Tùy Tưởng Lục

Lượt đọc: 295 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
THƯƠNG NHỚ HỒ PHONG

❊ ❊ ❊

1

Mới đây, tôi có đọc một đoạn văn ngắn kể chuyện "Hồ Phong mất tiền, Ba Kim bỏ tiền túi ra giúp", đó là căn cứ vào hồi ức, đồng chí Hồ Phong viết trước kia. Mấy năm trước, đồng chí Mai Chí đưa cho tôi xem, tôi có ghi bên cạnh một câu chú thích nói rõ sự thực như thế nào. Hồ Phong từ trần đã nửa năm nay, nhưng trong trí óc tôi còn in rõ hình ảnh rất sinh động về nhà chiến sĩ văn nghệ ấy. Đã mấy năm rồi, tôi định viết một chút về ông, nhưng hình như trong lòng tôi có cái gì đó chẹn lại, khạc không ra, cứ làm cho tôi tắc thở. Cầm bút viết, không biết bắt đầu từ đâu. Sực nhớ đến chuyện ấy xẩy ra năm mươi năm về trước, thế là tôi bắt đầu từ đó. Trước hết, cho tôi bổ sung một chút về câu chú thích ngắn ngủi kia đã.

Hôm ấy, chúng tôi đến dự đám tang Lỗ Tấn tiên sinh ở nghĩa trang Vạn Quốc. Một vòng người đứng xung quanh huyệt, tôi đứng đối diện Hồ Phong. Cử chỉ của ông thế nào, tôi thấy rất rõ. Giữa lúc lễ đang cử hành, tôi thấy có người nào đó đến mượn ông tiền, ông móc ví ra, rồi lại bỏ vào túi áo. Người đứng quanh ông rất đông, tôi lo thay cho ông, nhưng chẳng có cách nào đi tới nhắc ông cảnh giác được. Xong nghi thức, linh cữu phủ lá cờ "Hồn dân tộc" đưa xuống huyệt rồi, đám người tản ra như nước triều xuống, tôi lại trông thấy Hồ Phong, ông có vẻ sốt ruột, lặng lẽ tìm vật gì đó. Quả nhiên cái ví của ông bị ai rút mất rồi. Ông không ngỏ lời mượn tôi tiền. Sau khi biết tình huống kia, tôi nói ngay với Ngô Lãng Tây rằng: "Hổ Phong đánh mất tiền do mọi người góp để lo việc chung, mọi người nên giúp đỡ ông ta". Ngô Lãng Tây đồng ý, hôm sau đưa tiền đến cho ông xem như là tiền nhuận bút ứng trước của Nhà xuất bản Văn hoá sinh hoạt.

Tôi nói "mọi người", bởi vì lúc bấy giờ, chúng tôi đều lo tang lễ của Lỗ Tấn tiên sinh cả. Hồ Phong là một thành viên của Ban tổ chức, gồm 13 người, trong đó có Thái Nguyên Bồi, bà Tống Khánh Linh... Tôi và Cận Dĩ, Hoàng Nguyên, Tiêu Quân, Lê Liệt, vẫn đều ở trong nhóm chạy việc, gồm 28, 29 anh, có điều phân công không đều. Tôi và Cận Dĩ, Hoàng Nguyên, Tiêu Quân, mấy người, ngày 19 tháng Mười, theo di thể Lỗ Tấn tiên sinh đến Tần Nghi quán ở đường Giao Châu, cho đến buổi chiều ngày 22 đưa linh cữu tiên sinh ra ở nghĩa địa Vạn Quốc. Suốt ba ngày chúng tôi đều ở lại Tần Nghi quán, lo các việc từ sáng đến tối, có việc gì làm việc nấy. Hồ Phong là đại biểu của Ban tổ chức tang lễ, do đó ông lãnh đạo chúng tôi. Ban tang lễ xếp đặt như thế nào, quyết định những gì đều do ông truyền đạt lại cả. Có điều lúc bấy giờ, không phải ông bảo gì chúng tôi cũng nghe theo. Chúng tôi đến đây gánh lấy việc là do lòng kính trọng, mến mộ Lỗ Tấn tiên sinh. Chúng tôi chẳng liên quan gì với tổ chức nào hết. Chúng tôi, mỗi anh có cách nghĩ riêng của mình. Có một vài việc sắp đặt, chúng tôi không tán thành lắm, nhưng chúng tôi lại chẳng gặp những thành viên khác trong Ban tổ chức, đành phải thắc mắc với Hồ Phong. Chúng tôi cũng hiểu tình thế của ông, một đằng thì phải theo quyết định của Ban tổ chức, một đằng phải thuyết phục chúng tôi, là những người lo việc lâm thời. Thật ra, bọn chúng tôi cũng chẳng có ý kiến gì nhiều lắm. Thứ hai, việc tôi kể sau đây: một là, chi phí đám tang, hai là trật tự lúc đưa tang. Tôi không nhớ tỉ mỉ như thế nào, bởi vì sau đó, chúng tôi hiểu rõ, nên chẳng ai nói gì nữa cả. Có điều, về chuyện thứ hai, tôi còn giữ lại một ấn tượng. Lúc bấy giờ, xe đưa linh cữu đi vào khu vực "Tô giới công cộng", hai bên đường, cảnh sát kị mã Ấn Độ và cảnh sát đi bộ đeo súng. Xe linh cữu đến đường Hồng Kiều thì cảnh sát Trung Quốc, mặc áo đen, quấn xà cạp trắng, bọn này đứa nào cũng cầm súng cắm lưỡi lê. Tình thế hơi căng, chúng tôi sợ có người phá đám, gây lộn, bèn chủ trương hô khẩu hiệu và rải truyền đơn, phải coi chừng không Hồ Phong phản đối. Tôi nhớ trước ngày 22, xe linh cữu xuất phát ông ta đứng ở hành lang nói chuyện với người nào đó; tôi đi tới, ông nói với tôi là phải chú ý trật tự, đừng để ai rải truyền đơn lung tung. Hồ Tử Anh nghe được câu đó, có lẽ lúc bấy giờ có mặt ở đấy, về sau, trong cuộc họp tổng kết, chị ta phê bình Hồ Phong nói rằng: "Không tin tưởng quần chúng". Ban tổ chức tang lễ họp tổng kết ở Trụ sở Hội thanh niên Bát tiên kiều. Người đến rất đông, tôi không đến lượt được phát biểu. Hồ Phong cũng không tự bào chữa, dù sao thì lễ an táng tiên sinh cũng kết thúc trang nghiêm, ổn thoả rồi. Qua lần công tác ấy, ông để lại cho tôi ấn tượng như thế này: không sợ nặng nhọc, không sợ oán trách, chỉ lo đại cuộc mà thôi!

