Tùy Tưởng Lục

Lượt đọc: 286 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
NHỒI SỌ VÀ TUYÊN TRUYỀN

❊ ❊ ❊

(TÌM TÒI, BÀI THỨ NĂM)

Tôi nghe thấy những ý kiến khác nhau về một cuốn sách, về một bài thơ, hoặc một bài văn nào đó; cũng nghe thấy lời nói chuyện của một bậc nhân sĩ quyền uy nào đó, do một người nào đó truyền đạt lại. Rồi lại nghe thấy một số người thì thầm to nhỏ với nhau, lúc thì bảo quyển sách này đọc xong tinh thần không hăng hái, lúc khác lại phê bình cuốn tiểu thuyết kia nói gỡ tội cho nhân vật phản diện hoặc là tại cuốn tiểu thuyết này cách điệu không cao, hoặc tại quyển sách kia giọng điệu thấp kém. Lại còn có người gây dư luận nói sẽ phê phán tác phẩm này, tác phẩm nọ, khiến cho tác giả luôn luôn cảm thấy bị đe doạ.

Trước khi lên đường đi Nhật Bản, ở Bắc Kinh tôi đã lần lượt gặp hai nhà văn trẻ có lý tưởng, có tài hoa, tôi khuyên họ không nên lo lắng và bảo với họ rằng từ sau khi cho in cuốn "Diệt vong" năm 1929 tới giờ, tôi nhận được quả thực không ít lời trách mắng, nhưng tôi cũng chưa bị ai trách mắng mà chết.

Bất cứ một tác phẩm văn học nào, miễn là không phải dạng chết yểu, sớm nở tối tàn, thế nào cũng có một số người thích, một số người ghét. Sự yêu thích của con người cũng có nhiều loại. Nhưng những tác phẩm hay thì luôn chịu được sự thử thách của thời gian.

Một tác phẩm sẽ có nhiều bạn đọc, mỗi bạn đọc lại có một cách nhìn riêng, một người không thể nào thay thế cho đại đa số được, cũng không thể đại biểu cho đại đa số được, ngoại trừ anh thuyết phục được người ta, để cho người ta hoàn toàn tin vào anh, chịu sự chỉ huy của anh. Ngay như có làm được thế, anh cũng không thể đảm bảo rằng mạch suy nghĩ của họ hoàn toàn giống như mạch suy nghĩ của anh, cũng có nghĩa là tư tưởng của họ và tư tưởng của anh luôn luôn ở cùng một quĩ đạo. Muốn áp đặt tư tưởng của mình cho một người, kết quả là: không bị thải ra, thì cũng bị biến dạng đi. Thời kỳ đầu "Cách mạng Văn hoá", tôi rất muốn nhồi vào óc con tôi tư tưởng của tôi. Những tư tưởng đó là thành quả của người khác trong các cuộc “phê đấu”, tôi đã bị thuyết phục, tôi bắt đầu tuyên truyền nó nhưng bị con tôi chống lại, bản thân tôi nói cũng không rõ nữa. Lúc đó vợ tôi còn ở bên cạnh phê bình con, nói: "Đối với cha, con phải lễ phép". Bây giờ hồi tưởng lại, tôi như bị thôi miên, điều đó nói rõ tôi chưa hẳn đã bị "thuyết phục" thật. Theo kinh nghiệm của tôi, hiệu quả của nhồi sọ, áp đặt, tuyên truyền v.v... không nhất định đều rất lớn lao, nhất là có những loại người tốt bụng kiểu này, luôn luôn quen "xuất phát từ nguyện vọng chủ quan", cho rằng "tôi" đã làm việc, "tôi" đã nói rồi, anh thế nào cũng bi thuyết phục, bất kể anh nghĩ thế nào, bất kể anh có hiểu lời "tôi" hay không, bất kể tình hình của anh ra sao. Tóm lại, "tôi" đã nói là anh phải làm theo. Mà kết quả thì sao? Rất ít người làm theo, hoặc là rất ít người làm theo được tử tế, hoặc cũng không ít người "ngoài nghe theo, trong làm ngược lại". Và cái "tôi" lúc đó, cũng đúng là "thấy kệ nó".

