Tùy Tưởng Lục

Lượt đọc: 355 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
HAI MƯƠI NĂM TRƯỚC

❊ ❊ ❊

Trời nóng không thể làm việc được. Tôi thường ngồi trên ghế mây nghĩ ngợi lung tung. Đầu óc không chịu yên cho, chẳng làm sao được.

"Văn cách" phát động đến nay tròn hai mươi năm, đó là chuyện quan trọng nhất trong nửa sau đời tôi, quên làm sao được, không thể không để cho nó trăn qua trở lại. Cho nên mấy ngày nay trong đầu óc tôi toàn là chuyện hai mươi năm trước. Thời gian gần đây, nhớ lại cuộc sống của tôi lúc đầu vào nằm viện lần thứ hai, phảng phất như ôn lại giấc mộng cũ, lại như có người đứng trước tôi gióng lên hồi chuông cảnh tỉnh. Giấc mộng cũ hay là tiếng chuông cảnh tỉnh cũng thế, vẫn đưa lại cảm giác đứng bờ bên này, nhìn đám cháy ở bờ bên kia. Chẳng khác chút nào với việc bị trói hàng dãy trên pháp trường, người run lập cập, thấy nguy đến nơi, chỉ cầu lấy mạng sống, bảo vệ mình, không tiếc bán rẻ người khác, bán rẻ tất cả những gì tốt đẹp nhất. Những ngày ấy, cuộc sống ấy, quan hệ ấy giữa con người và con người, thật là đen tối quá chừng, giống như là đang chịu tội dưới địa ngục vậy. Tôi lấy làm lạ, bấy giờ tôi đã ăn cháo lú gì mà có thể giơ hai tay lên, hô to đả đảo mình, cam lòng nhận tội, để cho kẻ khác tước đoạt quyền làm người của mình.

Không phải là tôi đang nói mê. Năm 1966, quả thực tôi đã như thế. Cháo lú đã làm tôi mê mẩn suốt mười năm. Năm 1983, nó lại định đưa tôi vào cảnh mộng một lần nữa, nhưng cái phép quỷ quái quen thuộc ấy đã mất tác dụng không làm cho tôi lú lẫn nữa. Tôi nói: “Tôi phải giương to hai con mắt lên để xem nó trở lại như thế nào”. Kết quả quá khứ cuối cùng vẫn không phải là quá khứ! Tôi mới hiểu ra rằng, người bảo vệ quyền lợi của chính mình thì không thể nào bị thần tiên, hoàng đế, hay là chúa cứu thế nuốt trôi được. Bởi vì trên thế, giới làm gì có thần tiên, hoàng đế và chúa cứu thế. Chuyện như thế này: trước kia vào khoảng mười tuổi, tôi tin có ma quỷ, tôi sợ ma quỷ, nghe người ta kể chuyện ma quỷ, tôi nghĩ rằng con người chết rồi phải xuống thập điện Diêm vương, bị tra khảo, bị khổ hình, tôi sợ hết hồn vía. Không những tôi sợ mà người ta còn kể nhiều câu chuyện truyền thuyết, và đưa ra nhiều bức vẽ hù doạ tôi. Lúc đó, tôi sợ run lên, không ngửng đầu nổi, có cảm giác người cứ rã rời ra. Về sau, không biết thế nào mà tôi dần dần nhận thấy những người đưa chuyện ma quỷ doạ tôi thì chính họ cũng không tin là có ma quỷ. Tôi không mê tín nữa, đến mười lăm tuổi, có thể nói tôi hoàn toàn không tin có ma quỷ. Mà nói ra cũng lạ, từ đó tôi không hề thấy ma quỷ nữa.

