Tháng chín năm ngoái, nhà văn Nhật Bản, ông Thủy Thượng Miễn sau khi tham quan Thành Đô về, có ghé qua Thượng Hải. Tôi tiếp ông ở nhà riêng. Ông nói với tôi là ông có đến xem ngôi nhà cũ của tôi, chỉ thấy một gốc cây khô và một khoảnh vườn trống. Ông không rõ cây ấy là cây gì. Ông vỗ nhè nhẹ vào vỏ cây sần sùi, tưởng tượng những gì đã xẩy ra.
Ông Thuỷ Thượng là bạn tôi. Đúng như ông nói: sức mạnh văn nghệ đã gắn bó hai chúng tôi. Năm 1963, tôi đến nhà ông ở Đông Kinh, thăm ông, chúng tôi hứng thú nói chuyện về vị Tổ thứ sáu Nam Tông, Huệ Năng[1]. Năm 1979, tôi lên Bắc Kinh dự hội nghị, nghe nói ông và Tĩnh Thượng Tịnh sang tham quan, rồi liền đến khách sạn Bắc Kinh, thăm hai ông. Tôi nói cho ông biết tình hình sau khi hai chúng tôi từ biệt nhau năm xưa. Năm 1980, tôi sang Đông Kinh lần thứ Tư. Một buổi sáng mùa xuân trong trẻo, chúng tôi ngồi ở khoảnh vườn nho nhỏ còn giữ phong vị Nhật Bản, ở khách sạn Tân Đại Cốc, nói chuyện về đời sống văn học, và quan niệm nghệ thuật, suốt cả buổi sang. Cái hộp đựng các bức ảnh để trên giá sách của tôi bốn năm nay thường làm tôi nghĩ tới tình bạn của nhà văn Nhật Bản ấy.
Ông Thuỷ Thượng về nước không bao lâu thì Hội Liên hiệp giao lưu văn hoá Trung - Nhật gởi cho tôi bài "Thăm ngôi nhà cũ của Ba Kim". Đọc bài ông, tôi phảng phất như trở về cố hương mà tôi đã từ biệt năm 1929. Con mắt ông nhìn thấy những gì tôi muốn biết, kể cả con phố rộng thênh thang, ngôi nhà lầu ngay ngắn...
Lại cả gốc cây khô "trơ trụi lá" ấy nữa. Trong ký ức tôi, không hề có cây khô ấy. Ngày trước, ở cái thiên tỉnh nhỏ ở cổng hoặc ở căn phòng bọn đầy tớ ở, không có cây. Có thể sau khi tôi đi rồi, người ta mới trồng. Tôi xa nhà đã sáu mươi năm nay, mấy tháng trước, chú em tôi đi công tác Thành Đô, tranh thủ đi qua "ngôi nhà cũ", có trông thấy hai cây ngân hạnh lớn. Tựa hồ chú ấy có nhận ra phòng đầy tớ ở ngày cũ, nhưng chú ấy cũng không nhớ có hai cây ngân hạnh. Hồi tôi vào nằm viện lần thứ hai, có người đưa cho con gái tôi mang vào tờ "Phú Xuân giang hoạ báo" của tỉnh Triết Giang vừa xuất bản, trong đó, chọn in một số tranh sơn dầu của các hoạ sĩ Tứ Xuyên. Có một bức đề là "Nhà cũ Ba Kim" của đồng chí Hạ Đức Hoa. Trong bức tranh này, đúng là có gốc cây già trơ trụi lá. Nó không giống gốc cây khô, to bằng bắp vế mà ông Thuỷ Thượng trông thấy. Có lẽ đó là một trong hai cây ngân hạnh mà chú em tôi thấy chăng. Trong đầu óc, tôi không có một ấn tượng nào, nên không phán đoán được. Nhưng tôi muốn được sờ đám đất ở đó mọc lên gốc cây to kia biết bao nhiêu! Tôi muốn được như ông Thuỷ Thượng vỗ vỗ thân cây thô tháp, xù xì kia biết bao nhiêu!
Nằm trong bệnh viện, nghe nói nữ sĩ Tả Đằng Thuần Tử cùng sang Trung Quốc tham quan với ông Thuỷ Thượng, có đến Thượng Hải, tôi nhờ người đi tìm, yêu cầu nữ sĩ đưa bức tranh kia lại cho ông Thuỷ Thượng. Sau đó, tôi lại nhận được bài thứ hai của ông Thuỷ Thượng "Tìm thăm nhà cũ" cắt ở bức hoạ báo, do nữ sĩ Tả Đằng chuyển.
