Tùy Tưởng Lục

Lượt đọc: 330 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
KỶ NIỆM PHÙNG TUYẾT PHONG

❊ ❊ ❊

Gần đây, báo chí Hương Cảng đăng lại tám bài thơ cũ của Tuyết Phong in trên tờ "Thi san", Bắc Kinh, qua đó, tôi thấy độc giả Hương Cảng tưởng nhớ Tuyết Phong, tôi lại nhớ vài chuyện về ông.

Mấy ngày trước khi tôi lên đường đi Pari, tôi ở khách sạn Hòa Bình ở Bắc Kinh. Một hôm gần tối, cô con gái ông đến tìm tôi, tin cho biết đầu tháng Năm, sẽ cử hành lễ truy điệu ông. Tôi nói: "Tôi không có cách nào về kịp để dự được". Tôi định viết một bài về người bạn đã khuất ấy. Cô con gái Tuyết Phong, trước kia hình như tôi chưa hề gặp mặt. Cô trầm tĩnh, ít nói, người chất phác. Ông qua đời không bao lâu thì vợ ông cũng mang bệnh rồi mất, còn lại ba chị em. Tôi cũng không biết rõ tình cảnh họ, nhưng tôi có ấn tượng họ sống kiên cường lắm.

Lễ truy điệu Tuyết Phong đã được cử hành một lần, năm 1976, ở Bát Bảo Sơn. Nghe nói Diêu Văn Nguyên ra chỉ thị không được đọc điếu văn, Diêu Văn Nguyên lúc đó là "trưởng quan", ông ta nói thì phải làm theo. Không còn gì là lễ truy điệu nữa. Nỗi oan chưa được chiêu tuyết, án sai chưa được cải chính, vấn đề tựa hồ đã giải quyết rồi, thế mà lại không được đưa ra thanh thiên bạch nhật. Chỉ có lễ truy điệu sẽ cử hành lần này là lễ truy điệu mà người chết mong đợi dưới cửu tuyền, tỏ bày chính nghĩa, bác bỏ những lời vu cáo, bịa đặt. Tôi nói "sẽ cử hành", vì tháng Năm, lễ truy điệu ấy chưa cử hành, nghe nói có lẽ phải hoãn lại đến ngày Đại hội đại biểu các Nhà văn Toàn quốc lần thứ Tư, bởi vì ngày ấy, bạn bè ông có thể đến dự. Nhiều người vẫn hơn là ít người.

Tôi biết Tuyết Phong tương đối muộn. Cuối năm 1936 tôi mới gặp ông lần đầu. Trước đó, năm 1922, tập thơ "Bên hồ" xuất bản, tôi đọc rất thích. Cuối năm 1928, tôi ở Pháp về nước, đến Thượng Hải, lại biết ông là đảng viên Cộng sản, từng dịch sách lý luận văn nghệ, quen biết Lỗ Tấn tiên sinh. Năm 1936, tôi ở Thượng Hải, bỗng nghe Hà Thanh (Hoàng Nguyên) nói Tuyết Phong từ Thiểm Bắc đến Thượng Hải. Năm ấy Lỗ Tấn tiên sinh từ trần. Tôi tham gia công việc tang lễ. Tôi không tán thành cách làm của một số uỷ viên Ban tổ chức ấy, thỉnh thoảng nói thắc mắc của mình với Hà Thanh. Hà Thanh nói Tuyết Phong đồng ý làm như thế, ông là đại biểu của Đảng. Tôi chưa hề đọc sách Tuyết Phong dịch nhưng tôi biết Lỗ Tấn tiên sinh tôn trọng Đảng, cũng nghe nói tiên sinh có cảm tình với Tuyết Phong, do đó, tôi không thắc mắc nữa. Sau khi công việc tang lễ kết thúc, một hôm, Lỗ Ngạn bảo tôi đến nhà ông ăn cơm tối và nói có hẹn cả Tuyết Phong đến nhưng ông cho biết bức thư Lỗ Tấn tiên sinh trả lời Từ Mậu Dung[1], lúc đầu là do Tuyết Phong khởi thảo. Tôi không nghi ngờ gì. Bài của tiên sinh sẽ đăng trên nguyệt san "Tác giả", do Mạnh Thập Hoàn chủ biên. Tôi nghe Mạnh Thập Hoàn nói, liền đến nhà in Khoa học đọc, khi đang sắp chữ. Bài ấy đồng chí Hứa Quảng Bình[2] sao chép, trên có bút tích Lỗ Tấn tiên sinh sửa chữa. Như vậy là tiên sinh có bổ sung thêm.