Hôm nay, hồi tưởng lại chuyện cũ hai mươi năm về trước, tôi không thể không đặt ra câu hỏi: "Giá thử hồi bấy giờ mình không ăn cháo lú thì sẽ ra làm sao?" Câu trả lời là: “Nếu mọi người chẳng ăn cháo lú, thì chúng ta đã tránh khỏi một tai hoạ trước nay chưa từng có”. Còn nếu như chỉ một số ít người tỉnh ngộ, thì có thể tôi cũng đi vào con đường tử vong bi thảm như Diệp Dĩ Quần, Lão Xá, Phó Lôi mà thôi. Trong những người bị "Văn cách" hãm hại, tôi chỉ kể tên ba ông bạn đã quá cố, bởi vì trong cuộc gọi là "cách mạng" đó, các ông bạn ấy là những người đầu tiên giao phó sinh mệnh cho xã hội mà họ từng yêu mến. Mỗi người trong họ lưu lại không ít tác phẩm, để con cháu đời sau hiểu thế nào là yêu nước, yêu nhân dân chúng ta. Lúc bấy giờ, ai nấy đã như kẻ điên rồi, trông thấy một người quen từ trên lầu cao nhảy xuống, chẳng ai thương xót, trái lại mởhội phê đấu, hô to khẩu hiệu, dùng những lời nói đả kích người chết. Tôi nhớ lại những lời nói những việc làm của chính tôi. Tôi tham gia Đại hội phê phán do Hiệp hội Nhà văn triệu tập lần ấy. Đó là đầu tháng sáu, bởi vì dự Hội nghị khẩn cấp các nhà văn Á Phi ởBắc Kinh và các nơi mất hai tháng. Cuối tháng Bảy, tôi mới từ Hàng Châu trở về Thượng Hải, đầu tháng Tám vừa tiễn khách nước ngoài đi, sau đó trở lại cơ quan tham gia "phong trào". Trước nay tôi chỉ ghi tên ở Phân hội, chứ không đến đó làm việc. Phong trào này gọi là "Đại Cách mạng", uy thế mãnh liệt vô cùng, xem tình hình tôi cũng biết mình khó lòng tránh khỏi số kiếp, bởi các nhà văn Toàn quốc phần lớn đều bị đưa "ra rìa” cả. Các vị khách Á Phi đến Tây Hồ làm việc ba ngày, mà không thấy một nhà văn nào ở địa phương đến tiếp đãi. Mấy nhà văn quen biết, từ Bắc Kinh đến, lúc chia tay ở sân bay Thượng Hải đều nói bóng gió rằng không biết khi nào sẽ lại gặp nhau. Ngay Tào Ngu cũng vậy. Nhìn họ bước lên máy bay, tôi bỗng cảm thấy mình hết sức trơ trọi. Tôi thấy mình đã đến bước đường cùng, trong lòng hãi quá.

Sau giải phóng, tuy trở lại học tập liên miên, phong trào này đến phong trào khác, không ngớt, nhưng lần này tôi chưa hề có chút kinh nghiệm nào. Trở về cơ quan, tôi mới biết là tôi phải học tập ở tổ sáng tác. Phong trào ở cơ quan do mấy người cầm đầu tiểu tổ, trên chỉ định. Thí dụ, tổ trưởng tổ sáng tác là một nhà văn công nhân, có ít nhiều tiếng tăm, trước đây gặp tôi thì chào hỏi lễ phép, nhưng nay mấy lần gặp mặt thì tỏ ra lạnh nhạt hết sức, khiến tôi cảm thấy giữa ông ta và tôi bị phân chia ranh giới rạch ròi, trong lòng thấy lo lắng. Có thể nói là tự mình đã bỏ vũ khí xuống rồi. Nơi chúng tôi khai hội, treo đầy báo chữ to, tờ nào cũng sát khí đằng đằng, tuyệt đại đa số nhằm vào hai người Diệp Dĩ Quần, Khổng La Tôn, hình như toàn là những lời lẽ phê phán. Cũng có mấy tờ phê phán tôi, nhắc đến bài phát biểu của tôi ở Hội nghị Nhà văn ở Thượng Hải lần thứ Hai năm 1962, lời lẽ thật độc ác, tôi không dám xem tiếp. Tôi bước vào Hội trường phảng phất như bước vào điện Diêm vương.