Tôi theo bước chân ông Thuỷ Thượng trở về ngôi nhà cũ ở Thành Đô, nhưng không thấy những nơi và những cảnh vật quen thuộc. Tôi nhớ, tháng 4 năm 1980, ở Đông Kinh, gặp ông Tri Điền Chính Hùng, người cùng đoàn du lịch từ Thành Đô về. Ông ta cho tôi một xấp ảnh chụp ngôi nhà cũ của tôi. Những bức ảnh này sau đăng trên tạp chí "Dã thảo". Trong ảnh, tôi thấy, có cái giếng đó là có thực, và là "dấu vết cũ" duy nhất mà ông Trì Điền chụp. Tôi nhớ cái giếng ấy, vì trong cuốn tiểu thuyết "Thu" của tôi, Thục Trinh nhảy giếng tự tử, chính là cái giếng này. Năm 1958, trong bài "Bàn về sáng tác cuốn Thu", tôi có viết như sau: "Ngày nay nó còn ở nguyên chỗ cũ. Tháng 12 năm kia, tôi có về đó một lần. Tôi từ biệt cái giếng ấy đã 33 năm, nó vẫn cũ kỹ như trước kia. Cạnh bờ giếng có một cây tùng, trên thân cây có một cành cụt, xù xì, ấy là chỗ người đầy tớ nhà tôi ra gánh nước thường mắc đòn gánh. Cây tùng giống như một người bạn cũ trung thành, ngày nay vất ở cạnh bờ giếng. Nhưng trong tấm ảnh ông Trì Điền chụp chỉ có cái giếng trơ trọi, chẳng hay cây tùng đã bị đẵn đi lúc nào? Ông Thuỷ Thượng không trông thấy cái giếng, có lẽ người ta không dẫn ông đến xem, hay là giếng bị lấp rồi. Dù sao, quá khứ vẫn là quá khứ, thời cũ và những di vật của nó, thì hãy chôn hết vào lãng quên cho rồi!
Nhưng tôi còn muốn nói về ngôi nhà cũ của tôi.
Tháng 5 năm 1923, tôi từ biệt ra đi, năm ấy ngôi nhà chưa có gì thay đổi. Đôi ang to tướng trước thềm ở cổng, thanh gỗ ngang bọc sắt ở bậc cửa, câu đối gỗ chữ đen trên nền đỏ ở tường: "Quốc ân gia khánh", "Nhân thọ niên phong". Tôi đã đưa tất cả những cái đó vào cuốn tiểu thuyết "Gia đình" của tôi. Cái công quán họ Cao trong bộ tiểu thuyết ba tập "Dòng nước xiết", tôi cũng tả ngôi nhà cũ của tôi. Cả hai "vị thần giữ cửa, tay cầm đại đao, đầu đội trời, chân đạp đất, sơn xanh đỏ" trước cổng lớn ngôi nhà tôi. Khoảng năm 1924, khi tôi ở Nam Kinh, thì Thành Đô mở đường lớn, cổng nhà tôi phải lùi vào; kết quả: không còn đôi ang đá, sư tử đá, câu đối gỗ nữa. Mặt cổng mới, tôi chỉ thấy một tấm ảnh lờ mờ không rõ. Nghe nói hai bên, còn có hiệu buôn, trong ảnh, cũng không thấy.
Tôi bắt đầu viết bộ "Dòng nước xiết" năm 1931, lúc đầu không có kế hoạch gì to tát, nghĩ gì viết nấy, không ngờ đã tả công quán họ Cao giống như ngôi nhà của chúng tôi, lại là ngôi nhà tôi đã nhìn quen, trước khi xây cổng mới. Từ cổng đi vào, qua vòm cổng, qua thiên tỉnh, đến cổng thứ hai, lại qua thiên tỉnh, lên đại sảnh, đi vòng cửa ngách, lại qua thiên tỉnh trong, lên nhà chính và đi vào các phòng. Qua mé nhà bên trái, qua con đường tắt là đến phòng của Giác Tân; đi vào phía trong, một bên là vườn hoa, một bên là phòng nơi đầy tớ ở và bếp, rồi mới đến phòng của Khắc Minh. Men theo cửa sổ phòng thứ ba, đi qua một cửa nhỏ là Quế đường, sau Quế đường là vườn trúc. Tất cả những cái ấy đều tả theo sự thực. Trong tiểu thuyết chỉ có vườn hoa là tôi tưởng tượng ra thôi. Bấy giờ tôi lấy công quán của chúng tôi làm bối cảnh, chẳng phải là có ý tuyên truyền cho nó, mà chỉ là vì tôi không vạch kế hoạch tỉ mỉ. Nếu như trong trí óc không có một mô hình nào, thì thế nào cũng tả trước quên sau, trái ngược lung tung, độc giả chẳng biết đâu mà lần. Về vườn hoa, nhà cũ của chúng tôi chỉ có đoạn tả cảnh phía ngoài cửa sổ, thì có thể thấy cái giếng và cây tùng. Vườn hoa của chúng tôi nhỏ thôi. Phần lớn các bộ phận khác ở phía cổng trong, cảnh vật đều thực, tôi cũng miêu tả trong một cuốn tiểu thuyết khác "Tức viên" vườn nghỉ, Cho nên gần đây tôi có nói với ông bạn Nhật Bản, Thông Khấu đi tham quan Thành Đô rằng: "Đến Thành Đô, ông chẳng nên tìm nhà cũ của tôi làm gì, ông cứ lấy các phòng tả trong "Gia đình" và cái vườn hoa tả trong "Tức viên" ghép lại, là ngôi nhà cũ của tôi đó".