Đó là chuyện năm 1936. Tôi quen biết Hồ Phong ước khoảng năm ấy, hoặc cuối năm ấy. Một hôm, vào buổi chiều, tôi đến đường Hoàn Long (tức đường Nam Xương), tìm Hoàng Nguyên. Anh không ở nhà. Hồ Phong cũng đến tìm Hoàng Nguyên, chúng tôi gặp nhau ở cổng, liền bắt chuyện. Hồ Phong bảo tôi đến một cửa hàng nhỏ gần đó uống cà phê. Chúng tôi ngồi một lúc, nói chuyện những gì chẳng nhớ nữa, cũng không ngoài tình hình Văn học Thế giới, chẳng nói gì về Lý luận Văn nghệ, Phê bình Văn nghệ, bởi vì trước nay tôi ít chú ý những vấn đề ấy. Nói thật tình, văn chương của Hồ Phong, tôi đọc rất ít, hình như chỉ đọc bài "Bàn về nhà văn" của ông đăng trên tạp chí "Văn học". Ngoài ra có đọc mấy bài phê bình của ông, ký tên Cốc Phi, về mấy thiên truyện trên tờ nguyệt san "Hiện đại", bài ấy có đề cập đến truyện vừa "Giấc mộng dưới đáy biển" của tôi. Tôi có viết bài trả lời, nhưng cũng là để nói rõ tôi không thuộc hạng "người thứ ba" mà ông nói. Tôi có cách nhìn của tôi. Tôi không có ác cảm với ông. Năm 1925, ông để lại cho tôi một ấn tượng rất tốt. Ông cùng học với tôi ở trường Trung học phụ thuộc[1] cùng ngồi một phòng nghe ông thầy giáo nọ giảng Lịch sử Thế giới. Trong trường, ông là một học sinh thích hoạt động, thường viết bài đăng trên tờ báo của trường, có chút ít tiếng tăm, cho nên tôi nhớ được ông tên thật là Trương Quang Nhân. Nhưng chúng tôi ít chơi với nhau, thậm chí ông cũng chẳng biết tên thật của tôi là gì nữa. Năm 1925, trước ngày tôi tốt nghiệp rời khỏi trường, ở Thượng Hải nổi lên vụ Ngũ tạp, tôi tham gia phong trào cứu nước của học sinh Nam Kinh thời đó, có điều tôi không phải là phần tử hăng hái, tôi chỉ ghi lại trong thiên truyện vừa "Mặt trời đã chết" những điều tôi trải qua. Nhưng Hồ Phong là một phần tử tích cực, ông tham gia “Hội hậu viện ngoại gian dân”. Nhân vật Phương Quốc Lượng tả ở chương Mười một truyện ấy chính là ông. Mặc dù chỉ phác qua vài nét, nhưng bây giờ đọc lại đoạn dưới đây, tôi vẫn phảng phất thấy ông trên diễn đàn hiên ngang nói:

"Phương Quốc Lượng khóc rưng rức, nước mắt chảy đầm đìa, báo cáo tình hình công việc mấy hôm nay. Anh kích động đến mức đứng chồm lên nói như gào thét rằng bọn anh mỗi ngày chỉ ngủ được có ba tiếng đồng hồ, hết hơi hết sức, thế mà mọi người cứ dần dần rút lui đâu hết. Những lời anh nói đó cũng có chút hiệu quả, sau khi Hội nghị giải tán lại có nhiều học sinh tụ tập, kéo nhau đốt tàu hỏa đi về phía Hạ quan”.

Tôi không hề kể cho ông biết rằng hôm ấy sau khi nghe ông nói, tôi cũng đáp tàu hỏa đến Hà Quang ghi tên vào làm ở công trường. Không bao lâu, tôi tốt nghiệp, rời Nam Kinh. Sau đó, nghe người ta nói Trương Quang Nhân sang Nhật, hình như tôi còn được đọc văn của ông.