Sau khi tham gia học tập, ngày nào tôi cũng phải đến cơ quan, lúc đầu chỉ khi nào có thông báo mới đến, về sau thì đến theo giờ chính quyền, sau nữa thì ở lại cả ngày. Cuối cùng thì "cách ly thẩm tra", đang là người biến thành "bò”. Đó là điều mà từ ngày đến cơ quan này tôi hoàn toàn không hề tưởng tượng được. Mười ngày học tập ở tổ, bảy ngày, cứ buổi chiều là tham gia Đại hội phê phán Dĩ Quần, chửi túi bụi, nói Dĩ Quần "cách tuyệt” với nhân dân rồi, nghe khẩu khí giống như là Dĩ Quần không còn ở trên trần gian này nữa. Thế nhưng cuối tháng trước, tôi còn thấy ông ngồi trong Hội trường cúi đầu ghi ghi chép chép. Tóm lại, ông ta sống hay chết cũng mặc kệ. Ngay ông lớn chủ trì Đại hội cũng không hề giải thích điều gì về Dĩ Quần cả. Dù sao, mọi người cứ thuần phục giơ tay đồng tình một cách khẳng khái, hiên ngang. Tôi ngồi không dám nghĩ gì cả, thấy người ta giơ tay, tôi cũng giơ tay, và hô theo: "Đả đảo Diệp Dĩ Quần!”. Tôi cố giữ không để ai thấy mình lo lắng, không để ai nhớ rằng Dĩ Quần là bạn của tôi. Đại hội rồi Tiểu hội họp suốt ba tiếng đồng hồ, khi giải tán có một chị quen biết nói vào tai tôi: "tin tức về Dĩ Quẩn chớ lộ ra ngoài". Tôi lạnh cả người. Chị là một nhà văn chuyên nghiệp, lại là đảng viên, gần đây ở lại Thượng Hải, nhất định chị biết tình hình thực tế.

Buổi tối, trước khi đi ngủ, tôi ghi vào nhật ký đoạn sau: "1 giờ rưỡi, cùng Tiêu San thuê xe ba bánh đến Hiệp hội; 2 giờ, mở Đại hội toàn thể ở Hội trường phê tội Dĩ Quần “phản Đảng, phản Chủ nghĩa Xã hội”. Sau 4 giờ, nghỉ giải lao. Chia tổ họp, nhất trí biểu thị lòng phẫn nộ đối với hành vi phản đảng cuối cùng của Dĩ Quần. 5 giờ rưỡi giải tán". Tôi cầm bút viết, chẳng hề suy nghĩ, cũng chẳng chần chừ, lại không đặt mình vào cảnh ngộ của người bạn quá cố, nghĩ một chút về gia đình ông bạn... Tôi mệt mỏi, chỉ mong mình vượt qua cửa ải, bình an vô sự. Một tháng sau, một buổi chiều ngày nọ, tôi vừa đến cơ quan thì bị bọn tạo phản áp giải về nhà xem bọn chúng chấp hành "hành động cách mạng". Chúng lục soát mấy tiếng đồng hồ liền, mang đi mấy bao tải đồ vật trong đó có các cuốn nhật ký của tôi nhiều năm. Còn nhật ký để ở cơ quan gần mười một năm nay, không biết người nào đã gạch đỏ lòm, nhưng cuối cùng cũng trở về tay tôi. Đều là chữ tôi viết, để tìm những điều tôi ghi chép về cái chết của Dĩ Quần. Tôi lật từng trang, càng xem càng thấy vô vị, càng xem thường mình. Những năm ấy tôi luôn miệng nói "Tự cải tạo", rút cuộc cải tạo mình thành ra cái gì nào? Tôi không cần phải mất sức óc suy nghĩ; chỉ là theo người khác giơ tay lên, bỏ tay xuống, để bảo toàn lấy mạng mình, dù phải hy sinh bè bạn. Trước hết đã đảo người khác, sau đến tự đả đảo mình. Cho nên trong cái Hội trường này, không đầy hai tháng, tôi cũng đã theo người khác hô to: "Đả đảo Ba Kim, phần tử phản Đảng, phản Chủ nghĩa Xã hội". Nghĩ mà buồn cười; kỳ thực là nhục nhã. Thậm chí, khi cam tâm phủ định triệt để mình. Tôi cũng có hai ba lần tự hỏi: "Truyền thông văn hoá của chúng ta đâu rồi?”. Chúng ta còn có tình nghĩa bè bạn gì nữa hay không? Chúng ta có còn chân thực nữa hay không? Tại làm sao, trước hết, người ta không tìm ra đâu là phải, đâu là trái, rồi mới tỏ thái độ? Không cần phải nói, tôi không tìm được câu trả lời. Ngày nay tôi cũng thường hỏi: "Tại làm sao những năm ấy, có nhiều án oan, án giả, án sai đến thể?". Cũng chẳng ai trả lời cho tôi cả. Có điều, bây giờ đầu óc tôi tỉnh táo hơn rồi.

