Tùy Tưởng Lục

Lượt đọc: 538 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
TẦNG LỚP TRÍ THỨC

❊ ❊ ❊

Cuối năm ngoái, tôi đã viết lời tựa cho bản dịch tiếng Na-uy của cuốn "Đêm lạnh" như sau:

"Tôi biết cuốn tiểu thuyết "Đêm lạnh" của tôi đã dược dịch ra tiếng Na-uy. Bạn tôi là Diệp Quân Kiện hỏi tôi có bằng lòng viết tựa cho bản dịch mới này không. Đương nhiên là tôi bằng lòng".

"Đêm lạnh" viết xong vào ngày cuối cùng năm 1946. Mùa đông năm 1960, khi ở Thành Đô, đọc lại "Văn tập" của mình, tôi đã sửa chữa lại toàn cuốn sách một lần nữa. Hơn một tháng trước đây, khi biên tập "Tuyển tập” của mình (hơn 10 tập), tôi lại đọc toàn văn một lần nữa, và vẫn thấy xúc động như ba mươi lăm năm trước. Tôi không thể không nhớ lại một câu tôi thường nói: "Tôi viết văn cũng như tôi sống”. Tôi mơ hồ như trở lại với "Trùng Khánh năm 1945".

Lúc đó, tôi đang sống ở nơi mà nhân vật chính Uông Văn Tuyên ở một "đại lầu" sửa chữa lại sau khi bị bắn phá còn rất đổ nát ở trên đường Dân Quốc. Nhà cửa, đường phố, người và tiếng nói ở xung quanh tôi đều giống như trong tiểu thuyết. Những năm ấy, tôi thường kiêm công tác hiệu đính, thế nhưng tôi sống bằng tiền nhuận bút, cho nên khá hơn một chút so với tình hình của Uông Văn Tuyên. Trong con người của Uông Văn Tuyên có hình bóng của tôi. Khi viết về Uông Văn Tuyên, tôi cũng gửi gắm một tí gì đó của mình. Ba bốn năm gần đây, có mấy lần tôi nói với người khác: nếu như tôi không bước vào con đường văn học (tôi trở thành nhà văn do một dịp ngẫu nhiên), tôi rất có thể sẽ có kết cục như Uông Văn Tuyên. Một người anh và mấy người bạn của tôi đã chết vì bệnh lao, không ít người quen của tôi đều có cuộc sống khá bi thảm. Ở Trùng Khánh và những nơi gọi là "hậu phương lớn" trong thời kỳ chiến tranh, đời sống của tầng lớp trí thức vô cùng gian khổ. Những điều miêu tả trong tiểu thuyết không hề phóng đại chút nào. Tôi muốn viết chân thực và cũng chỉ có thể viết chân thực. Trong lòng tôi chứa đầy bi phẫn, tôi muốn làm tăng thêm niềm vinh dự cho mình, tôi muốn kêu oan cho những người bị nạn. Tôi nói, tôi phải tố cáo. Đúng vậy, tôi đã lên tiếng tố cáo (J’accuse) những chế độ xã hội bất hợp lý.

Không phải tôi đánh vào những con người có học hành, nhẫn nhục, chịu đựng, mà tôi tố cáo cái chế độ ngày càng nát rữa khiến mọi người chịu khổ, cái xã hội "tư văn quét rác" ấy. Viết xong "Đêm lạnh", tôi có một cảm giác nhẹ nhàng, tôi đã phủ định triệt để sự thống trị của Quốc dân đảng và Tưởng Giới Thạch.

Về "Đêm lạnh" trước đây có hai cách đánh giá: Một thì bảo là cuốn sách bi quan, tuyệt vọng; một thì bảo là một cuốn sách tràn đầy hy vọng, bởi vì cái cũ bị diệt vong, cái mới sẽ ra đời, đen tối sẽ qua đi, ánh bình minh sẽ tới. Cuối cùng như thế nào, người đọc Nauy sẽ tự phán đoán...

Tôi hết sức vui mừng thấy qua cuốn tiểu thuyết của tôi, người đọc Na-uy tiếp xúc được với tâm linh hiền lành, thẳng thắn của tầng lớp trí thức cũ Trung Quốc, tìm hiểu cuộc sống gian khổ và con đường khúc khuỷu gian nan mà họ phải đi qua trước đây. Hiểu biết lẫn nhau là cách tốt nhất để tăng thêm tình hữu nghị giữa con người. Giả sử như cuốn tiểu thuyết của tôi có tác dụng chút ít về mặt này, điều đó làm cho tôi hết sức hài lòng"

Ngày 30-12-1981.