Tôi gặp Tuyết Phong lúc ăn cơm ở nhà Lỗ Ngạn. Chúng tôi chuyện trò rất hợp ý nhau. Điều lạ là ông không tỏ vẻ mình là nhà lý luận, tôi cũng chỉ xem ông như một người bạn bình thường, không tỏ vẻ kính trọng nghiêm trang. Ông có nhắc đến bức thư trả lời Từ Mậu Dung, nói là ông tự động khởi thảo, và lo cho sức khoẻ của tiên sinh, nhưng tiên sinh sửa chữa khá nhiều. Về bức thư đó, ông cũng chỉ nói qua mấy câu. Còn những chuyện khác tôi không nhớ nữa.

Chúng tôi nói chuyện trên trời dưới đất, không gì không nói đến, lần nào gặp cũng như thế, tóm lại không ngoài bốn chữ "Chúng tôi tin nhau". Tôi còn nhớ khoảng năm 1944-1945, tôi ở ngay Nhà xuất bản Văn hoá sinh hoạt, đường Dân Quốc ở Trùng Khánh, Tuyết Phong ở xế phía trước, mặt trong hiệu sách Tác giả. Ông thường sang tìm tôi. Một đêm, Chương Cận Dĩ và Mã Tôn Dung định đáp thuyền về Trường Phúc Đán, Bắc Bội (Tứ Xuyên), sáng hôm sau sẽ lên thuyền, họ ởlại trong phòng tôi, sưởi ấm, uống trà, bày trò đánh "long môn”, nói chuyện suốt đêm. Chúng tôi thường làm như thế. Tuyết Phong qua Nhà xuất bản, tìm tôi, nghe nói chúng tôi sẽ chuyện trò suốt đêm thì ông nán ở lại, cùng với chúng tôi cho đến lúc trời sáng bạch. Cận Dĩ và Tôn Dung lên thuyền. Bây giờ lệnh cho tôi phải "thú nhận" đêm ấy chúng tôi nói những gì thì tôi đành chịu, không nhớ câu nào, nhưng quả thật đêm ấy chúng tôi nói rất hăng.

Gặp lần đầu, tôi nhận ra Tuyết Phong là người ngay thẳng chân thành, hiền hậu, trước sau tôi vẫn kính trọng ông, nhưng có lúc tôi cũng cảm thấy tiếc vì ông thiếu bình tĩnh. Về đời sống, về quan niệm nghệ thuật, chúng tôi không phải có những kiến giải như nhau, nhưng ông cho rằng tôi đang theo đuổi sáng tác thực sự. Còn tôi, tôi cho rằng ông là một đảng viên tốt, bình dị, dễ gần. Năm 1937, tôi nghĩ như thế, năm 1944, tôi nghĩ như thế, năm 1949 tôi cũng nghĩ như thế; năm 1957 tôi cũng nghĩ như thế. Có lần, trong một cuộc họp nhóm, tôi thấy ông kích động quá, có người phản ánh nói thanh niên ngày nay ít đọc văn Lỗ Tấn tiên sinh, cho rằng tiên sinh đã lỗi thời. Vì thế mà ông tỏ vẻ kích động. Tôi hơi lo cho ông. Sau Giải phóng, có một lần ông từ Bắc Kinh xuống, nói đồng chí nọ nhờ cậy ông tìm tôi, giao cho tôi đứng ra làm chủ một Nhà xuất bản mới thành lập. Tôi nói là tôi không làm được, nhờ ông từ tạ thay tôi. Ông thấy tôi tỏ vẻ cương quyết, thì nói nếu tôi không chịu làm thì ông sẽ đứng ra làm, Tôi khuyên ông chớ nhận lời, công việc ấy, khó lắm. Tôi nghĩ ông còn giữ khí khái của một thư sinh cương trực quá, mà lại dễ kích động. Nhưng ông chỉ cười cười, trở lại Bắc Kinh, ông bắt tay vào việc. Ông là đảng viên. Ông không thể bỏ chức trách của mình được. Ông cần mẫn, vất vả mà làm, công việc tiến triển không ngừng, dù có lúc ông cũng bị phê bình, có lúc cũng rất bực bội, nhưng thuỷ chung ông vẫn phụ trách một cách chu đáo. Ông vẫn như thời hoà bình, không làm ra bộ mình là đảng viên, có điều tôi chú ý thấy ông rất quý trọng danh hiệu "đảng viên Cộng sản". Không ai có thể ngờ được rằng, năm 1957, ông bị tước danh hiệu ấy, và cho đến lúc chết, ông không được thấy tâm nguyện của ông trở về với Đảng thành hiện thực.

