Tùy Tưởng Lục

Lượt đọc: 519 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
NHỚ LÊ LIỆT VĂN

❊ ❊ ❊

Lâu lắm, lâu lắm rồi, tôi đã muốn viết một bài về một người bạn đã thầm lặng chết đi trong nghèo túng, gột rửa sạch những bùn nhơ dính trên mình anh. Thế nhưng mãi vẫn chưa cầm bút, bởi vì, một là tôi ngại phiền phức, hai là không có cách nào thoát ra khỏi cái thói quen "lần khân" của tôi. Thời gian như nước trôi đi từng năm từng năm một, mà tôi chưa viết được chữ nào. Hôm nay trời lại mưa, đã cuối xuân mà còn lạnh như thế này, tôi cũng ít thấy trong đời. Đêm đã khuya, tôi ngồi trước bàn viết, rùng mình mấy cái liền, chân tê lạnh, tựa hồ như muốn đi ngủ lắm rồi. Tôi ngồi không nhúc nhích, vẫn đang định "lần khân". Chợt có một cái gì đó như đốt trong lòng, tôi đẩy cuốn sách mở sẵn ở trước mặt, cúi đầu tìm một cái gì trong ngăn kéo. Tôi tìm ra một mảnh báo cắt, đó là một bài viết được phô tô cóp py ra: "Lễ tang ông Lê Liệt Văn...". Mấy chữ đó đập thẳng vào mắt tôi, tôi thấy đau một hồi. Thế nhưng rồi tôi tỉnh ra. Tài liệu này rành rành là tôi mượn của người khác. Tôi đã từng nghĩ rằng tôi rất muốn có nó, thế nhưng tôi đã để cho nó nằm ngủ trong ngăn kéo mấy tháng trời nay, chẳng dùng vào đâu, phảng phất như quên hẳn nó. Tôi cũng rất có thể để nó ngủ như thế lâu thêm nữa, cho đến lúc ném nó vào sọt giấy đưa tới trạm thu hồi phế liệu, nếu như không phải lúc đêm khuya khoắt này, tôi chợt tìm ra nó.

Trước đây tôi thường nói cuộc đời của tôi đầy những mâu thuẫn, đó không phải tôi tự tô vẽ cho mình. Quả thực là trong con người tôi đầy dẫy thiếu sót và lười biếng. Tôi từ bé đã quen "lần khân" rồi. Nếu như tôi không nghiến răng mà đấu tranh với mình, thì tôi chẳng làm được việc gì, đừng nói đến việc viết truyện. Vậy tại sao mà trong lúc đêm khuya, tôi lại tìm ra một tài liệu có liên quan đến người bạn đã khuất của tôi? Có thể lấy một câu tôi đã viết trong bài "Tuỳ tưởng" trước để giải thích: "Tôi học được ở các nhà văn, các bạn Nhật Bản cái đạo lý kết bạn và yêu mến bạn".

Lúc đầu, nói ra câu này, tôi hầu như cảm thấy nhẹ nhàng, nhưng sau khi về nước, nó không ngừng thiêu đốt tim tôi. Khi tôi tổng kết chuyến đi thăm Nhật Bản, lại chẳng hề nhắc đến một thu hoạch lớn như thế. Nhưng lúc yên tĩnh, tôi cứ suy nghĩ mãi xem rốt cuộc mình đã được những gì và phải bỏ ra những gì, tôi đã kết bạn thế nào, và đã yêu mến bạn ra sao. Nghĩ tiếp nữa, tôi càng cảm thấy lương tâm bị cắn rứt, ngồi đứng không yên. Thế là tôi đã tìm ra mẩu tư liệu đó ở trong ngăn kéo.