Mùa thu năm 1935, tôi ở Nhật về, vì "Dịch văn”, vì “Tùng thư”, vì Hoàng Nguyên, vì Lỗ Tấn tiên sinh (chúng tôi đều xem tiên sinh là bậc thầy). Tôi với Hồ Phong dần dần thân thiết với nhau. Tôi rất trọng ông, nhưng ít đọc văn ông, không những bài ông viết, mà bài người khác viết, tôi cũng không đọc, dù cố gắng đọc, cũng không nhớ được, đọc đoạn sau quên đoạn trước. Xưa nay, tôi vẫn nghĩ như thế này: Tôi sáng tác theo ý nghĩ của tôi, theo cuộc sống của tôi. Tôi viết những cái tôi trải qua, người ta nói gì mặc họ. Bây giờ, ông với đồng chí Chu Dương đang bút chiến với nhau về tính Điển hình, về Văn học Quốc phòng, và về những cái khác nữa. Văn chương hai bên, tôi đều không đọc; không những tôi, mà các bạn ông không làm lý luận cũng thế cả. Chúng tôi chỉ đọc bài Lỗ Tấn tiên sinh trả lời, tiên sinh chọn khẩu hiệu nào, chúng tôi tán thành khẩu hiệu ấy. Có điều trước nay tôi viết văn không theo khẩu hiệu, không có khẩu hiệu, tôi cũng cứ viết được tiểu thuyết.

Hồ Phong thường đến nhà Lỗ Tấn tiên sinh, Hoàng Nguyên và Liệt Văn cũng hay đến. Liệt Văn là bạn tiên sinh. Nói về sự quan tâm của tiên sinh đối với Hồ Phong, tôi cảm thấy có lúc tiên sinh quá nhiệt tình lại dễ kích động. Hoàn cảnh Hồ Phong có hơi khó khăn. Ông chăm lo cho tờ "Hải Yến" mà ông chủ trương. Đó là một tờ Tạp chí Văn nghệ không định kỳ, mới ra được hai ba số. Tôi nhớ truyện "Xuất quan" của Lỗ Tấn tiên sinh đăng trang đầu tạp chí ấy, được độc giả rất xem trọng. Hồi đó, Tạp chí văn nghệ xuất bản ở Thượng Hải không phải nhiều lắm. Ngoài tờ "Văn học” của hiệu sách Quang Minh, "Dịch văn" của hiệu sách Sinh hoạt, còn có tờ "Tác giả" của Mạnh Thập Hoàn, "Văn quý nguyệt san" của Cao Cận Dĩ, "Trung lưu, bán nguyệt san" của Lê Liệt Văn. Tờ "Dịch văn" của Hoàng Nguyên, sau khi đình bản mấy tháng, lại do Công ty Báo chí Thượng Hải phát hành. Còn có những tờ khác nữa. Tùy từng tờ, có tờ bán chạy, có tờ bán không chạy lắm. Mỗi tờ có đặc sắc riêng. Mỗi tờ hội tụ được một số nhà văn. Ai cũng vui vẻ viết cho tờ tạp chí mình quen biết. Những tờ này không nhất định là tạp chí của những người cùng theo đuổi một lý tưởng. Nhưng chúng tôi có một điểm tương đồng là ai cũng kính trọng, mến mộ Lỗ Tấn tiên sinh cả. Mọi người đều chủ động đoàn kết xung quanh tiên sinh, không muốn phụ lòng tiên sinh quan tâm đến chúng tôi.

Liệt Văn cùng tôi đã thảo bức tuyên ngôn về công tác văn nghệ, nói rõ chủ trương của chúng tôi là "kháng Nhật cứu vong". Liệt Văn mang tới nhà Lỗ Tấn tiên sinh, xin tiên sinh sửa chữa và ký tên, rồi sao ra nhiều bản giao cho người quen đi lấy chữ ký của nhiều người khác, kịp đưa cho tạp chí của mình và của người quen đăng. Chúng tôi lúc đó chưa tham gia Hội liên hiệp Văn học Nghệ thuật đương thời, tiên sinh thì nằm bệnh, cũng chưa tỏ rõ thái độ, cho nên chúng tôi xin tiên sinh đứng đầu đưa ra một lời thanh minh như thế. Trước đó, cũng như sau đó, không hề mở Hội thảo, cũng không hề bàn bạc với Hồ Phong. Hồ Phong cũng cầm một tập đi lấy chữ ký của người quen. Những tạp chí đăng lời tuyên ngôn ấy không nhiều, chỉ có "Tác giả", "Dịch văn", "Văn quý nguyệt san", độ năm sáu tờ. Hơn ba tháng sau, Lỗ Tấn tiên sinh từ trần. Lại hai tháng nữa, cuối năm ấy, nhà đương cục Quốc dân đảng cùng một lần đóng cửa 13 tờ tạp chí trong đó có "Tác giả" và "Văn quỹ nguyệt san", không nói lý đo, chỉ ra lệnh.