Sai lầm đã được sửa chữa, oan khuất đã chiêu tuyết, nhưng hai mươi hai năm đã trôi qua, Tuyết Phong không còn biết gì nữa. Nhưng chúng ta còn sống. Tôi rất muốn quên quá khứ nhưng tôi không thể quên được chuyện năm 1957, phong trào chống hữu đã bắt đầu. Hội nghị Đại biểu Nhân dân Toàn quốc vừa kết thúc, trước khi trở về Thượng Hải, một buổi chiều, tôi gọi điện thoại cho Tuyết Phong, nói sẽ đến nhà thăm ông. Bấy giờ, bầu không khí đã bất lợi cho ông rồi, nhưng tôi không biết chút gì hết, vẫn chuyện trò cởi mở với ông, lại còn tỏ ý nghi ngờ phong trào chống hữu. Ông ôn hoà giải thích cho tôi nghe. Ông ân cần giữ tôi lại rồi kéo tôi đi ăn cơm. Chúng tôi ăn ở Đại Đông tửu quán, ở tầng dưới Tân Kiều phạn điếm. Tuyết Phong đứng ra làm chủ mời khách, nhưng tỏ ra lúng túng khi cầm tờ thực đơn trong tay, chứng tỏ ngày thường ông ít đến tiệm. Cách sống khắc khổ, chất phác ấy của ông có từ hồi ông ở Trùng Khánh. Ăn xong, ông còn nhất định kéo tôi cùng vợ chồng ông đi dạo một lúc ở vùng lân cận. Bây giờ, ngồi nhớ lại, có khả năng ông đã thành đối tượng phê phán rồi. Tự ông, ông cảm thấy đại hoạ sắp giáng xuống đầu rồi chăng.

Tôi về đến Thượng Hải, hai tháng sau lại lên Bắc Kinh dự Đại hội đảng bộ mở rộng của Liên hiệp Nhà văn Trung Quốc, cũng là lần Đại hội cuối cùng. Tôi còn nhớ đại hội cử hành ở Nhà hát kịch Thủ đô. Hôm ấy, tôi bước chân vào Hội trường thấy bên dưới người ngồi đã chật ních. Tuyết Phong ngồi ở bên cạnh dãy ghế đầu, mặt cúi xuống. Tôi nghĩ không ra làm sao ông lại là phái hữu. Nhưng tôi cũng lên bục phát biểu cùng Cận Dĩ. Hôm ấy, Đại hội phê phán Đinh Linh, Phùng Tuyết Phong và Ngải Thanh... chụp cho họ cái mũ phái hữu. Chúng tôi cũng lặp lại lời của người khác, phê phán "chủ nghĩa một quyển sách" của Đinh Linh, luận điệu "ngồi trên Đảng" của Tuyết Phong, "trên dưới xâu chuỗi nhau" của Ngải Thanh, vân vân và vân vân. Tôi không như một số người khác nói là "nhất quán, chính xác". Tôi chỉ đứng sau lưng người khác mà ném một hòn đá. Tôi tin người khác, đồng thời cũng muốn bảo vệ mình nữa. Năm 1957, trước khi có phong trào chống hữu, tôi có nói rằng: "Ngày nay, kẻ nào bị vạch mặt, kẻ nào bị phê phán thì không ai dám đứng ra, lấy chính nghĩa mà biện hộ thay cho mình được". Giá sử có ai đó phát hiện ra, thì chỉ một câu nói ấy của tôi cũng đủ khép tôi vào "phái hữu rồi". Hai mươi năm nay, mỗi lần nghĩ đến chuyện của Tuyết Phong, tôi lại nhớ đến câu nói của tôi. Nó như một mũi kim đâm vào lòng tôi, tôi lại trách mình. Tôi đã quen theo con đường "ai nói thế nào mình cứ nói thế ấy". Bỗng nghe một tiếng thét to, ngoảnh đầu lại, thấy bao nhiêu điều oan khuất luẩn quẩn ở phía sau, tôi "thú nhận" với mình như thế nào đây?