Chuyện là thế này, tôi nhớ không rõ lắm nữa, rằng ở trong bài viết của một người nào đó, hay là trong phần chú thích của bài viết, hoặc trong phần chú giải ở trước tác của Lỗ Tấn, có người viết: "Lê Liệt Văn đã từng là bạn của Lỗ Tấn, sau này trụy lạc trở thành "nhà văn phản động". Tôi ngẫu nhiên đọc được câu này và không đồng ý cách chụp mũ cho người khác tuỳ tiện như thế. Tôi tuy có biết đôi chút về sự ăn ở của ông với mọi người, cũng như tình hình của ông, nhưng trong tay tôi lại chẳng có tư liệu gì có thể nói cho rõ. Bởi thế, tôi cũng chưa từng đứng ra nói thay cho ông một lời công bằng (lúc ấy ông còn sống, đang là một giảng viên đại học ở Đài Loan). Như thế, tin đồn (tôi đành gọi đó là thứ tin đồn) cứ tiếp tục lan truyền đi, cho đến thời kỳ "lũ bốn tên" hoành hành dữ dội, khắp nơi đều cho in tuyển tập Lỗ Tấn, trong phần chú thích, thế nào cũng không thiếu một câu loại như "nhà văn phản động Lê Liệt Văn". Lúc đó, đến ý nghĩ "không đồng ý" tôi cũng không có. Bản thân cũng được chụp cho cái mũ "quyền uy học thuật phản động". Tôi nhìn thấy tuyển tập Lỗ Tấn mà thấp thỏm lo sợ, phảng phất như lại bị lôi ra cuộc mít tinh phê đấu, có người tóm lấy tóc tôi lôi ngược lên, để những người đứng đông đảo bên dưới có thể nhìn thấy rõ mặt tôi. Đó chính là hai kiểu "bêu riếu" mà tôi cho là sỉ nhục nhất. Đúng là họ đã để cho tôi nhận được sự giáo dục sâu sắc; chỉ có ởtrong cảnh này mới hiểu được nỗi cay đắng ngọt bùi của nó. Bản thân tôi đã được nếm đủ mùi bị chụp mũ ra sao thì đối với việc có nên chụp mũ cho người khác hay không sẽ không thể không quan tâm được. Thân mình đã bị người ta ném bùn bẩn vào thì không thể không nghĩ đến việc giúp bạn mình gột chỗ nước bẩn đi. Cho nên sau khi vấn đề của tôi được bước đầu giải quyết, có một lần "phụng mệnh" viết một tài liệu gì đó liên quan về ông Lỗ Tấn; nói đến Lê Liệt Văn, tôi bèn nói, "theo chỗ tôi biết thì Lê Liệt Văn không phải là "nhà văn phản động". Đầu mùa hè năm 1947, tôi có đến Đài Bắc, có ghé qua nhà ông, vợ ông và cả mấy người con vợ trước, đều là người quen biết với tôi. Lúc đó, ông chỉ là một giảng viên thông thường của trường đại học Đài Loan, cũng chưa được coi trọng lắm, cuộc sống cũng không lấy gì làm dư dật. Tôi ngồi nói chuyện với ông khá lâu, bà Vũ Điền (vợ ông) cũng tham gia buổi nói chuyện của chúng tôi. Ông cũng không hề phát biểu ý kiến gì là phản động. Sau khi kháng chiến thắng lợi, ông là người từ Phúc Kiến ra Đài Bắc để làm việc, mới đầu làm những công việc vặt ở một toà báo, sau vì không được lòng cấp trên, bị mất việc, mới đến Đại học Đài Loan. Bài vở không nhiều nên ngoài giờ vẫn dịch sách, giới thiệu tác phẩm của các nhà văn Pháp, trong đó có tập truyện ngắn của Mê-ri-mê đã trao cho tôi biên tập và đăng vào số tạp chí "Dịch văn tùng thư”. Vũ Điền cũng dịch một số sách, thỉnh thoảng còn viết một vài truyện ngắn. Sau khi tôi rời Đài Bắc về Thượng Hải, Liệt Văn, Vũ Điền luôn luôn viết thư cho tôi. Đến khi Thượng Hải được giải phóng, việc thư từ giữa chúng tôi mới bị gián đoạn. Tôi còn nhớ đầu tháng Tư năm 1949, Mã Tôn Dung ốm chết ởThượng Hải, từ Đài Bắc, Lê Liệt Văn còn gửi tới một bài thơ viếng, một bài thất ngôn bát cú thì phải, trong đó có một câu là "Vừa lúc trời Nam còn chưa ấm", ý thơ hết sức rõ ràng. Năm 1947, ông còn đến Thượng Hải, sau dịp tôi đi Đài Bắc, và đã ở Thượng Hải hơn nửa tháng, khi về, còn viết thư nói: "Lần này ở Thượng Hải, không phải lo nghĩ ba tuần lễ liền, lại được gặp rất nhiều bạn cũ, thật là vui vẻ". Ông cũng hay đến nhà tôi, chúng tôi nói chuyện không có gì gò bó, tôi thường nói đùa ông, nhưng chưa hề thấy ông giận bao giờ. Những năm 30, tôi và Cận Dĩ nói tới Liệt Văn; tôi đã nói chung sống với ông, không khó lắm, ông không che giấu khuyết điểm, không bao giờ tô vẽ cho mình, có ý định gì, có ý nghĩ gì đều bộc lộ hết ra. Thậm chí những chuyện xấu xa, ông cũng chẳng hề che giấu, phê bình ông, ông cũng chỉ mỉm cười. Ông là một con người như thế, trước sau tôi chưa hề thấy ông có lời nói việc làm gì phản động, làm sao có thể tin hay đồng ý với cách nói cho rằng ông là nhà văn phản động kia chứ? Khỏi phải nói rằng: ý kiến của tôi lúc đó không hề được coi trọng, bởi vì trên mình tôi còn mang bùn bẩn, người khác ném vào. Vả lại minh oan cho một con người, phục hồi danh dự cho họ, đúng như một câu chúng ta thường nói: "Cần phải có một quá trình", cũng có nghĩa là trước hết phải làm một số thủ tục, phải có được sự đồng ý của một số người. Thế nhưng ai là người đứng ra làm việc này?

