quan nào ạ? Đại bảo à à... tớ cơ quan thủy nông của xã. Thằng Đặc rồ lên chửi: “Thôi thôi đèo mẹ! Ông đừng có tinh tướng. Ở đội thủy lợi 202 đào mương cuốc ruộng, be bờ ăn công điểm nói mẹ ra cho nhanh. Cơ quan thủy lợi xã... Bố mày sốt ruột!”.
Ra ở trong dân không có hà thủ ô nấu nước thì có lá xoài. Lá xoài tươi bánh tẻ vài chiếc thả trong xoong nước đun cũng có nhang nhác vị chát của lá vối. Phải cây xoài cao lại không có sào, thằng hái lá chết khổ với lũ kiến vống. Loài kiến chân dài chạy nhanh, mình trong suốt vàng óng. Chúng vụng về khâu những túm lá xoài với nhau lại thành ổ, kết với nhau bằng các sợi tơ trắng. Mỗi cây xoài có tới cả chục cái ổ như thế. Nghe động cành, lũ kiến xông ra hung hăng, ngoạc hai chiếc răng tổ bố cắn ngập hàm vào thịt da kẻ xâm phạm lãnh thổ. Răng kiến cắn, đít kiến thon nhọn chổng vống lên sát đầu, phun nước đái mịt mù vào vết thương quân địch. Điên tiết vuốt cổ siết đập mấy nhát cho chết mẹ tụi tấn công liều chết cực đoan, thấy một mùi chua nhác của thứ a xit sinh học chứa trong máu kiến.
Đứng dưới trông lên, từng vệt nước đái kiến lỏa tỏa qua khe nắng vòm lá buổi chiều. Có đôi giọt li ti rơi vào lòng mắt, bỗng cay sè như khi nhớ tới quê nhà. Kiến vống cắn đau đái xót nhưng không độc, không gây sưng buốt như kiến lửa. Chỉ tụt xuống đến gốc cây là hết xót. Có câu ca dao con kiến mày leo cành đa, nhưng không có con kiến leo phải cành xoài. Leo phải cành xoài kiến đốt đau lắm em à!