Từ ngày tôi quen biết Hồ Phong đến khi "Ba tập tài liệu"[2], có khoảng hai mươi năm. Trong hai mươi năm ấy, chúng tôi gặp rihau nhiều lần, cũng chuyện trò với nhau nhiều lần. Trong thời kỳ chống Hồ Phong, tôi có nhớ lại tỉ mỉ những việc trước kia. Thật là kỳ quái, chúng tôi rất ít nói đến văn nghệ. Tôi rất ít đọc văn của ông, điều ấy đối với tôi là chuyện thường. Tôi rất ít khi bàn bất cứ với ai về vấn đề văn nghệ một cách nghiêm túc. Tôi chưa từng nghiên cứu gì về văn học, nghệ thuật, và cũng chẳng có kiến giải gì đặc biệt. Cho nên đến nay, tôi vẫn cho rằng tôi không phải là nhà văn học. Tôi viết văn chẳng qua là nói ra những điều mình muốn nói. Tôi biên tập "Tùng thư" chỉ là đem giới thiệu với độc giả những cuốn sách hay. Sống trong cái xã hội này thì phải phục vụ nó. Tôi theo ý nghĩ của tôi mà làm việc cho nó. Từ trước đến nay các nhà lý luận nói những gì, tôi mặc kệ họ. Chính vì vậy mà tôi có thì giờ sáng tác đến mấy trăm vạn chữ, biên tập bao nhiêu tùng thư. Nhưng tôi phải thừa nhận rằng tôi làm việc không nghiêm túc được như Hồ Phong. Tôi cũng không có khả năng tập hợp được nhiều nhà văn, nhà thơ tài hoa xung quanh mình. Tôi khâm phục ông, có điều không muốn học tập ông. Tôi thích sáng tác, càng thích dịch, còn như biên tập chẳng qua người khác không chịu làm thì tôi làm vậy. Không như Hồ Phong, ông bồi dưỡng nhân tài, cho đó là trách nhiệm của mình. Tôi nói ông là người "ái tài", tôi thấy ông càng thích tiếp xúc với những người có chủ trương và có sở thích giống ông. Đó cũng là chuyện bình thường. Nhưng ông không hề nghĩ rằng đến thời kiến quốc, sẽ có phong trào “chống Hồ Phong”. Lòng "ái tài" của ông trở thành "tội phản cách mạng". Nói thật tình, đối với tôi, phong trào ấy là một tiếng sét giữa trời trong. Trước nay, tôi vẫn cho ông là một nhà văn tiến bộ, chí ít cũng tiến bộ hơn tôi. Cận Dĩ có dịp tiếp xúc với ông nhiều. Hai người gặp nhau là thích nói đùa với nhau. Cận Dĩ cũng ít đọc văn của Hồ Phong, nhưng Cận Dĩ cho rằng Hồ Phong gần với Đảng. Đó là thời ở Trùng Khánh, về sau Hội liên hiệp Văn học ra tờ Tạp chí "Nhà văn Trung Quốc" ở Thượng Hải, cả hai người đều ở trong Ban biên tập. Tôi ít đọc sách Hồ Phong viết, cũng không biết rõ quan niệm của ông về văn nghệ như thế nào. Nhớ một lần, ông tặng tôi một cuốn. Chúng tôi nói chuyện mấy câu, tôi hỏi ông: "Vì sao người ta có ý kiến với ông thế?". Ông trả lời qua loa: "Vì tôi nói thay cho phần tử trí thức mấy lời thôi mà”, Ấy đại khái là năm 1948. Sau đó, ông đến Hương Cảng để ra vùng giải phóng, Tôi có đọc những bài ông viết khi ở Hương Cảng. Nhớ đến một chuyện cũ: Mùa xuân năm 1941, tôi từ Thành Đô về Trùng Khánh, ấy là sau sự biến Hoài Nam, nhiều nhà văn hóa chạy sang Hương Cảng. Lão Xá vẫn ở lại Trùng Khánh chủ trì Hội liên hiệp Văn học kháng chiến. Ông dặn tôi: "Ông có đi thì nói cho tôi biết nhé". Lúc Hồ Phong đi, có tìm tôi nói chuyên rất lâu. Hồ Phong còn có bài ngũ ngôn luật thi đăng trên "Tân Thục báo", ở Trùng Khánh, bài thơ ấy gửi từ Hương Cảng, nay tôi còn nhớ bốn câu đầu:

Phá hiểu hoành giang độ,

Sơn thành cụ chính nồng.

Bất đàn du tử lệ,

Do bão trục thần trung...([3])

Nói lên tình cảnh và tâm tình lúc sáng sớm, vượt sông Trường Giang sang Hải Đường Khê bên bờ nam ra đi. Tôi nhớ lại đời sống ở Trùng Khánh đương thời. Mùa thu năm 1942, tôi cũng đến Hải Đường Khê, đáp xe hơi, có điều tôi lên Quế Lâm. Không đầy hai năm, tôi lại về Trùng Khánh vẫn qua Hải Đường Khê, sau đó thì ở lại Trùng Khánh. Hồ Phong đã trở về Trùng Khánh trước rồi. Ông bỏ Hương Cảng ra đi lúc quân Nhật tấn công chiếm Hương Cảng, đến ởtrong thôn ngoài thành Trùng Khánh. Mỗi lần Ban chấp hành Hội liên hiệp Văn nghệ kháng chiến họp, tôi thường thấy ông ở vườn hoa nhà họ Trương. Có lúc tôi tham gia Hội nghị khác hoặc các hoạt động xã hội khác đều thấy ông có mặt. Một hôm, vào buổi chiều, tôi dự lễ kỷ niệm lần thứ tám, ngày Lỗ Tấn tiên sinh mất, do Hội liên hiệp Văn hóa Trung-Xô tổ chức. Hội trường gần Nhà xuất bản Văn hóa sinh hoạt ở đường Quốc Dân. Có Tống Khánh Linh, Trương Tây Mạn, người phụ trách Hội liên hiệp Văn hóa Trung-Xô cũng đến, có cả Tuyết Phong, Hồ Phong. Hội nghị tiến hành thuận lợi đúng theo chương trình dự định. Họp nửa chừng, Tống Khánh Linh có việc phải về trước. Bà về rồi, Hội trường liền mất trật tự, rối loạn hẳn. Đặc vụ Quốc dân đảng bắt đầu công kích Hồ Phong. Lại có ảnh phỉ báng bà Hứa Quảng Bình đang ở Thượng Hải. Tuyết Phong đứng ra biện hộ cho bà. Bọn người đến phá đám làm ồn lên, Trương Tây Mạn lên phát biểu, bọn đặc vụ không nghe mà trái lại lên mặt dạy ông ta. Hội trường bị bọn ấy chiếm lĩnh. Hội nghị đành phải kết thúc qua quýt. Chúng tôi mấy người lục tục đi ra, đều đến chỗ Tuyết Phong. Ông ở trong Nhà sách Tác giả, xế trước mặt Nhà xuất bản Văn hóa sinh hoạt. Chúng tôi đưa ra một vài thắc mắc, Tuyết Phong phát cáu, Hồ Phong hình như cũng đang nghĩ gì, vẻ mặt đanh lại. Tôi khuyên ông nên cẩn thận, xem chừng bọn đặc vụ có thể có âm mưu gì không. Những chuyện như thế còn nhiều lắm, nhưng hồi bấy giờ, không ghi lại, dần dần trong trí nhớ của tôi cũng phai nhạt đi. Tôi định ghi lại một đôi lời chúng tôi nói với nhau trong khi chúng tôi quen nhau, cũng không nhớ ra.