Không lâu sau, tôi nghe tin Liệt Văn ốm chết, gia cảnh tiêu điều, nhưng cũng chỉ nghe nói mà thôi. Năm 1978 tôi đi Bắc Kinh họp gặp một người bạn làm việc ở toà soạn báo, nghe nói về tình hình của Vũ Điền, tôi mới biết, ngay từ tháng 11 năm 1972, Liệt Văn đã từ giã cõi đời này. Vũ Điền đèo bòng các con, sống vô cùng gian khổ, nhưng tỏ ra hết sức cứng rắn. Tôi nhờ người bạn tìm cho tôi chút tư liệu có liên quan về họ, nhưng chẳng có kết quả gì. Sau này tình cờ tôi đọc được mấy tờ tạp chí xuất bản ở Hồng Kông, có bài viết giới thiệu của những nhà văn Đài Loan, họ đã nói đến "thầy giáo Lê Liệt Văn" của họ ở trường Đại học Đài Loan với giọng rất cung kính. Việc này đã gây cho tôi một ấn tượng rất sâu sắc. Năm ngoái, có một nhà văn nữ Hoa Kiều trẻ tuổi đến thăm tôi, tôi nhắc đến tên ông, chị nói chị rất tôn kính ông, chị còn hứa sẽ gửi cho tôi một bài viết. Chị trở về Mỹ không lâu, quả nhiên là bài viết đã được gửi đến, tức là bài "Những điều thấy về lễ tang ông Lê Liệt Văn". Khi tôi nhận được, chưa đọc được kỹ thì đã bị công việc khác lôi cuốn, đành vội vàng nhét nó vào ngăn kéo, sau này nhớ đến, có lấy ra xem lại một lần, cũng có một ấn tượng khá sâu, nhưng vẫn chưa có cách nào giải thoát ra khỏi sự rầy rà của những công việc linh tinh. Qua vài ngày ấn tượng mờ nhạt đi, rồi bị rơi vào "quên lãng" rất nhanh. Trong khoảng thời gian mười mấy năm trước khi “lũ bốn tên" hoành hành, tôi thường thường đã "lần khân" và sống như thế, chẳng có gì lạ cả. Sau khi "lũ bốn tên" bị sụp đổ, lại "lần khân" như thế nữa, tôi dần dần cảm thấy khó chịu. Trong lòng tôi bắt đầu có sự phản kháng, nó không để cho tôi "lần khân" mãi như thế. Nét mặt của người bạn đã quá cố bị tôi quên lãng lại xuất hiện trước mắt tôi. Thế là tôi mở ngăn kéo ra, không những chỉ mở ngăn kéo, mà còn là mở cả cõi lòng tôi ra nữa.