Thời "Văn cách" trong đám bạn bè tôi chết oan, Dĩ Quần là người thứ nhất. Nghe nói, anh nhảy lầu từ ngày mồng Hai tháng Tám, nhưng cho đến hôm nay, tôi vẫn chưa biết rõ anh bị bức phải nhảy lầu như thế nào. Tôi chủ trương tổ chức lễ truy điệu để chiêu tuyết cho anh, đọc một bài điếu văn. Tôi chỉ biết anh bị người ta bức tử với tội "không cần có chứng cứ". Nhưng tình hình cụ thể, chân thực như thế nào thì đáng lý ra phải có người nào đó chịu trách nhiệm. Tôi vẫn không biết rõ, mà có lẽ vĩnh viễn không thể biết rõ được. Bởi vì mọi người đều đã quen "nghe người ta nói" là được rồi, không yêu cầu biết sự thật ra làm sao. Dĩ Quần chết một tuần rồi tôi mới hay tin, còn như Lão Xá "vỡ ngọc”[1] thì một thời gian lâu sau khi ông tự sát. Đến như những trang tuyệt bút của Phó Lôi, mười mấy năm sau, tôi mới thấy tâm linh lương thiện, chính trực của người trí thức Trung Quốc, thấy truyền thống văn hoá của chúng ta: "Kẻ sĩ, có thể giết, không thể làm nhục". Ngày nay, đọc những bức thư Phó Lôi để lại, tôi còn cảm thấy chính khí tôn nghiêm hơn người của anh. Tôi thường dùng những hình dung từ, "thiện lương", "chân chính", để xưng tụng một số bạn bè của tôi. Những từ đó gần như tôi nói đã quen miệng rồi, nhưng dùng cho mỗi vị thì chúng lại toả ra một ánh sáng riêng. Trong "Văn cách", những người trí thức bị chết oan đâu chỉ hàng ngàn, hàng vạn. Họ nêu gương phê phán triết lý "cứu lấy mạng sống". Tôi nhớ thời chống phái hữu, tôi có viết một bài bác lại luận điệu "không thể làm nhục", chủ trương đập tan bộ mặt kiểu cách của các nhà trí thức. Viết bài đó kỳ thực là tôi "cứu lấy mạng sống của tôi”. Bấy giờ, tôi nghĩ rằng: Nếu như con người ta không chú ý đến sĩ diện thì khi gặp phải vấn đề sống hay chết cái gì người ta cũng làm. Ơn chúa, tôi chưa gặp phải tình huống ấy, các bạn bè tử vong, chết liên tục đánh lên hồi chuông cảnh tỉnh tôi.