Lời tựa viết đến đây là hết, điều định nói vốn rất nhiều, nhưng trong một bài tựa cũng không cần phải nói hết, để lại một chút cho người đọc suy nghĩ, kể cũng hay.

Nhưng năm đó, tôi đã không chỉ một lần nói thay cho tầng lớp trí thức. Trong phần ba của "Lửa" viết năm 1943, tôi đã giải nỗi bất bằng cho các vị giáo sư đại học. Trong tiểu thuyết có một đoạn nói như thế này: "Bây giờ làm một giáo sư đại học cũng thật khổ, dựa vào ít tiền lương đó để nuôi cả nhà, đến cơm còn không đủ ăn, lấy đâu ra tinh thần để tính chuyện học vấn. Chúng ta vừa gặp Cao Quan Doãn xách làn đi chợ mua rau, mặt võ, mình gầy, lại thêm bộ quần áo Tây cũ, giống hệt một gã du đãng của Thượng Hải. Sinh viên ở Côn Minh đã bàn tán sau lưng thầy giáo, bởi họ biết chạy vạy, buôn bán, biết tích trữ đầu cơ, biết hốt bạc, thày giáo chỉ là con mọt sách, không biết làm gì hơn. Trong cái xã hội đó, trí thức vô dụng, tiền bạc là vạn năng, khối kẻ ôm giấc mộng phát tài, người có tâm địa hiền lành không dễ gì được no ấm. Tiền có thể lại kiếm ra nhiều tiền hơn, sách thường chỉ đem lại cho người ta sự bất hạnh, Trong "Đêm lạnh" tôi đã viết về Trùng Khánh nửa trước những năm bốn mươi. Lúc đó, ngay như một quan văn làng nhàng, nếu không có thực quyền, chỉ sống bằng thu nhập chính đáng, cũng không thể nói đến cuộc sống dễ chịu. Tôi có mấy người bạn làm tham sự ở Viện Hành chính Quốc dân đảng hoặc có chức vụ hay danh nghĩa gì tương tự ở các cơ quan khác, mấy người chung nhau thuê một căn nhà đổ, phía trước bị bom đạn phá mất, còn lại một căn gác ở phía sau. Tôi ở ngoại thành, có lúc vào ngủ trong thành phố, tôi đã ở đấy với họ, tầng trệt của căn nhà cũng bị bom đạn làm hư hại, họ ở hết trên gác. Tôi đã ăn một bữa cơm ở đấy. Thứ gạo xoàng họ ăn, mua bằng tiền nhuận bút, giá tuy rẻ, nhưng sạn khá nhiều, không sao nuốt nổi. Những trí thức giá rẻ, hạng quan văn dùng để trang trí mặt tiền này, không thể so bì với hạng quan nắm báng súng, càng không thể so với hạng quan to nắm thực quyền. Họ cũng chỉ sống cầm hơi, chịu đói chịu rét mà thôi.

Mấy năm đó, ở hậu phương lớn của cuộc kháng chiến, những gì tôi nhìn thấy hoặc cảm nhận thấy đều như thế này: Tầng lớp trí thức chịu khổ, bị coi rẻ. Người nào càng hiền lành, càng bị bắt nạt, và cuộc sống càng khổ. Người nào có kiến thức, có quan niệm đúng đắn, không chịu mạnh bên nào ôm áo bên ấy, thì ở đâu cũng bị phân biệt đối xử. Hay nói thật, thường bị coi là thích gây sự, càng dễ bị chèn ép, bị lạnh nhạt. Trong xã hội như thế mà tôi sống được, vì một là, tôi chỉ cắm cúi viết chết thôi, hai là, bốn mươi tuổi tôi mới lấy vợ, không bị gia đình níu kéo. Khi lấy nhau, chúng tôi chẳng làm một mâm tiệc nào, cũng chẳng mua thêm một thứ đồ dùng gì, lấy nhau xong, cũng chỉ ở nhờ nhà bạn, ăn cơm ở Nhà xuất bản. Không ai cười chúng tôi nghèo túng. Có điều xã hội coi khinh chúng tôi, để chúng tôi tự sinh ra lại tự chết đi, cứ y như là nó không cần chúng tôi vậy. Cũng may mà tôi không coi nhẹ mình, tôi kiên trì phấn đấu. Tôi cũng không coi nhẹ trí thức, tôi không ngừng tích lũy hiểu biết, dùng sự hiểu biết làm vũ khí để đấu tranh trong xã hội cũ. Có một thời gian dài, số mệnh giống như Uông Văn Tuyên, giống như có một bóng đen lượn lờ trên đầu tôi. Tôi không ngã gục. Tôi viết "Đêm lạnh" cũng là đấu tranh, tôi vật lộn cho sự sống còn của mình. Tôi chưa nắm chắc được thắng lợi, thế nhưng tôi biết rằng chỉ cần buông lỏng đấu tranh, tôi sẽ rơi vào hố sâu ngay. Nói thật lòng, viết được cuốn tiểu thuyết này, trước hết tôi đã cứu được mình. Xã hội cũ coi nhẹ văn hóa, coi nhẹ trí thức, cuối cùng đã kết thúc, tôi lại được sống đến ngày nay, được nhìn thấy ánh sáng.

