Tùy Tưởng Lục

Lượt đọc: 307 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
LẠI BÀN VỀ NÓI THẬT

❊ ❊ ❊

Những bài "Tùy tưởng" của tôi không có gì là "cao minh", hơn thế, quyết không phải là những tác phẩm truyền đời. Có điều bản thân tôi rất thích chúng, vì chúng đã nói thật. Tôi nghĩ thế nào, thì viết ra như thế, nói sai cũng không trốn nợ. Có người bảo tôi, một tạp chí nói[1] "Tùy tưởng lục" của tôi[2] đã bị "bao vây". Tôi bằng lòng nghe những ý kiến khác nhau, hãy cứ để cho mọi người châm lửa lên, đốt cháy "Tuỳ tưởng" của tôi đi! Nhưng dù thế nào thì lời nói thật lại không thể đốt được. Đương nhiên, có phải lời nói có thật hay không, không thể do một mình tôi nói rồi thôi, mà ít nhất nó cũng được sự thử thách của thời gian. Ba chục năm nay, tôi cũng viết ra khá nhiều phế phẩm. Thí dụ bài viết mà lần trước có nói đến, người Chiến sĩ Thi đua[3] lúc ấy bỗng trở thành quan trên, rất nhanh chóng bước sang phía phản diện của ông ta, đã không "lao động", cũng chẳng làm "gương mẫu"; nói dối, kiếm đặc quyền, làm chuyện xấu thì lại trở thành cơm bữa. Trước kia, tôi đã viết bao nhiêu lời lẽ hùng hồn, lúc ấy sao tôi hân hoan hào hứng đến thế. Bây giờ mới biết tôi đã mắc lừa, coi sự khoác lác thành lời nói thực. Thời gian vô tình sẽ không dung tha cho sự nói dối.

Rất lạ là cho đến nay vẫn có người đòi hỏi nhà văn ca ngợi "công" và "đức" thực ra không tồn tại. Tôi đã gặp những người mãi mãi đúng đắn, trước kia ở đâu cũng có. Họ lúc thì chỉ bên Đông, lúc thì chỉ bên Tây, để cho người khác liên tục mắc sai lầm, bản thân họ mãi mãi làm quan trọng tài. Hôm nay người ta khen người này là "người cực tốt", ngày mai lại chửi người kia là "phần tử xấu". Trước kia chửi bới họ là "phản bội", ngày nay lại tôn kính họ là liệt sĩ. Bản thân nói ra xưa nay đều chẳng đâu vào đâu, người khác nói ra thì ghi lại từng câu một, đến một lúc nào đó lôi ra chỉnh liên hồi kỳ trận, mà bản thân họ không hề đỏ mặt chút nào. Họ biến thành một thứ máy, anh lắp vào đĩa hát gì, họ sẽ hát đúng điệu ấy, anh lắp vào băng ghi âm nào, họ sẽ hát lên bài hát ấy. Cái miệng của họ y như miệng con gà chỉ hướng gió trên nóc những nhà Tây thời trước, gió hướng nào, cái miệng nó sẽ hóng theo hướng đó.