Tôi và Liệt Văn gặp nhau lần đầu là vào năm 1933, khi ông còn đang biên tập phụ trương "Bàn Tự do" của tờ "Thân Báo". Ông đã nhờ người đến nhắn tôi gửi bài, sau đó chúng tôi quen nhau. Nhưng chúng tôi trở thành bạn của nhau, lại vào cuối năm 1935, thời kỳ mà tôi mới ở Nhật Bản về, phụ trách biên tập ở Nhà xuất bản Đời sống văn hoá. Đến nửa cuối năm 1936, chúng tôi đã quen nhau tới mức không còn gì nói nữa. Lúc bấy giờ, mấy người thân quen đang biên tập Tạp chí Văn nghệ. Sau tờ "Tác gia" (Mạnh Tập Hoàn chủ biên), "Dịch văn" (Hoàng Nguyên chủ biên), "Văn quý nguyệt san" (Cận Dĩ chủ biên); tờ bán nguyệt san "Trung lưu", do Liệt Văn chủ biên, cũng ra đời. Cách nhìn về văn học và chính trị của những con người này không phải giống nhau, thế nhưng chúng tôi có một cảm tình chung, tức là lòng kính yêu đối với Lỗ Tấn. Liệt Văn và Hoàng Nguyên thường hay đến thăm Lỗ Tấn, họ đến thăm ông vào những thời điểm khác nhau, khi về thường kể với tôi về tình hình của Lỗ Tấn, tôi có chuyện gì cũng nhờ người thưa giùm với Lỗ Tấn. Theo tôi được biết, hai người lúc ấy, đều được Lỗ Tấn tín nhiệm, nhất là Liệt Văn. Lỗ Tấn xưa nay chưa hề quát nạt ai, cũng không lên mặt dạy ai, nhưng chúng tôi đều tôn trọng ý kiến của ông. Ông không tham gia "Hội liên hiệp các nhà văn, nghệ", chúng tôi cũng không tham gia, riêng tôi, còn có một lí do khác nữa: tôi không quen xuất đầu lộ diện, không muốn tham gia các hoạt động xã hội. "Hội liên hiệp các nhà văn nghệ" có ra một bản tuyên bố, không ít nhà văn đã ký tên. Lỗ Tấn lúc này không được khoẻ, không thể ra nói chuyện được, chúng tôi cũng chẳng có dịp công khai bày tỏ thái độ của chúng tôi về cuộc kháng Nhật cứu vong. Có một buổi chiều, Liệt Văn ngồi chuyện phiếm với tôi, cho rằng tốt nhất chúng ta cũng nên ra một bản tuyên bố, ông bảo tôi viết dự thảo, tôi đẩy cho ông chấp bút. Hôm sau chúng tôi gặp nhau, mỗi người lấy ra một bản nháp, hai bên khiêm nhường nhau một hồi, Liệt Văn liền mang cả hai bản thảo đến gặp Lỗ Tấn. Ở chỗ Lỗ Tấn, ông đã hợp nhất hai bản lại, mời Lỗ Tấn ký tên vào, và thêm cái tiêu đề "Tuyên bố của những người làm công tác văn nghệ ở Trung Quốc", rỗi ông lại chép ra mấy bản, lần lượt đưa đến các tạp chí có người quen chủ biên như "Tác gia", "Dịch văn", "Văn quý nguyệt san" để tìm người ký tên và cho đăng trên báo. Bởi thế số người và thứ tự ký tên trên các báo không giống nhau. Đó là quá trình mà Tuyên bố" được "ra lồng" (ngôn từ dùng trong thời kỳ "Cách mạng Văn hoá"), có thể nói, công việc này là do ông tạo dựng nên.