Dĩ Quần chết rồi, việc phê phán La Tốn vẫn tiến hành như thường. Phái cách mạng trong cơ quan động viên tôi viết bài vạch trần La Tốn và những người khác. Người lãnh đạo tổ sáng tác cũng yêu cầu tôi viết báo chữ to. Tôi không thể bịa đặt ra, chỉ có thể viết về vài chuyện lặt vặt, không quan trọng, nên phái cách mạng không bằng lòng. Áp lực càng lan càng mạnh, báo chữ to đả kích tôi càng dần dần nhiều lên. Trong các nhà văn thì Vương Lỗ Ngạn bị ném ra đầu tiên, về sau ông nói: "Tôi tỉnh ra mới biết ông Thị trưởng điểm danh tôi là phản cách mạng". Rồi Ngô Cường và Ngụy Kim Chi, kẻ trước người sau bị đuổi ra khỏi tổ sáng tác. Tiếp theo, Sư Đà cũng bị ra rìa. Tôi đang giãy giụa. Buổi sáng hôm ấy, tôi đến cơ quan, tổ sáng tác chỉ còn ba người, Kha Linh, Bạch Ngụy và tôi. Có ai đó nói cho chúng tôi biết; những người khác bận việc, và bảo chúng tôi đến phòng tư liệu tìm chỗ mà tự học. Sau đó, ba người chúng tôi rời tổ sáng tác lên phòng tư liệu ở tầng hai mà tự học. Nói là tự học, chẳng qua là viết kiểm điểm, thú nhận tội mà thôi. Tình thế càng lâu càng căng thẳng. Tôi cũng thấy, đối với tôi, vòng vây thu hẹp dần, nhưng tôi vẫn tự an ủi rằng Tổ chức đối với tôi chắc khác với các ông Sư Đà. Họ học tập ở nhà ăn, hàng ngày phải làm một ít công việc lao động nhẹ. Nhưng được mấy ngày Kha Linh bị Xưởng Điện ảnh lôi đi. Chỉ còn lại Bạch Ngụy và tôi vẫn học tập ở phòng tư liệu. Đến đầu tháng 9, có người (một nhà văn công nhân) đến báo cho tôi biết rằng "thái độ của tôi chưa thành khẩn, quần chúng cách mạng sẽ có hành động đối với tôi". Thế là bắt đầu lục soát nhà lần thứ nhất. Lần ấy, lục soát từ sáng đến chiều, kể cả thời gian ăn trưa, đại khái, sáu, bảy tiếng đồng hồ (phái cách mạng cũng ăn cơm tại nhà tôi, cơm canh do Ban chấp hành mang tới), về sau, nghe người ta nói lần lục soát nhà là có tính chất bảo vệ, trên đưa xuống nhiều giấy để niêm phong. Số là còn có kiểu lục soát nhà có tính chất huỷ hoại nữa, tức trong nhà có bình, chum, vại, đập hết, hoặc là đuổi anh ra khỏi nhà. Cơ quan chúng tôi sợ 62 người ngoài thừa cơ vào cướp bóc, hoặc giả tiến hành lục soát có tính chất hủy hoại, bèn trước hết niêm phong toàn bộ các giá sách của tôi, mang đi tất cả những đồ vật quan trọng. Lúc ra về, phái cách mạng còn dán một tờ báo chữ to ở ngoài cửa vào hành lang vạch tội trạng của tôi. Một vị lãnh đạo uy hiếp tôi, nói: "Nếu ông không khai hết, chúng tôi sẽ dán báo chữ to trước cổng nhà, để xem ông còn cách nào sống nữa không?". Tôi hiểu ý ông ta, dán tờ báo chữ to trước cổng nhà thì người qua đường có thể vào nhà, muốn làm gì thì làm. Tôi nghĩ bụng, ngày đó sớm muộn rồi cũng đến, Tôi không còn hy vọng gì ở tôi nữa.