Tôi xa nhà, mười tám năm sau mới trở lại Thành Đô lần đầu. Một buổi chiều, tôi đi trên con đường quen thuộc tìm dấu vết của tôi, bạn lứa ngày trước, chẳng biết họ tản mát đâu hết cả. Một bức tường cao vút vô tình chắn ngang trước mặt tôi. Người gác cổng ra nhìn tôi, với cặp mắt hoài nghi. Cạnh cổng lớn vừa mở ra, tôi thấy trên tường trắng xoá có một bức vẽ hình tròn, trên khảm bốn đại tự chữ triện đỏ chói: "Trường nghi tử tôn". Bức tường ấy vốn có mười tám năm trước. Tôi không làm sao xem lại những cái khác được nữa. Nghe nói nơi này là nhà ở của Lưu Triệu Lê, Trưởng Bảo an đương thời. Bức tường ở cổng có đề hai chữ đại tự "Lê các". Tôi đi qua trước cổng "Lê các" mấy lần, nhớ lại những chuyện ngày trước. Về sau, tôi viết thiên tản văn "Ánh đèn Ai - Nhi - Khắc". Đó là đầu năm 1941.
Năm 1942, tôi về Thành Đô chữa răng, ở lại khoảng ba tháng, không đến đường Chính Thông Thuận lần nào, nghĩ bụng từ nay về sau mình không nên đến đó làm gì nữa!.
Tháng 12 năm 1956, sau Giải phóng, tôi trở về Thành Đô lần thứ ba. Nghe nói ngôi nhà cũ của tôi bỏ trống, chẳng ai ở cả. Một hôm, ngồi chuyện gẫu với đồng chí Lý Tông Lâm, bấy giờ ông giữ chức Thị trưởng Thành Đô. Ông ta hỏi tôi: "Ông có muốn đến đó xem một chút không? Tôi nói: "Xem lại một chút cũng hay". Ngày hôm sau, ông ta đưa xe hơi đến Chiêu đãi sở, bảo tôi đi đến đường Chính Thông Thuận. Hôm ấy, có cô cháu gái đang cùng tôi ngồi nóichuyện, cùng đi.