Được hơn ba tháng sau, Lỗ Tấn xa chúng ta, tôi và Liệt Văn có chân trong Ban tổ chức Lễ tang, cả ngày túc trực ở nhà quàn Vạn Quốc. Buổi tối trước khi về nhà, thế nào chúng tôi cũng đứng trước linh cữu Lỗ Tấn một hồi, nhìn khuôn mặt quen thuộc của ông ở dưới lớp kính của nắp quan tài. Rồi hoặc là Liệt Văn, hoặc là một người bạn khác, không làm sao được, phải nói một câu: "Về thôi!". Tiếng nói ấy, tôi còn nhớ đến bây giờ. Sau đó, chúng tôi đã khiêng áo quan ra xe tang, chúng tôi lại khiêng áo quan ra huyệt, có người đã chụp ảnh, trong đó có cả tấm chụp tôi và Liệt Văn, có lẽ là tấm cùng chụp chung duy nhất của chúng tôi, mà cũng là hình ảnh tôi xem được trên báo chí lúc đó, cho đến bây giờ vẫn còn in rành rành trong óc tôi.

Chừng hai tháng sau nữa, khoảng mười ba tờ tạp chí định kỳ xuất bản ở Thượng Hải bị chính phủ Quốc dân đảng ra lệnh cấm, đình bản cùng một lúc. Trong đó có tờ "Tác gia" và "Văn quý nguyệt san". Tờ bán nguyệt san "Trung lưu" mới ra đời chưa lâu nên chưa bị búa rìu chặt chết, Liệt Văn vẫn cặm cụi, im lặng làm việc ở nhà mình, ngoài ra còn phải săn sóc đứa con vừa mất mẹ của mình. Tạp chí đang phát triển, người đọc cũng tăng lên, ngoài việc biên tập, ông còn làm thêm việc phiên dịch, tờ "Băng đảo Ngư Phủ" mới xuất bản không lâu cũng được mỗi ngày một nhiều người đọc chú ý. Thế nhưng chưa đầy một năm, "13 tháng 8" quân Nhật xâm chiếm Thượng Hải. Cuộc kháng chiến toàn diện nổ ra, tạp chí đình bản, ông cũng không thể ở lại được, chúng tôi cùng nhau biên tập được hai kỳ "Nột Hám”[1] rồi ông mang con về quê nhà ở Hồ Nam. Tháng ba năm sau, Cận Dĩ và tôi qua Hồng Kông để đi Quảng Châu, còn ông đến Hương Cảng sum họp với chúng tôi hai ngày. Lần sau, tôi lại được gặp ông là mười năm sau đó, Cận Dĩ còn gặp ông ở Phúc Kiến, hơn thế còn bàn cả việc với ông, tức là biên soạn một loại tạp chí Văn nghệ cho Nhà xuất bản "Cải tiến" mà ông chủ trì. Bởi thế về sau, qua Cận Dĩ và các bạn khác, tôi biết được đôi chút tình hình về ông. Ông đã ra làm quan, nhưng không có vẻ quan, tư tưởng lại không phải là tư tưởng của nhà quan, tôi cũng đã từng cho đăng truyện ngắn trên tờ "Văn nghệ Hiện đại".