2

Đầu giải phóng, tôi và Hồ Phong thường gặp mặt nhau. Hội nghị Đại biểu các Nhà văn Toàn quốc lần thứ nhất, chúng tôi không cùng một đoàn. Ông đến Bắc Bình trước, trong đoàn I, Phương Nam. Tháng Chín, dự Hội nghị liên hiệp Chính trị lần thứ hai khóa đầu, chúng tôi ngồi cùng xe từ Thượng Hải lên Bắc Kinh, và ở hai phòng kề nhau trong Trường Hoa văn. Tôi thường đi tìm bạn bè, còn ông thì ở lại Chiêu đãi sở tiếp khách. Chúng tôi thường cùng dự Hội nghị với nhau, nhưng rất ít khi nói chuyện lâu. Tháng 7 năm 1953, tôi sang Triều Tiên lần thứ hai, ông đã dời lên Bắc Kinh ở Từ Quán. Ông hẹn với tôi cùng lên đường, sau vì phải chữa một bài viết cho tờ "Nhân dân văn học" nên ở lại. Nhờ bài ấy, đầu đề là "Thân tàn mà chí không tàn", một thiên phóng sự về thương binh của Chí Nguyện Quân. Hồ Phong cùng mấy nhà văn nữa sẽ đến sinh hoạt trong bệnh viện nọ ở Đông Bắc. Hai hôm trước ngày lên đường, tôi còn đến nhà ông hỏi có quyết định đi hay không. Lúc tôi đến họ đang ăn cơm tối, nhà có khách, tôi không quen mà ông cũng không giới thiệu. Tôi nói cho anh biết ngày tôi lên đường rồi cáo từ. Tôi đã ăn cơm rồi, mang một bó sách to tướng, cái xe ba bánh thuê còn đợi ngoài kia.

Không bao lâu sau, Hội nghị Đại biểu các Nhà văn lần thứ Hai triệu tập ở Bắc Kinh, tôi đang ở Triều Tiên, không tiện về dự, xin vắng mặt. Năm tháng sau, tôi mới về nước. Mùa thu năm 1954, tôi cùng Hồ Phong dự Đại hội đại biểu Nhân dân Toàn quốc khóa thứ Nhất. Chúng tôi đều là đại biểu tỉnh Tứ Xuyên, thường họp với nhau, gặp mặt nhau, cảm thấy thân thiết, nhưng trước sau vẫn ít nói chuyện với nhau. Tôi tuy đã học tập một số văn kiện trên báo chí, cũng có không ít bài bàn về văn nghệ, có điều tôi cứ mù mờ. Tôi rất muốn học tập nghiêm túc, tự cải tạo, bỏ quách cái cũ, trang bị cái mới để cho bộ máy của mình chạy nhanh lên, viết được chút gì. Tôi sợ họp, nhưng lại không dám không đi họp, mà tìm cách trốn một số cuộc, kết quả thường là có đến dự mà tâm trí để ở đâu, luôn luôn kiểm thảo hoặc chuẩn bị kiểm thảo, bỏ phí mất hai, ba mươi năm trời. Tôi càng cố gắng, càng viết không được tác phẩm nào. Vả lại càng đội mũ nhà văn vào càng thiếu thời gian sáng tác. Trong những ngày hôm nay, do bệnh khó chữa, tôi chuẩn bị gác bút, lại định tính sổ, tổng kết đời sáng tác của mình, sực nhớ đến ba phong trào lớn bất giác run lên, mồ hôi toát đầm người. Tôi không bị ném vào vực thẳm "Tập đoàn Hồ Phong", "Đấu tranh chống Hữu", "Đại Cách mạng Văn hóa" đó là vận may. Nhưng đối với bạn bè khi nuốt hận mà chết, tôi làm thế nào mà giải thích với mình đây?