Nhưng tôi vần kéo dài cuộc sống ngày này sang ngày khác. Như người rơi xuống nước, tôi còn mong vớ được tấm ván nào đó mà bơi vào bờ. Kỳ thực, không bao lâu sau, tôi cùng với Khổng Tôn, Vương Lỗ Ngạn, Ngô Cường, Sư Đà, Ngụy Kim Chi cùng nhau học tập, cùng nhau lao động, cùng nhau phê đấu, không những chẳng khác gì họ, mà vấn đề của tôi càng ngày càng nghiêm trọng. Có một thời gian, giữa ban ngày, ở cơ quan, mấy lần tôi bị học sinh các nơi khác liên tục đến bắt tôi phải kể tội trạng của tôi trước mặt mọi người. Về nhà, tôi còn phải ứng phó với từng đoàn học sinh trung học, khẩn thiết xin họ đừng xé những tờ giấy niêm phong trên giá sách hoặc mang sạch các đồ vật khác đi... Có một thời gian, tôi bị lôi đến xưởng máy và về nông thôn, nhà trường đi mời đấu dạo. Lại một thời gian tôi bị đưa đi lao động ở trường Cải tạo cán bộ 7-5. Tôi và vô số phần tử trí thức đều bị nhốt vào "chuồng bò" bao nhiêu năm, cuối cùng bị sáu tên nanh vuốt của "lũ bốn tên" lấy danh nghĩa lũ này, đội cho cái mũ vô hình "phản cách mạng". Đó là cái trong văn kiện nói là: "Đánh gục tại chỗ, lấy chân đạp xuống, suốt đời không ngóc đầu dậy được". Nếu không bỗng xuất hiện kỳ tích, trong một đêm, bè lũ chúng nó, tên cầm cờ dẫn đầu, bị bắt giam vào ngục tối, thì vĩnh viễn quả thật tôi không còn thấy ánh sáng mặt trời nữa!.

Không phải tôi đang viết tiểu thuyết, hoặc viết hồi ký, nên không định ghi lại đây thật nhiều tình tiết. Trong mười năm ấy, mọi người đều phải trải qua nhiều chuyện thảm khốc, kể không hết. Nói thảm khốc, còn là bình thường, đó quả là những hình phạt ghê gớm, chỉ Trung Quốc mới có: lên núi đao, bỏ vạc dầu và các cách làm vũ nhục, giày xéo, xúc phạm thân thể, xúc phạm tâm linh, mà con người không ai chịu nổi. Vì không chịu nổi, nên bao nhiêu người phải chết. Ngoài ra, nghĩ đến hai người bạn khác chết thời "Văn cách", Trần Đồng Sinh và Kim Trọng Hoa, hôm nay tôi vẫn còn thấy đau xót. Năm 1966 tôi dự Hội nghị các nhà văn Á Phi về đến Thượng Hải, còn nói chuyện với họ. Họ an ủi tôi và cổ lệ tôi. Cùng trong một thành phố, họ ở rất gần nhà tôi..., thế mà tôi không biết họ chết vào lúc nào. Kim Trọng Hoa lặng lẽ treo cổ trong phòng, bà mẹ tám mươi tuổi ở tầng dưới chỉ nghe tiếng ghế đổ. Trần Đồng Sinh, thì nghe nói chết nằm vắt trên bếp ga, do đó người ta đoán là anh tự tử. Nhưng anh đang ở thời kỳ "cách ly kiểm tra" mà, làm sao có thể mở bếp ga được? Vả không bao lâu trước ngày chết, anh còn viết thư cho người quen nói rằng tuyệt đối anh không tự tử. Qua mười tám năm rồi, ngay một việc như thế mà cũng không điều tra ra, ngay vấn đề ấy cũng không được giải quyết. Nói là chiêu tuyết cho người chết, lẽ nào lại như thế? Chẳng phải là để cho vong linh họ ngậm hờn nơi chín suối? Thật may mắn cho tôi, tôi chịu dựng được mà qua khỏi. Tôi cũng đã từng nghĩ đến cái chết, và cũng từng cảm thấy khó mà sống nổi. Nhưng ở trong cõi đời, tôi có nhiều điều lưu luyến. Nhiều người hiểu việc lôi cuốn cảm tình của tôi. Tôi quyết đem hết khả năng mình mà sống tiếp, không thể nói là tranh thủ triệt để tự cải tạo, "thay xương đổi thịt, trở lại làm người". Trước kia, tôi nói có hơi phóng đại, "từ nhỏ tôi không thích chủ nghĩa hình thức”. Tôi giơ tay lên hô to "Vạn vạn tuế[2] cũng chỉ là để giữ cái mạng sống của tôi. Chúng ta mở miệng ra là nói "xã hội mới", nhưng xã hội mới ấy, chúng ta càng ngày càng không hiểu ra làm sao cả, càng ngày càng thấy dễ sợ. Bạn bè, người này tiếp người khác, bị quăng xuống vực thẳm trước tôi. Tiêu San kém tôi mười ba tuổi, bị ung thư, không được đưa đến bệnh viện kịp thời để chữa chạy, phải cùng tôi chia tay, nước mắt lưng tròng.