Liệt Văn cứ như thế mà ở mãi Phúc Kiến. Sau khi kháng chiến thắng lợi, Trần Nghi ra Đài Loan, ông cũng ra ngoài đó, làm việc ở Toà soạn báo. Ông tin đã là bạn học của Lỗ Tấn, lại làm Chủ tịch Quốc dân đảng tỉnh Phúc kiến, lại là trưởng ban Hành chính của tỉnh Đài Loan thì có thể yên tâm. Nhưng về sau, ông mất lòng cấp trên trong toà báo, mất cả chức, Trần Nghi cũng chẳng đoái hoài. Lòng đầy ấm ức, ông đã tới Đại học Đài Loan dạy mấy giờ, nhưng trong thư gửi cho chúng tôi, ông lại nói: "Tôi cũng nghèo lắm". Rồi lại nói: "Nỗi đau khổ mà tôi đã chịu đựng nửa năm nay ở Đài Bắc, nhất là về mặt tinh thần, lần này đã được nói thoải mái với Chu Tẩy". Ông còn nói: "Tôi không thể một lúc rời Đài Bắc ngay được, đành đến Đoàn huấn luyện dạy vài tiết..." Sau đó, ông lại nói: "Đoàn huấn luyện cũng chó chết, đã không chuyển (thư) cho tôi, lại không trả lại bưu cục, cứ giữ mãi ở đấy". Đầu những năm Năm mươi, ngay cả Trần Nghi vì bất trung với Tưởng Giới Thạch mà bị xử bắn. Sau tôi lại nghe tin đồn rằng Lê Liệt Văn bị bắt, do có liên quan đến vụ án đòi dân chủ. Lại qua một số năm, tôi được nghe một tin khá tin cậy về ông: Ông đã ốm và chết.

Thế nhưng tôi làm thế nào để bỏ được cái mũ "nhà văn phản động" cho người bạn quá cố và gột rửa bùn đất đã bám trên mình ông.

Cám ơn nữ văn sĩ từ một phương trời xa, từ nước ngoài, bà đã gửi cho tôi những tài liệu cần thiết, một bài đăng trên một tạp chí ở Đài Bắc trước đây, một bài rất bình thường, tường thuật và nêu cảm nghĩ, chỉ vẻn vẹn có bốn trang. Không tô vẽ, không ca ngợi, và hầu như không có lời nào giả dối, nhưng những dòng chữ chất phác ấy khiến tôi nhớ lại con người mà tôi hằng quen biết. Tôi chép ra đây mấy đoạn đó:

"Mấy câu đối viếng ít ỏi và những vòng hoa, lẵng hoa cũng rất có hạn kia đều là của những người bạn cũ và học sinh đưa tới viếng."

"Ông nằm trong quan tài, vẻ mặt vàng vọt hình như chưa được trang điểm.[2] Chỉ có rất ít người đưa tang ra tới mộ, họ đã cùng với ngài Đài Tĩnh Nông vẻ đau buồn nói về sự tích của ông".

"Ông đã ra đi như thế, hàng ngày ông “vùi đầu vào viết lách, không mong gì tiếng tăm". Sau khi chết, cũng "lặng lẽ bước lên quãng đường cuối cùng của mình".

"... Sau khi tờ báo buổi chiều đưa tin ông bị ốm nặng, đã có vài cơ quan cử người đến nhà ông đưa tiền, nhưng bà vợ ông vốn biết tính ông ăn ở với mọi người, dù nói thế nào, cũng không nhận... Tôi nghĩ rằng đấy là tác phong mẫu mực của ông "không lấy thêm một tí chút gì không thuộc về mình".

Tôi phảng phất như cũng được đi đưa tang người bạn cũ, tôi phảng phất như thấy ông "lặng lẽ bước lên quãng đường cuối cùng của mình". Sự xa cách một thời gian dài không hề tạo nên một sự ngăn cách gì giữa chúng tôi, mãi cho đến khi chết, ông vẫn là Lê Liệt Văn mà tôi hằng quen biết.