3

Ngày 26 tháng Ba năm ngoái, nhà Bảo tàng Văn học hiện đại Trung Quốc chính thức khai trương. Tôi đến đọc lời chúc mừng. Hai năm rưỡi nay, tôi không lên Bắc Kinh, được gặp những bạn cũ tôi rất phấn khởi, nhưng tôi đi lại khó khăn, đành để bạn bè tới hỏi thăm. Đồng chí Mai Chí cùng Hồ Phong đi tới, bà chỉ Hồ Phong hỏi tôi. Ông còn nhận ra ông này không? Tôi ngẩn người một lúc. Đáng lẽ tôi phải nhận ra Hồ Phong. Đây là lần đầu tiên tôi gặp lại ông từ sau năm 1955. Ông thay đổi nhiều quá. Nhìn kỹ thì biết ông đang là một người bệnh, ông không biểu lộ tình cảm gì ra ngoài mặt, cũng không nói năng gì. Tôi nói: "Thấy ông như thế này, tôi ân hận lắm!". Xuýt nữa thì tôi chảy nước mắt, đó là vì trước kia khi ông ở Thượng Hải nằm viện, tôi không đến thăm ông, cũng vì chưa thanh toán nợ với ông, tôi cảm thấy xấu hổ. Tâm tình tôi như thế nào chỉ một mình tôi biết. Có lúc ngồi tôi cũng muốn nói nhưng không nói cho rõ ràng được. Hình như là vào buổi chiều. Hội liên hiệp các Nhà văn mở rộng, Hồ Phong đến có cô con gái dìu, ông ngồi cạnh cái bàn đối diện. Tôi luôn luôn chăm chú nhìn ông. Tôi không nhận ra nét nào quen thuộc của Hồ Phong cả. Ông ngồi thừ ra đấy, không động đậy, cũng không hề nói gì với cô con gái. Tôi định vào giờ nghỉ sẽ đến chào hỏi ông, nói chuyện vài câu. Nhưng đến khi Hội nghị sắp giải lao thì cha con ông đã đứng dậy ra về. Tôi đứng nhìn theo. Tôi có nhiều điều muốn nói với ông lắm. Tôi như đang giương mắt nhìn lại những năm tháng xa xôi, mấy mươi năm đã trôi qua, không thể nào níu lại được. Tôi nghĩ đến câu tục ngữ: "Gặp một lần là bớt đi một lần" nhưng không nghĩ rằng lần này là lần cuối cùng tôi gặp mặt ông.

Sau đó, tôi ở Thượng Hải, nhận được tin ông mất. Tôi đánh điện nhờ người mang vòng hoa đến viếng ông. Tôi không nói được gì. Bây giờ thì nói gì, muộn quá rồi. Thế là cuối cùng tôi không có cơ hội thanh toán món nợ với ông được.

Nhưng mắc nợ thì phải trả, không được cù nhầy. Giá sử không trả được hết, hoặc để quá hạn, thì cũng phải làm sao cho người sau biết là quả tình tôi đã cố gắng, hy vọng có thể bù đắp được những tổn thất mà người bạn quá cố đã phải chịu.

Bản án oan của Hồ Phong đã được xóa rồi. Tôi đọc "Truyện Hồ Phong" của đồng chí Mai Chi, vợ ông, rất cảm động, mà cũng hết sức buồn. Ông bị người ta đối xử bất công quá. Hồi đó, ông từng nói "tâm an mà lý không thông". Ngày nay, đại khái ông cũng chưa phải là tâm an mà lý đã thông. Nguyên do vì toàn bộ quá trình cái án oan đó chưa hề được công bố. Tôi cũng chưa có dũng khí nhìn thẳng vào sự thực, chưa biết thật rõ đầu đuôi ra sao. Vợ chồng ông đã vào Tứ Xuyên, nghe nói thời kỳ "Văn cách", Hồ Phong lại ngồi tù, sau cùng bị đày không kỳ hạn. Sức khỏe của ông suy sụp hẳn. Phần cuối sách của bà Mai Chi đăng trên "Văn hóa nguyệt báo", tôi chưa được đọc, nhưng tôi nghĩ bà cũng không nói hết sự việc ra đầy đủ, mà tôi cũng không thể tìm hiểu hết những cái tôi muốn biết. Tôi chỉ còn sống được vài ba năm nữa là cùng.

4

Vẫn nói về cuộc "đấu tranh" chống "Tập đoàn Hồ Phong”.

Trong cuộc đấu tranh ấy, cuối cùng tôi đã làm những gì? Tôi nhớ, ở Thượng Hải, tôi có viết ba bài và chủ trì mấy cuộc Hội nghị Phê phán. Hội nghị họp rồi thì quên hết, ai hơi sức đâu mà nghĩ đến nữa, còn các bài phát biểu thì còn được giữ lại ít nhất là ở thư viện và phòng lưu trữ. Kỳ thực, thì chúng cũng đã bị bỏ quên rồi. Chỉ khi tôi tổng kết quá khứ thì chúng mới hiện lên trong tâm trí tôi với nhưng dấu ấn như nung bằng lửa. Có một âm thanh thường văng vẳng bên tai tôi: "Anh không được quyền".

Tôi lại nhớ đến năm 1955.

Phong trào bắt đầu. Người ta khuyên tôi viết bài phê phán, tỏ thái độ. Tôi không muốn viết, cũng không thể viết, thật sự là viết không ra. Có người đến thôi thúc, thái độ rất hách, tôi nói dần dần tôi sẽ viết bài về truyện "Chiến dịch đầm lầy" của Lộ Linh, nhưng vài ngày sau, phóng viên "Nhân dân nhật báo” từ Bắc Kinh xuống đặt bài. Tôi đang dự họp Phân hội liên hiệp các Nhà văn, thảo luận vấn đề Hồ Phong. Đến lúc cần phải tỏ rõ thái độ rồi, không thoái thác được nữa thì tôi viết một bài đề là "Tội của họ cần phải trừng trị", một bài văn ngắn nói lại những điều người khác đã nói. Tỏ rõ thái độ, cái cửa ải đầu tiên ấy coi như đã vượt qua rồi.