Sau đó, tôi còn gặp Tuyết Phong nhiều lần nữa, có điều không có dịp nói chuyện lâu.

Vẻ ngoài, ông không thay đổi gì lắm nhưng ông đã chuyển sang làm việc ở đơn vị khác. Mà cũng dời đi ở chỗ khác rồi. Ông bị chụp mũ, lại được cất mũ. Ông từng đi lao động, lại đang sáng tác. Về sau hạo kiếp đến, mọi người biến thành bò. Trong cuộc đấu nào, trên tờ báo nào, ông cũng lại bị chụp mũ "tên phản bội”. Còn tôi thì phái tạo phản ở Phân hội liên hiệp Nhà văn Trung Quốc ở Thượng Hải đã in và phát một tờ truyền đơn phong tôi là "kẻ tử thù của chuyên chính vô sản". Vả lại, tôi đang nằm trong tay "lũ bốn tên" cách tuyệt với đời. Năm 1973, vợ tôi bị bệnh, lâm nguy, mới được rời Trường cán bộ 5-7[3] về Thượng Hải. Tháng bảy năm sau, có quyết định của Ban thư ký Thị uỷ Thượng Hải, Vương Hồng Văn, Mã Thiên Thuỷ, Từ Cảnh Hiền, Vương Tú Trân và Thường vụ Phùng Quốc Tâu, Kim Tổ Mẫn, sáu người đưa xuống nói vấn đề của tôi sẽ "xử lý trong nội bộ nhân dân, không chụp mũ phản cách mạng", phát sinh hoạt phí cho. Đó là do "thư ký chi bộ" của tổ chức kia tuyên bố trước quần chúng, không căn cứ vào đâu cả, cũng không nắm được văn kiện nào. Quyết định của sáu người ấy được xem như "sắc lệnh" của Hoàng đế. Bọn chúng nó tưởng nhầm có thể dùng cái quyết định ấy khiến tôi suốt đời không được thấy ánh mặt trời nữa. Bạn bè không dám đến thăm viếng cái thằng tôi là tên "phản cách mạng không đội mũ"? Tôi cũng không muốn gây phiền hà cho ai mà cũng là gây phiền hà cho chính mình. Tôi sợ chúng nó lại có âm mưu gì, định giáng đòn gì nữa đây. Tôi quyết dùng biện pháp tự mình quên mình đi và làm cho kẻ khác quên mình đi. Tôi nghe nói Tuyết Phong trồng rau ở trường cán bộ, lại nghe nói ông đến làm ở phòng biên tập trước tác Lỗ Tấn của Nhà xuất bản Văn học Nhân dân. Tôi làm thinh. Lại nghe nói ông mắc bệnh lao phổi vào bệnh viện phẫu thuật. Tình hình khá lắm, tôi nhờ người khác chuyển lời mừng cho ông. Tôi lại nghe nói đêm trừ tịch ông lại vào viện. Tôi lo cho ông, cuối cùng nghe nói ông mất ở bệnh viện. Một người bạn gửi thư tin cho biết tình cảnh lúc bấy giờ thê lương lắm. Tôi không gửi điện chia buồn.

Về sau lại nghe nói ở Bắc Kinh, lễ truy điệu ông cử hành không có điếu văn. Tôi cũng không gửi vòng hoa đến. Tôi nghĩ rằng tôi đã đi vào "con đường tự tiêu vong rồi", nhưng không hề nghĩ rằng hôm nay còn ở đây khua môi múa mép.