"Vùi đầu viết lách, không mong gì tiếng tăm", đây có lẽ là một bài học mà ông rút ra trong đoạn đời ởPhúc Kiến, trong đoạn đời ông va chạm khi vừa mới ra Đài Loan, mới đầu tôi nghĩ thế, nhưng ngay sau đó, tôi lại nghĩ lại: Những năm Ba mươi ở Thượng Hải, ông đã chẳng từng như thế hay sao? Vậy thì tôi có thể nói thế này: Có một thời kỳ ông đã gác việc viết lách, kết quả là ông bị trừng phạt. Nhưng hai mươi mấy năm sau cùng, ông đã trung thành với mình, bởi vậy ở những nơi ông từng công tác, từng xuất hiện khá nhiều "bậc nhân sĩ giới văn hoá đã gián tiếp hoặc trực tiếp thu hoạch được nhiều thứ từ ông".

Không cần tôi bỏ mũ cho người đã khuất, không cần tôi gột giũ bùn bẩn bắn tứ tung trên mình người đã chết. Những ngày tháng các loại mũ bay lung tung đã qua đi không bao giờ trở lại nữa. Cái món nợ lẩm cẩm không ai tính nổi kia, hãy để cho nó bay vào lửa đi. Ở cái thời ấy, phải đội thêm cái mũ "phản động" là chuyện không may, nhưng không bị chụp mũ cũng chẳng phải là may mắn. Năm 1957, tôi đã từng phải đội mũ “phái hữu” đó sao, thế mà tôi đã viết ra bao nhiêu văn chương chống "phái hữu", tự mình cũng thấy đỏ mặt. Chẳng có ai ép tôi phải viết, thế nhưng trận tuyến đã rõ ràng, lại có người hẹn đi, hẹn lại gửi bài, làm sao mà có thể từ chối được! Thời kỳ "Cách mạng Văn hoá", tôi bị liên quan khá sớm, không có tư cách phê phán người khác, bởi thế hiện nay mắc nợ tương đối ít. Đương nhiên hiện còn có một hạng người khác, hôm nay chỉ đông, ngày mai chỉ tây, hôm nay lên mặt dạy người ta, ngày mai lại gật đầu mỉm cười, phảng phất như họ luôn luôn đúng, nhưng hình như họ nói chẳng bao giờ đáng tin. Người ta thường nói "khôn dại cũng chờ khi đậy áo quan", đến nay ngay cả câu nói cổ xưa ấy cũng không còn ai tin nữa. Có những người chịu oan bao nhiêu năm đến giờ mới được minh oan, thế nhưng nắm xương tàn của họ thì không biết đã bị vứt đi những đâu. Có những người, hộp tro hài cốt được trịnh trọng đặt vào nghĩa trang Bát Bảo Sơn, vậy mà trong con mắt và cõi lòng của quần chúng, họ lại là một kẻ xấu không từ một việc tàn ác nào. Tôi không ngừng mổ xẻ mình, cũng không ngừng quan sát người khác, và thật là không ngờ, tôi phát hiện thấy có nhiều người trẻ tuổi lại bi quan hơn tôi. Trong đầu óc họ, bị chụp mũ hay được bỏ mũ, bị vấy bẩn hay không vấy bẩn, cũng đều như nhau. Thật còn đáng buồn hơn cả "không có tín ngưỡng", "không có lý tưởng" nữa kia!

Tôi không thể không nghĩ đến người bạn vong niên chết ở phương trời xa. Tôi không được cúi chào trước thi thể ông, thế nhưng lời nói và hành động của ông in sâu mãi trong lòng tôi, "Vùi đầu viết lách, không mong gì tiếng tăm", "không lấy thêm một tí chút gì không thuộc về mình", phải chăng đó là lời di chúc của ông?

Chỉ cần có một lời nói hành động gì cụ thể, thì bất kể một lời lẽ màu mè khéo léo đến đâu cũng không thể làm tổn hại danh dự một con người tốt. Trắng với đen cuối cùng vẫn không lẫn lộn với nhau được.

Ngày 24 tháng 5.

[1] gào thét

[2] Ở Trung Quốc, khi khâm liệm người ta dùng mỹ phẩm trang điểm mặt cho người chết (ND.)

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.