Bài thứ hai là "Hai việc về Hồ phong", đăng trên "Văn nghệ nguyệt báo" ở Thượng Hải. Cũng là một bài văn ngắn. Hai việc đó đều là sự thực. Nhưng khi nhắc lại lời Lỗ Tấn nói rõ ràng tiên sinh không tin Hồ Phong là đặc vụ, tôi lại giải thích là tiên sinh bị lừa. Tháng 2 năm 1955, tôi lên Bắc Kinh nghe Chu Tổng Lý báo cáo. Tôi gặp Hồ Phong, ông nói với tôi: "Lần này tôi mắc sai lầm nghiêm trọng, xin ông góp ý kiến cho". Nhưng tôi lại phê bình ông, nói là "kẻ gian thì lòng khiếp sợ". Tôi không đưa ra được một chứng cớ nào cả. Để qua cửa ải thứ hai, tôi đành đưa ra cái lý như vậy. Viết bài thứ ba, tôi vốn cho rằng tôi có thể tìm lối thoát cho mình thông minh hơn, nhưng kết quả là chữa lợn lành thành lợn què, mang lấy vào thân một gánh nặng tinh thần khá trầm trọng. Sự việc xẩy ra như thế nào, tôi không thể nhớ sai. Tôi sang Triều Tiên lần thứ hai về, ở lại Bắc Kinh mấy ngày, truyện ngắn "Tuyết đầu mùa" của Lộ Linh vừa đăng trên "Nhân dân Văn học", đồng chí Thuyên Lân khen với tôi, tôi đọc cũng thấy hay, lại đi nói với người khác.

Về sau "Chiến dịch đầm lầy", đăng lên, phản ứng rất tốt, tôi cũng thích thú. Tôi biết rõ Chí nguyện quân và các cô gái Triều Tiên không được nói chuyện yêu đương với nhau, có điều Lộ Linh viết theo lý tưởng, không phải là ước muốn có thể thực hiện được, có vấn đề gì đâu? Khi phê phán "Tập đoàn Hồ Phong", tôi bị ép tham gia đấu tranh, thực tế để viết thành bài, bèn lấy truyện "Chiến dịch đầm lầy" làm bia, phê bình anh Chí nguyện quân nọ không được yêu cô gái địa phương kia, đó là lệnh cấm. Bài viết xong, gửi "Nhân dân Văn học", tôi cảm thấy nhẹ cả người. Tình thế đang thay đổi, phong trào mở rộng, bài của tôi đăng lên tựa hồ khác hẳn. Tôi thấy trong bài có một số thuật ngữ chính trị tôi không hề nghĩ tới, càng không biết mình đâu có quyền tuỳ tiện chụp cho người ta cái mũ "phản cách mạng". Có thể thấy một số câu người nào vội vội vàng vàng thêm vào. Tóm lại, đọc lần đầu, tôi không bằng lòng, nhưng đêm sau, có ông bạn đến tìm tôi, nói về bài ấy thì tôi bình tâm, không thắc mắc nữa. Bài tôi viết là phê phán tư tưởng, nhưng bây giờ trở thành bài nói hùa vào lúc người ta đang đánh "trận đòn phản cách mạng". Giá thử bài ấy không ai thêm bớt, cứ đăng nguyên xi thì tôi sẽ trở thành đối tượng phê phán, có ý giải thoát cho "tập đoàn phản cách mạng". Người biên tập "Nhân dân Văn học" chữa bài của tôi, đã giúp đỡ tôi, nếu không tôi đã gặp chuyện lôi thôi rồi. Cũng năm ấy, tờ "Văn nghệ nguyệt báo" đăng bài "kiểm thảo" của nhà soạn nhạc nổi tiếng nọ, ông ta "triệt để vạch trần Hồ Phong", sau khi "tập tài liệu thứ hai" được công bố. Nhưng đến khi tờ nguyệt san đưa bán ngoài hiệu sách thì "tập tài liệu thứ ba" xuất hiện, tính chất của “tập đoàn Hồ Phong” lại tăng lên. Thế là độc giả liên tiếp gửi thư về khiển trách ông ta, ông đành phải "kiểm thảo” công khai. Kết quả thực tế là ông ta đã yểm hộ cho lũ đen Hồ Phong. Ngay ban biên tập "nguyệt san" cũng không thể không thừa nhận là đối với sai lầm này... "Phải chịu trách nhiệm chủ yếu". Cái không khí ấy, hoàn cảnh ấy, cách làm ấy… dùng lực lượng toàn quốc ra để đối phó với một "nhóm nhỏ" nhà văn, cuối cùng là vì sao? Thế thì cái tập đoàn ấy thật sự có âm mưu gì xấu xa? Dù sao thì tôi cũng chỉ có một con đường, xô đổ được thì xô đổ, không xô đổ được thì tìm cách ứng phó, và tôi dựa vào câu nói: "Thiên vương thánh minh", hồi đó quả thật tôi đang mang cái sùng bái cá nhân trên lưng. Tư tưởng tôi không thông thì tôi không suy nghĩ nữa, tôi không có thì giờ mà phải khổ sở suy nghĩ.

Cuộc đấu đá Hồ Phong ồn ào lên một lúc, sau đó thì dần dần lắng xuống. Bản thân tôi cũng như bạn bè của ông trong cuộc đấu cái gọi là "phần tử Hồ Phong" đều không ai ra mặt cả. Sau đó, thì đã chìm xuống biển cả, không ai nhắc tới họ nữa. Thỉnh thoảng gặp người quen, tôi hỏi thăm Hồ Phong, họ nói: "Anh hỏi làm gì?". Tôi nghĩ đến "Văn tự ngục" đời Thanh mà rùng mình, không dám nói nữa. Bạn bè nước ngoài hỏi tôi về tình cảnh Hồ Phong gần đây, tôi ầm ừ nói không ra lời. Vả lại, những ngày ấy, năm tháng ấy, phong trào này tiếp phong trào khác, đại hội rồi tiểu hội không ngớt, ai ai cũng muốn vượt cho qua cửa ải, ai ai cũng lo lấy thân mình, làm gì có thì giờ, có dũng khí để đi hỏi những việc không nên hỏi. Chỉ đến thời "Văn cách", không nhớ đọc được ở đâu một tài liệu hay đọc trên một tờ báo nào, nói Hồ Phong đang ở Tứ Xuyên. Ngoài ra, tôi không biết gì nữa cả. Cho đến khi "Văn cách" kết thúc, nhào qua nhào lại một hồi, người bị chôn sống được trở lại nhân gian, nhưng không còn là Hồ Phong trước kia nữa.