Những năm Ba mươi, tôi cũng từng viết những truyện ngắn về những cảnh ngộ không may của trí thức Trung Quốc, như "Cây thánh giá yêu", "Mưa xuân"... Nhưng tôi cũng viết những truyện ngắn phê phán, thức tỉnh tri thức như "Giai cấp trí thức", "Chìm đắm", hai truyện này, mục tiêu đều nhằm đúng vào một số nhỏ giáo sư ở Bắc Bình chuẩn bị ra làm quan. Tôi viết "Chìm đắm" vào năm 1943, sau khi đưa bản thảo cho Hà Thanh (tức Hoàng Nguyên, người giúp Trịnh Chấn Đạc và Phó Đông Hoa biên tập nguyệt san "Văn Học"). Tôi đi Nhật Bản. Một người bạn thân của tôi đọc xong truyện ngắn ấy rất tức giận, từ Bắc Bình gửi thư đến phê bình tôi. Anh đã nghiêm khắc hỏi tôi: "Viết văn lẽ nào chỉ để cho hả (hả nồi tức giận)?!" Tôi đã trả lại cho anh nguyên văn lời khuyến cáo đó, và ởHoành Tân tôi đã viết một bài tân văn trả lời anh, đầu đề bài tản văn cũng là "Chìm đắm". Trong bài đó, tôi nói: cái mà tôi "công kích là một thứ khuynh hướng, một loại mô-típ". Cái kiểu mô-típ và khuynh hướng đó chính là một trong những “cố gắng đẩy dân tộc chúng ta xuống vực thẳm". Nhưng tôi chưa từng nói rõ, vị giáo sư trong tiểu thuyết đó là có ý ám chỉ vào đâu cũng là chỉ vào một "nhân vật lãnh tụ" của giới trí thức ở Bắc Bình lúc đó. Tôi không hề vạch ra những "riêng tư bí ẩn" của ông ta, trong tiểu thuyết cũng không có tình tiết gì là "bóng gió". Tôi chỉ coi ông ta như một nhân vật đại biểu cho "một thứ khuynh hướng, một loại mô-tip" để phê phán một lời khuyên bảo. Bản thân ông ta đương nhiên sẽ nghe không lọt tai lời khuyên bảo của tôi. Người bạn tốt đó, tôi cũng không thuyết phục nổi. Tôi còn nhớ, chúng tôi còn tranh luận với nhau qua những bức thư dài, chẳng ai chịu thua ai. Có điều tranh luận mà không hề thương tổn đến tình bạn. Sau này, tiểu thuyết của tôi được đưa vào tuyển tập và tiếp tục lưu truyền trong bạn đọc; bạn bè cũng có thái độ khoan dung đối với tôi. Còn nhân vật chính trong câu chuyện, hắn vẫn tiếp tục "chìm đắm" mãi, chỉ mấy năm sau hắn đã trở thành Hán gian. Mấy năm sau nữa, hắn bị xử tội và ngồi tù. Tôi đã từng yêu thích những bài tản văn của hắn, thu thập khá nhiều tuyển tập của hắn, trong đó có một số vẫn còn được lưu giữ trong tủ sách của tôi. Nhưng đối với tôi, hắn chỉ là một hồn ma trong cái vực sâu tăm tối. Tôi thường nghĩ rằng: Con người tại sao lại cứ chà đạp mình như thế?! Nhưng số bị chìm đắm rốt cuộc cũng chỉ là số ít.

Con đường "Chìm đắm" đó đương nhiên không phải là con đường của tầng lớp trí thức Trung Quốc! Qua tám năm kháng chiến, chúng ta có thể nói: tầng lớp trí thức Trung Quốc có thể chịu đựng nổi sự thử thách của máu và lửa. Ngay như nhân vật nhỏ đáng thương, Uông Văn Tuyên, cũng đã chịu đủ mọi nỗi đau khổ, khó có thể chịu nổi, nhưng không hề bán rẻ linh hồn.

Đối với tầng lớp trí thức Trung Quốc, sau này có dịp tôi sẽ nói thêm, bây giờ chẳng cần nói nhiều nữa.

Nhân dân Trung Quốc mãi mãi không quên được giáo sư Văn Nhất Đa.

Ngày 5 tháng 6

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.