Vẫn là cái cổng có hai chữ "Lê Các". Phía trong cổng có cửa lắp kính màu, không còn thấy bức vẽ "Trường nghi tử tôn" đâu nữa. Cũng không thấy vườn hoa. Cổng trong vẫn còn. Đại sảnh vẫn còn. Cửa giữa vẫn còn. Nhà chính vẫn còn. Các phòng nhỏ vẫn còn. Phòng của anh Cả vẫn còn. Quế đường ở phía sau vẫn còn. vẫn còn hai cây quế, cả cây hương xuân. Vườn trúc ở sau Quế đường hình như vẫn giống hồi tôi ra đi. Sau đó tôi đi qua cái cửa nhỏ cũng trở ra, đi qua cửa sổ phòng chị Ba, đi qua con đường hẹp đến tam cấp lên phòng anh Cả, đến căn nhà nhỏ cửa sổ lắp kính. Cái nhà nhỏ lắp kính, trong Dòng nước xiết không có. Ngôi nhà cũ của tôi, không hề có căn nhà đó. Tôi còn nhớ năm anh Cả tôi cưới vợ, thầy tôi cho chữa cái chái bên trái căn phòng chúng tôi thường gọi là "phòng đóng dấu" thành ba phòng nhỏ, có hai phòng mở ra con hẻm ra vườn, để cho anh Cả ở, có một gian rất gần cửa ngách mở về phía thiên tỉnh trong, để cho anh Ba tôi và tôi ở. Hai ba năm trước, khi tôi ra đi, anh Cả tôi đã có con, không đủ chỗ ở, thầy tôi lại lấy hai khoảng đất nhỏ bên phải, bên trái thềm ở cổng trong xây thành một gian nhà nhỏ, cửa sổ ô vuông, lắp kính cho anh Ba tôi và tôi ở bên trái, còn gian bên phải bỏ trống. Căn nhà là cánh cửa kính, đối diện là cửa bé của cổng trong cửa sổ con và mặt nữa là vườn hoa. Cổng trong là hành lang sang dãy nhà đối diện. Ngoài con đường đi vào cửa chính, còn có cửa bên phải, bên trái. Về cái cổng trong, trong cuốn tiểu thuyết "Gia đình", tả cảnh lễ mừng thọ cụ cố họ Cao, có đoạn như sau: Chỗ phía trong cổng trước, bố trí cái sân khấu rất đẹp để hát tuồng... Trên đại sảnh, phía ngoài bộc cửa, lấy vải xanh che làm chỗ đào kép hóa trang", về sau, căn nhà nhỏ lắp kính chính là bên trái, bên phải sân khấu.
Tôi phảng phất như vừa qua một giấc mộng dài. Tôi đã trở về với ngôi nhà tôi ở khi mới mười mấy tuổi. Tôi còn nhớ đêm khuya, tôi ở đó nghe anh Cả trên đại sảnh lần mò đến cái kiệu, đánh vỡ cửa kính. Tôi thất vọng lấy bút viết mấy câu tỏ ý phẫn nộ, nắm tay chà đi xát lại trên bàn. Tôi thề phải trả thù chế độ phong kiến. Giống như anh Cả còn ở đó nói với tôi điều gì. Giống như ông nội vừa ho, từ phòng bên phải đi sang, qua nhà chính. Giống như dì em cầm tay đứa con nhỏ vừa khóc vừa chửi đi lên. Giống như bà nội không biết từ đâu đi ra, vừa đánh vừa mắng, và tiếng khóc của con Sen. Giống như thế là tiểu thuyết ba tập mười năm để viết ra hiện lên trước mắt tôi.
Đồng chí Lý Tông Lâm bảo người cùng đi theo, chụp cho tôi mấy pô ảnh. Tôi đứng dưới cửa sổ căn nhà nhỏ lắp kính; tôi đứng trước cửa sổ phòng ông tôi...; cùng họ trò chuyện; tôi đi qua mấy gian phòng trống rỗng; tôi đi qua thiên tỉnh. Tôi phảng phất nghe âm thanh của thời cũ, thấy lại hình bóng thời cũ. Trời tối dần. Tôi không dừng lại trước cửa chính, cũng không tìm ra nơi bọn đầy tớ ở, là nơi tôi thường lui tới thời còn thơ ấu. Tôi đi ra khỏi ngôi nhà cũ, ở đó chuyện thực và chuyện mộng, quá khứ và hiện thực trộn lẫn vào nhau. Tôi nghĩ bụng, sau này có trở về đây, nói thực lòng tôi không thể lưu luyến chốn ấy, đó là cái mồ chôn bao nhiêu điều tôi hồi ức. Tôi phải khai quật nó lên.
Nhưng muộn lắm rồi. Năm 1960, tôi trở về Thành Đô lần thứ Tư, lại đến đường Chính Thông Thuận ngay: cái "Lê các" cũng không thấy nữa. Lần này tôi lưu lại một thời gian khá lâu, sáng sớm thường đi tản bộ đến con đường này, đi đi lại lại trước nhà ở của một đoàn Văn công bộ đội, nghe nói xây trên nền ngôi nhà cũ của tôi. Không tìm ra dấu vết của ngày cũ, tôi cũng chẳng buồn. Cây khô đã bị đào gốc rồi, nhưng những lời tôi tố cáo chế độ phong kiến và những cái đồi bại phong kiến để lại không thể cùng tồn tại với thời cũ, và cũng không hề tiêu vong cùng ngôi nhà cũ của tôi.
Ngày 6 tháng 2 năm 1984
[1] Nguyên văn bản in của nhà xuất bản là “Tuệ Năng”, chúng tôi biên tập lại cho chuẩn với Danh vị của ngài là Huệ Năng (Lê thanh Minh)