Một nhà thơ vui tính, sinh lực dồi dào, biến thành một con người đờ đẫn, một bệnh nhân không còn chút sinh khí. Ông đã bị người ta giày vò, bức hại quá đáng, không thể tiếp tục làm việc được nữa. Còn gì khổ hơn. Về ông, tôi biết rất ít và hiểu cũng không sâu. Tôi đọc "Bức thư ba mươi vạn từ" của ông thì quên ngay, nhưng nghĩ lại cũng chẳng có gì sai trái. Để viết bài "Thương nhớ" này, tôi giở lại "Văn nghệ nguyệt báo" thời bấy giờ xem, thấy lời Ban biên tập thừa nhận họ sai. Tôi như bị đánh một gậy vào đầu. In trên giấy trắng mực đen thì vĩnh viễn không thể xóa được. Con cháu đời sau là những vị quan tòa chân chính phán xét chúng ta. Cuối cùng chúng ta phải chịu trách nhiệm về sai lầm gì, chúng nó biết cả, chúng nó sẽ không tha thứ cho chúng ta đâu. Những năm Năm mươi, tôi thường nghĩ đến những cuộc đấu tranh kia, những phong trào kia, tôi cảm thấy buồn nôn, cảm thấy xấu hổ về cách mình đóng trò (dù là bất đắc dĩ mà làm). Ngày nay, xem những lời viết 30 năm trước, tôi không thể tha thứ cho tôi mà cũng không xin người đời sau tha thứ. Tôi nghĩ Hồ Phong là một người làm công tác văn nghệ, nếu như không bị oan khuất, không bị bức hại, nếu như không bị ngồi tù một thời gian dài, ông không những sẽ còn sống đến hôm nay, mà nhất định đã có nhiều thành tựu. Nhưng bây giờ thì chẳng có gì cả. Tôi còn biết nói gì nữa đây.

Tôi là một bệnh nhân già yếu bạc nhược, suy nghĩ chậm chạp, viết bài này rất đỗi khó khăn, từ khi bắt đầu đến nay sắp hết một năm, có lúc mỗi ngày chỉ viết được hơn năm chục chữ. Tôi muốn nói những lời thực lòng và cũng muốn nghe người khác nói những lời thực lòng. Nhưng cầm bút lên hoặc mở miệng ra, hoặc lắng tai nghe, mới biết nói được những lời thực lòng không phải là dễ dàng. Đoạn cuối "truyện Hồ Phong" đăng trên "Văn hối nguyệt san", tôi đã được đọc rồi. Viết chưa hết thời gian họ sống ở Tứ Xuyên như thế nào không thấy nói đến. Tôi xin đồng chí Mai Chí viết tiếp cho. Đồng chí nói trong văn chương của đồng chí rằng: "Chuyện quá khứ như là mây khói". Tôi nói: "Quá khứ không hề tiêu tan". Những hồi ức như thế kia, tập trung lại sẽ đúc thành một cái chuông đồng đánh lên cảnh tỉnh mọi người. Chúng ta phải ghi vào lòng lời giáo huấn thảm khốc này.

Tôi muốn nói lên ở đây lời xin lỗi đồng chí Lộ Linh. Tôi không quen biết ông, chỉ gặp ông mấy lần ở Hội nghị đại biểu các Nhà văn lần thứ Nhất. Bấy giờ ông còn trẻ, là một nhà văn có tài. Tiếc rằng, người ta không để cho ngòi bút ông phát huy hết tài hoa. Hồi bấy giờ tôi phê bình truyện "Chiến dịch đầm lầy" của ông, không có ý làm thương tổn đến tác giả. Nhưng khi phong trào thăng cấp thì bài của tôi cũng thăng cấp, trở thành nghiêm trọng. Tôi không biết tình cảnh hiện nay của ông ra sao, chỉ nghe nói ông mất hết tinh lực, và mất cả sức khỏe, về những điều bất hạnh ông gặp phải về cái án oan của ông, về bệnh hoạn của ông, tôi biết nói thế nào với hậu thế đây? Lẽ nào công tác văn nghệ của chúng ta ngày ấy không mắc sai lầm hay sao? Mà tôi là kẻ đã ném đá xuống giếng, lẽ nào tôi không chịu một phần trách nhiệm? Lịch sử không để cho ai tùy ý biên soạn. Im lặng không thể trở ngại đến những lời nói thật được lưu truyền. Hắt nước bẩn vào người ông một cách bất công cũng chẳng có tác dụng gì. Có điều tuyệt đối tôi không thể tha thứ cho tôi những lời nói trái với lòng kia mà thôi.

20 tháng 8 năm 1984.

[1] Phải chăng là trường Trung học Thuộc địa (?!) (L. T. M)

[2] Về Hồ Phong, đã công bố trên tờ Nhân dân nhật báo.

[3] Tạm dịch:Qua sông lúc sáng sớm,Thành núi còn nồng,Du tử không gạt lệ,Còn ôm chút lòng trung

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.