Trại phân loại Immari
Marbella, Tây Ban Nha
Kate ép Martin ăn thêm chút kẹo – một phần bữa “buffet” nhỏ mà Shaw đã gom góp được. Cô đưa chai nước lên môi Martin và ông uống nước với vẻ thèm thuồng. Dường như ông uống bao nhiêu cũng không đủ.
Shaw đứng trong góc, trưng ra cái vẻ, Chuyện này thật phí thời gian và có thể khiến ta bị giết chết. Kate chưa gì đã hiểu được anh ta đến vậy.
Cô hất đầu về phía cánh cửa đôi màu bạc. Shaw đảo mắt bước ra ngoài.
“Martin, con cần hỏi về những ghi chú của ba. Con không hiểu.”
Đầu ông cứ rướn lên rồi lại ngật ra trúng ngăn tủ. “Câu trả lời nằm ở… người chết. Người chết và bị chôn. Không phải ở người sống.”
Kate lau hàng mồ hôi mới đổ trên trán ông. “Chết và bị chôn? Ở đâu? Con không hiểu.”
“Tìm các bước ngoặt. Khi hệ gene biến đổi. Chúng ta đã tìm... không còn sống. Chúng ta đã thất bại. Ba đã thất bại.” Kate nhắm mắt rồi dụi mí. Cô cân nhắc việc cho ông uống thêm steroid. Cô cần câu trả lời. Nhưng quá rủi ro. Cô cầm lấy lọ prednisolon.
Cửa bếp hé ra, Shaw thò đầu vào. “Có chuyện rồi. Ta cần đi ngay.”
Kate gật đầu tán thành rồi giúp Shaw nâng Martin lên và đưa ông ra khỏi tòa nhà. Qua cửa xoay, vừa nhìn thấy khu trại, cô dừng khựng lại. Dòng người bất tận trong tòa tháp của người sống sót tràn ra khoảng sân. Các cây cọ lắc lư phía trên đám đông ào ạt bên dưới. Lính gác đang vẫy đèn pin lùa mọi người. Một tàu biển khổng lồ đậu sừng sững, lấp bóng bờ biển. Ai nấy đều chạy lên hai bờ dốc cực lớn, như thể đó là con thuyền Noah.
“Bờ dốc đằng kia,” Shaw nói khẽ và bắt đầu kéo Martin đi.
Bốn lính gác đang canh bờ dốc đằng xa kia nên Kate nghĩ đó là điểm lên tàu của những kẻ trung thành với Immari.
Con tàu dần rõ nét. Đây là một con tàu sang trọng, từng được sơn màu trắng, nhưng giờ lại trông như tàu ma, Kate thậm chí còn băn khoăn không biết nó có nổi được không nữa.
Shaw lanh lẹ nói gì đó với mấy tên lính gác, đại loại là tác dụng của “hơi nhiều xi rô ho” và “mai trời lại sáng ngay thôi”.
Kate nhẹ cả người khi họ qua được trạm kiểm soát một cách dễ dàng và chìm vào dòng người đang leo lên dốc. Đến đỉnh, họ rẽ vào một hành lang đóng kín ở hai đầu nhưng trên nóc lại mở đón ánh trăng. Có cảm giác như đây là chuồng gia súc ở một hội chợ bang hay một giải đấu gia súc. Shaw dẫn họ len lỏi mãi trong hành lang, về phía trung tâm tàu. Họ phải dừng lại hai lần để Martin thở, đứng dựa vào tường trong khi hàng người lướt vòng qua họ và lấp kín phần hành lang phía trước. Có những cánh cửa dẫn đến các buồng vuông vắn dọc hành lang và mọi người cứ tới ních chật mỗi phòng.
“Ta phải xuống dưới, xuống một cabin. Các buồng phía trên đến sáng mai sẽ thành địa ngục đấy.” Anh ta chỉ Martin. “Ông ấy sẽ không được ổn đâu.”
Đến cuối hành lang, họ trèo xuống vài lượt thang, sau đó đi qua một loạt hành lang nữa cho tới khi tìm thấy một phòng trống. “Ở yên đây, giữ im lặng và đóng chặt cửa. Khi nào về, tôi sẽ gõ ba lần, mỗi lần ba cái,” Shaw nói.