Bạn bè nước ngoài có người đã phàn nàn với tôi, họ hữu hảo với Trung Quốc, đến thăm Trung Quốc, yêu cầu chúng ta giới thiệu tình hình chân thực, họ nói về nước sẽ tuyên truyền cho nhân dân của họ như chúng ta nói. Họ đã dũng cảm đứng ra làm người nói thay cho chúng ta, cứ tưởng rằng những điều mình nói đều là lời nói thực. Thế nhưng chẳng bao lâu sau đã phát hiện thấy mình ở trong cảnh hết sức sượng sùng: Trước sau mâu thuẫn, không thể tự làm tròn lời nói của mình, đổi đi đổi lại thậm chí tự vả vào mặt mình. Người nước ngoài coi trọng niềm tin, không thể nhảy qua nhảy lại, rồi bỗng dưng rẽ ngoặt về mặt tư tưởng. Anh nói dối thì anh phải chịu trách nhiệm, phủi sạch cũng không phủi được. Có một số bạn nước ngoài, chính vì nhập khẩu lời nói dối mà mất lòng tin, đến nay còn bị người ta bắt giam chưa chịu thả ra. Họ thua thiệt cũng bởi vì quá thật thà, không ngờ rằng ở đây chúng ta có kẻ sống bằng nghề nói dối. Khi "lũ bốn tên" bao vây An-tôn Nê-ô-ni, tôi đọc được trên tạp chí "Cánh tả” bài viết phê phán An-tôn Nê-ô-ni. Lúc đó tôi mới ở dạng nửa liên quan, nên có thể đến quầy báo chí của bưu điện chọn mua tạp chí "Cánh tả". Tôi sớm đã không tin ở lời lẽ quỷ quyệt của "lũ bốn tên". Tôi thấy nhân dân Trung Quốc càng ngày càng nghèo khổ, thế mà "lũ bốn tên" lại thổi phồng lên rằng "đang bước tới Chủ nghĩa Cộng sản". Sự tuyên truyền trên báo chí hoàn toàn khác với những điều tôi thấy, tôi nghe trong cuộc sống, những điều "lũ bốn tên" nói ra và những điều họ làm cũng hoàn toàn khác nhau. Cả ngày tôi không nghe được một lời nói thật, thỉnh thoảng có người đến nói chuyện về tư tưởng, tôi cũng không dám thật thà thổ lộ nỗi lòng. Tôi cảm thương cho sự ngây thơ khờ khạo của vị "cánh tả" I-ta-li nọ, sao mà ông ta dễ mắc lừa đến thế. Sự việc qua đi mấy năm rồi, tôi không biết đến giờ ông ta là tả hay là hữu, cũng có thể còn có người lôi ông ra không buông tha, đó là sự trừng phạt cho cái tội không chịu độc lập suy nghĩ đấy.

Kỳ thực thì tôi cũng có những bài học còn đau đớn hơn. Năm 1958, khi nổi lên trào lưu nói khoác, tôi chẳng những tin chắc vào các loại "lời lẽ hùng hồn", hơn thế, tôi còn theo người ta nói dối, bốc phét. Năm 1956 tôi đã từng viết bài, hô hào người khác "độc lập suy nghĩ", thế nhưng năm sau đó, đợt vận động đến, mấy người quen bị ngã lăn dưới đất, tôi cũng đành buông giáp, bỏ giáo quy hàng, luôn luôn coi những suy nghĩ vụn vặt đó là một tội ác không thể tha thứ, từ đó không thấy nói dối là đáng nhục nữa. Đương nhiên, trong khoảng thời gian đó cũng có những lần lặp đi lặp lại, tôi có đầu óc, tôi sẽ biết suy xét. Có lúc tôi cũng không nhịn được phải thổ lộ những suy nghĩ của mình. Năm 1962, trong một lần hội họp của giới văn nghệ Thượng Hải, tôi đã phát biểu một bài nói chuyện "Dũng khí và tinh thần trách nhiệm của nhà văn". Tôi chỉ có một chút "dũng khí và tinh thần trách nhiệm" đó, tức là chỉ có ba mươi mấy câu nói thật, nó bỗng trở thành một gánh nặng tinh thần cho tôi. Vô khối người vác sẵn gậy chờ tôi, Diêu Văn Nguyên là một trong số đó. Quả nhiên "Đại Cách mạng Văn hoá" vừa bắt đầu, tôi còn đang ở Bắc Kinh tham gia hội nghị khẩn cấp các nhà văn Á Phi, thì ở phòng lớn Hội Nhà văn Thượng Hải đã dán đầy báo chữ lớn "Chấn hưng vô sản, tiêu diệt tư sản", vạch tội bài nói chuyện "phản đảng" ấy của tôi. Về đến Thượng Hải, tôi phải hớt hơ hớt hải đến Hội Nhà văn để học tập. Báo chí chữ to tờ nọ tiếp tờ kia, "ra lệnh" cho tôi thế này, "ra lệnh" cho tôi thế khác, dán chưa tới 10 tờ, quyền công dân của tôi bị tước đoạt sạch.