Qua hai mươi năm tròn, tôi cũng sợ nhắc lại chuyện cũ mà đau lòng. Nhưng hai mươi năm nay, nhiều điều nghi vấn chưa rõ ràng. Tôi phải tìm cho ra một hai lời giải đáp. Nếu không, đến khi xuống cửu tuyền, gặp Tiêu San, tôi biết nói gì để an ủi nàng?

Cho nên, tôi phải suy nghĩ, suy nghĩ liên tục. Tôi phảng phất như bị bỏ vào vạc dầu. Dù đau khổ không chịu nổi, nhưng đối với tôi, bát cháo lú không còn có tác dụng nữa. Mặc dù ký ức tôi có suy giảm, nhưng đầu óc tôi chưa đến nỗi hồ đồ. Tôi còn nhớ rõ hai mươi năm trước trở về cơ quan tham gia "phong trào", lúc đó tôi còn là đại biểu Đại hội Nhân dân Toàn quốc. Nước chúng ta có Hiến pháp 1954, quyền công dân của tôi đáng ra phải được Hiến pháp bảo vệ. Hiến pháp ấy đã được toàn thể đại biểu bỏ phiếu thông qua, trong đó có lá phiếu của tôi. Trước khi bỏ phiếu thông qua Hiến pháp, nhân dân toàn quốc đã được thảo luận nhiều lần, sửa đổi nhiều lần rồi sau khi công bố lại được tuyên truyền rộng rãi, nói đó là luật pháp căn bản! Nhưng đến khi đáng phải phát huy tác dụng của nó thì chúng ta chẳng ai tìm thấy nó ở đâu cả, phảng phất như nó chẳng hề tồn tại, hoặc giả là vô ích, không bằng tờ báo chữ to. Hai mươi năm trước, tôi đã bị nhốt "chuồng bò" như thế đấy. Hiến pháp đã mất tăm mất tích, nhân quyền đã bị giày xéo. Tôi giơ cao quyển "sách đỏ", đọc to “chỉ thị tối cao", đang là người biến thành thú, mặc cho người ta phanh thây xé xác. Những năm ấy, tôi chịu hết mọi cách vũ nhục, giày vò. Nhưng tôi vẫn không thể không tự trách mình, tại làm sao không dùng đầu óc mình mà suy nghĩ. Là một phần tử trí thức, những điều hiểu biết của tôi thể hiện ở chỗ nào? "Lũ bốn tên" gọi tôi là "quyền uy học thuật phản động", tôi dạ dạ vâng vâng, quên khuấy học thuật đâu rồi!

Chuyện đã qua thì để cho qua luôn, có người không muốn nhắc lại làm gì nữa; nhưng có người không thể không nhắc đến. Tôi là người như vậy. Bởi vì nhớ bài học quá khứ, tôi mới không sợ lại mắc lừa lần nữa. Chỉ có thừa nhận quyền lợi của mỗi người công dân mới có thể lý trực khí tráng bảo vệ mình được. Chẳng ai muốn lại có một cuộc Đại Cách mạng Văn hóa lần thứ hai, vậy thì để mọi người ngồi nhớ kỹ những chuyện to, chuyện nhỏ trong mười năm ấy, tôi cho cách tốt nhất là xây dựng một nhà bảo tàng "Văn cách".

19 tháng 6 năm 1986

[1] Vỡ ngọc tức là chết, xem bài: "Nhớ đồng chí Lão Xá".

[2] muôn năm, muôn năm

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.