“Anh định đi đâu?”
“Lấy đồ tiếp tế,” anh ta bảo rồi kéo cửa đóng chặt trước khi Kate kịp trả lời. Cô đóng chốt khóa cửa.
Khoang tàu này tối đen như mực. Kate mò mẫm xung quanh tìm công tắc nhưng chả thấy gì. Cô lấy cây đèn trong ba lô soi tỏ khoảng không gian nhỏ. Martin nằm dựa vào tường, thở hổn hển. Kate đỡ ông lên một chiếc giường tầng. Đây rõ ràng là khu thủy thủ đoàn: hai chiếc giường tầng và một cái tủ nhỏ ở giữa phòng.
Cô lôi điện thoại vệ tinh ra và kiểm tra màn hình. Mất sóng. Cô cần lên trên để nói chuyện điện thoại nốt. Cô cần câu trả lời. Cuộc nói chuyện với Martin không giúp được gì mấy. Điểm biến đổi gene. Câu trả lời... người chết và bị chôn.
Kate cảm thấy kiệt quệ. Cô duỗi người nằm trên giường đối diện Martin. Cô sẽ nhắm mắt nghỉ, chỉ một lúc thôi, chỉ để giúp cô suy nghĩ.
Cô nghe thấy tiếng Martin ho đều đều. Cô không biết bao nhiêu thời gian đã trôi qua, nhưng cô nghĩ mình cảm thấy con tàu khổng lồ đang di chuyển. Một lúc sau, cô chìm vào giấc ngủ.

Kate đang để chân trần, và chân cô hầu như không gây tiếng động nào trên sàn cẩm thạch. Trước mặt cô, một cánh cửa tò vò bằng gỗ lừng lững cuối hành lang dài. Bên tay phải cô hai cánh cửa y hệt lùm lùm. Cánh cửa đầu tiên đang mở: cánh cửa nơi cô đã thấy David. Cô ngó vào. Trống trơn. Cô bước qua cánh cửa thứ hai ở bên phải và đẩy mở. Căn phòng tròn đắm mình trong ánh sáng từ những cửa sổ bật tung và các cửa đi khung kính mở ra một hàng hiên. Biển xanh trải rộng bên dưới, nhưng không có con thuyền nào, chỉ có một bán đảo với những ngọn núi phủ cây và mặt nước đằng xa, xa đến hết tầm mắt cô.
Căn phòng này rất thưa đồ, có mỗi một bàn thiết kế bằng thép, mặt bàn làm từ gỗ sồi. David ngồi sau bàn, trên một chiếc ghế sắt cũ kỹ.
“Anh đang vẽ gì thế?” Kate hỏi.
“Một kế hoạch,” anh trả lời, không ngẩng lên nhìn cô.
“Kế hoạch gì?”
“Chiếm một thành phố. Cứu mạng người.” Anh giơ lên một bức vẽ ngựa gỗ tỉ mỉ.
“Anh có thể chiếm thành bằng một con ngựa gỗ sao?”
David đặt bức vẽ xuống và tiếp tục công việc. “Trước đây từng xảy ra rồi...”
Kate mỉm cười. “Ừ, phải.”
“Xảy ra ở thành Troy.”
“Ồ đúng thế. Em đã nghĩ Brad Pitt đóng phim ấy rất đạt.”
David lắc đầu. Anh xóa vài nét trên bức vẽ. “Như mọi sử thi đồ sộ khác, người ta nghĩ nó chỉ là một câu chuyện cho đến khi tìm thấy chứng cứ khoa học về sự tồn tại của nó.” Anh quẹt nốt vài đường chì, ngồi ngả ra sau, rồi chăm chú nhìn bức vẽ. “Nhân tiện, anh giận em lắm đấy.”
“Em?”
“Em đã bỏ anh lại. Ở Gibraltar. Em không tin anh. Anh đã có thể cứu em.”
“Em không có lựa chọn. Anh đã bị thương…”
“Đáng nhẽ em nên tin anh. Em đã đánh giá thấp anh.”