Tôi còn muốn kể lại đây một câu chuyện. Ấy là chuyện tập "Kỷ niệm Lỗ Tấn tiên sinh". Tập sách ấy có lẽ bắt đầu biên soạn và in vào khoảng đầu năm 1933, tình hình như thế nào, tôi không biết rõ lắm. Ngày 13 tháng tám, kháng chiến toàn diện bùng nổ. Thượng Hải thành chiến trường. Công việc của Nhà xuất bản Văn hoá sinh hoạt hoàn toàn đình đốn. Mấy nhân viên công tác dần dần bỏ đi. Có người tìm được bản in thử "Kỷ niệm" ấy, dày hơn 800 trang. Toàn bộ đã chỉnh lý hoàn hảo. Có lẽ đã qua tay Ngô Lãng Tây, nhưng ông ta lưu lạc ở Tứ Xuyên, không về ngay được. Hà Thanh (Hoàng Nguyên) cũng là người biên tập tập "Kỷ niệm” nhưng ông này cũng không biết lúc đầu người ta tính toán như thế nào và làm cách nào để sách ra được. Không thấy ai lo việc này, tôi định cáng đáng lấy, nhưng trong tay tôi không có đồng tiền nào, Nhà xuất bản Văn hoá cũng không có. Làm thế nào đây? Giữa lúc đó, tôi gặp Tuyết Phong. Tôi và ông bàn với nhau. Tôi nói bây giờ đã gần ngày kỷ niệm Lỗ Tấn tiên sinh mất một năm rồi, cho ra trước ngày đó là hay nhất. Ông cổ vũ tôi như thế, lại nói ông có thể giúp một tay, hỏi tôi cần bao nhiêu tiền. Tôi đến Nhà in Khoa học nhận in tập ấy, giao thiệp, nói thật rằng chúng tôi gặp khó khăn. Cuối cùng nhà in đồng ý lấy hai trăm đồng trước, tiền công in, còn bao nhiêu sau sẽ thanh toán. Tôi nói lại với Tuyết Phong, sáng sớm hôm sau, ông đến nhà tôi, đưa hai trăm đồng, nói đó là tiền mượn bà Cảnh Tống.[4] Thế là tôi kéo Hoàng Nguyên (Hà Thanh) cùng làm. Hà Thanh viết thêm bài “Hậu ký”, nhưng không kịp chờ sách in xong, thì phụ thân ốm nặng, gọi ông về quê ở Hải Diêm ngay. Buổi chiều ngày 9 tháng Mười, các giới ở Thượng Hải cử hành lễ kỷ niệm một năm Lỗ Tấn tiên sinh từ trần, tại toà nhà Hội đồng hương phố Đông. Tôi từ nhà in mang đến mười bản "Kỷ niệm Lỗ Tấn tiên sinh" vừa in xong, đặt trước chỗ bà Hứa Quảng Bình ngồi. Tuyết Phong cũng cầm một cuốn.

Về Tuyết Phong, còn có nhiều chuyện nói, nhưng tựa hồ ông không thích người khác nói nhiều về mình, cũng không muốn tự tâng bốc. Ông có để lại một kịch bản điện ảnh ở trại tập trung Thượng Nhiêu, về Lỗ Tấn tiên sinh, ông có viết tập "Hồi ức Lỗ Tân”. Trước đấy ít lâu báo chí có đăng di tác của Tuyết Phong, tôi tìm xem, té ra là những cái ông viết ra để ” thú nhận". Tôi đọc mà lấy làm buồn, không có chút gì là tôn trọng tác giả. Nhà văn Trần Đăng Khoa đăng bài trên "Quang Minh nhật báo”, chủ trương tác giả phải được hưởng bản quyền, tôi tán thành ý kiến của ông, nhưng bài đăng phải được tác giả đồng ý. Không thể nói văn chương khi đã viết ra rồi thì tác giả không có quyền hỏi đến nữa. Trong một thời gian dài, Tuyết Phong bị bức hại, khó viết những cái gì đáng lưu lại. Người ta đã đăng cả những lời ông nói năm 1972 do người khác ghi. Tóm lại, cho đến ngày hôm nay, Tuyết Phong chưa được người ta tôn trọng như ông đáng được tôn trọng.

8 tháng 8 năm 1979

[1] Từ Mậu Dung, xem Tạp văn Lỗ Tấn, Tập 3

[2] Hứa Quảng Bình: vợ Lỗ Tấn.

[3] Trường cán bộ 5-7, là trại cải tạo cán bộ, trí thức.

[4] Cảnh Tống, lả tên hiệu bà, Hứa Quảng Bình, vợ Lỗ Tấn.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.