Đó là chuyện sảy ra hồi tháng 8 tháng 9 năm 1966, lòng tôi lúc ấy hết sức kỳ lạ. Sau này tôi nói tôi y như bị thôi miên, cũng hoàn toàn xác đáng. Trong đầu tôi hình như chỉ có một mớ bòng bong. Tôi đã không thể độc lập suy nghĩ được, tôi chỉ cảm thấy đeo một cái bọc "tôi" nặng è trên lưng rồi rơi xuống nước. Tôi định cứu mình nhưng càng lún sâu. Trong óc không có quan niệm phải trái, thật giả, chỉ biết rằng mình có tội, hơn nữa tội danh càng ngày càng lớn. Cuối cùng tới mức mình không thể cứu được nữa rồi, phải chịu mọi thứ tai nạn, cực hình chỉ là vì để giải thoát, cứu vãn vợ tôi, con gái tôi. Ở nơi phê đấu, “phái tạo phản” đã vạch ra, nặn ra tội ác của tôi, nhiều vô kể. Tôi hết sức lo sợ. Mới đầu tôi còn biện bạch vài câu, về sau tôi nhận tuốt. Lúc ấy tôi tin Thần, lễ Thần, cũng mê tín vào các loại phù chú. Khi bọn “tạo phản” phê đấu tôi, chúng thường nói một câu "Đừng hòng chết đuối vớ phải cọc". Tôi cứ bám chặt lấy câu duy nhất "cọc" tức là ”cải tạo". Tôi chẳng những treo cái phù chú ấy ngay trên cửa, mà còn dán ởtrong lòng tôi. Tôi quyết tâm cải tạo mình thật cẩn thận. Tôi còn nhớ khi tôi còn nhỏ, mỗi khi trong nhà có người chết, để "siêu độ vong linh", đã mời sư về tụng kinh, ở nhà khách hay những nơi khác đều treo tranh Thập điện diêm la. Trong những bức tranh đó, những vong hồn có tội, phải đi qua thập điện, chịu đủ mọi cực hình cuối cùng tái thế làm người. Đó là sự giáo dục tôi tiếp nhận được ở tuổi nhi đồng, mấy chục năm sau, lại có tác dụng ngay cho bản thân tôi. Ba tháng sau, nửa cuối năm 1966, tôi lý giải sự "cải tạo" như thế, tôi chuẩn bị sẽ ”mổ bụng moi gan", "lên rừng gươm, xuống vạc dầu" chịu hết mọi sự trừng phạt, cuối cùng lên dương thế, làm lại cuộc đời. Bởi thế tôi đã quyết tâm, nghiến răng lại kiên trì đến cùng. Tuy giữa chừng có một thời kỳ rất ngắn, tôi đã nghĩ đến chuyện tự sát, cho rằng chỉ cần nhắm mắt lại là sẽ không biết gì nữa, bước vào giấc ngủ triền miên và yên tĩnh, những huỷ hoại về danh dự ở trên đời không hại gì đến tôi. Nhưng nghĩ đến tình cảnh những người trong nhà tôi từ nay về sau, tôi lại không nỡ vô tình bỏ qua. Nghĩ đi nghĩ lại mấy lần, cuối cùng tôi nhận thấy rằng tự sát là hành vi hèn nhát. Những gì mình không chịu đựng nổi lại đùn cho người thân gánh chịu, quả đắng do mình trồng ra lại bắt vợ con phải ăn, xem ra có vẻ không công bằng. Hơn thế, lúc ấy có một câu nói rất phổ biến: "Ngã ở đâu thì lại đứng dậy ở đó". Tôi còn ngây ngô, hão huyền định sẽ chịu mọi sự đau khổ, dưới sự thống trị của "lũ bốn tên", nhổm dậy ở ngay nơi mình ngã xuống.

Những lúc đó, những năm đó, tôi đã sống trong những lời nói dối, nghe nói dối, nói lời nói dối. Mới đầu, coi lời nói dối là chân lý, dần dần về sau nhận ra sự giả dối. Mới đầu là để "cải tạo" mình, về sau là để giữ yên cho mình" Mới đầu lấy nói dối làm lời nói thật, sau này lấy lời nói dối để nói dối. Trong mười năm, tôi dần dần nhìn rõ những bức tranh thập toạ của Điện Diêm vương, tất cả đều là giả dối! "Cháo lú" cũng hết tác dụng, đầu óc tôi tỉnh táo, ngoái đầu nhìn con đường phía sau, tôi vẫn còn có thể phân biệt được những năm đó tôi đã đi như thế nào. Tôi dẫm dưới chân mình nhiều lời nói dối đến thế, những lời nói dối trang điểm bằng hoa tươi.

Cho dù có đắp lên hàng ngàn hàng vạn bông hoa, thì lời nói dối cũng không thể biến thành chân lý được. Một lẽ đời nông cạn đến như vậy, thế mà vì nó, tôi đã phải phí mất một khoảng thời gian rất dài, phải trả một cái giá quá cao.

Người ta, chỉ có nói thật, mới có thể sống thật sự được.

Ngày 2 tháng 10.

[1] Tạp chí "Khai quyển" Hồng Kông.

[2] quyển 1

[3] lao động gương mẫu

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.