Tôi trước đây cũng thường hay muốn tác động người khác bằng tình cảm của mình, dùng tư tưởng của tôi để thuyết phục người khác. Tôi cũng đã từng làm cái việc nhồi sọ, tuyên truyền. Ít nhất tôi có ý nghĩ ấy, có điều phương thức của tôi khác với những gì vừa nói ở trên, vì tôi không có quyền có thế, nói ra không được coi trọng, muốn gây dư luận thì không có phương tiện. Biện pháp duy nhất của tôi là ở phía trước tác phẩm của mình. Tôi viết lời tựa, viết tiểu dẫn, viết lời nói đầu, phía sau sách thì viết lời nói sau, viết lời nói thêm, viết bạt. Tôi chưa hề bỏ qua dịp nào để nói những điều ngoài tác phẩm, tôi nói nhiều lần, nhắc đi nhắc lại với người đọc dụng ý của tôi ở chỗ nào. Sau một thời kỳ khá dài, tôi bắt đầu nghi ngờ "nhồi sọ" như thế liệu có toi công hay không? Tôi chợt nghĩ đến những tác phẩm nổi tiếng trong nước và nước ngoài, ngoài bản thân tác phẩm ấy ra, thì những là lời nói đầu, lời nói cuối, chẳng còn một chút hình bóng gì trong đầu óc tôi. Đến lúc đó, tôi mới phát hiện ra rằng, khi tôi đọc sách của người khác, tôi thường bỏ qua lời tựa, lời nói đầu. Cầm một tác phẩm văn học nổi tiếng của phương Tây, lại có kèm một bài tựa dài của người dịch hoặc một chuyên gia nào, tôi thường không muốn mất nhiều thì giờ vào những bài đó. Mà ngược lại, tôi phản ứng với nó: Lẽ nào bản thân tôi không biết tự mình suy nghĩ hay sao, mà cứ phải nhờ anh làm hộ? Sau này tôi còn thấy ra, rất nhiều người đều không đọc những lời tựa, lời nói sau ngoài tác phẩm (ngoại trừ những nhà nghiên cứu). Điều khiến tôi cảm thấy hài hước là một Nhà xuất bản, dịch và in tác phẩm "Hồng lâu mộng", phía trước thêm phần tựa hay thay lời tựa, có ý giúp người đọc nhìn nhận cho chính xác tác phẩm nổi tiếng này. Sau một số năm, sách được in lại, họ thay lời tựa khác, do một người khác viết, chửi cho người viết tựa trước một trận. Qua một số năm sau, sách lại được in lại, lại đổi lời tựa, người chửi người khác cũng lại sai, chỉ có mỗi Nhà xuất bản là không sai, bất kể là họ chỉ đông hay chỉ tây, thì mãi mãi đều là giúp cho người đọc "nhìn nhận đúng đắn" tác phẩm nổi tiếng trong nước và nước ngoài. Những việc tương tự như thế không phải là ít. Tôi lấy một ví dụ khác, tôi cho in ở một Nhà xuất bản khác cuốn sách ký sự về những sự tích anh hùng của Chí nguyện quân Nhân dân Trung Quốc tại Triều Tiên. Thời kỳ "Cách mạng Văn hoá” Nhà xuất bản này bị đập nát, cuốn sách đó bị cho là cỏ độc tuyên truyền Hoà bình chủ nghĩa. Sau này Nhà xuất bản được khôi phục, kiểm tra lại những sách đã được xuất bản trước đây thấy cuốn sách ấy của tôi cũng bị liệt vào danh sách bị tiêu huỷ. Rốt cuộc nó có tuyên truyền Hoà bình chủ nghĩa hay không, cho đến giờ tôi cũng chưa rõ. Kỳ thực, chẳng những chỉ riêng cuốn sách đó, mà những bài báo, ký sự, tản văn đặc tả, tôi viết ở chiến trường Triều Tiên, những truyện ngắn phản ánh sinh hoạt của chiến sĩ tôi viết sau khi về nước, đều bị phê bình, nói rằng chúng tiêm nhiễm sự sợ hãi chiến tranh, cố ý để anh hùng phải chết, bảo chúng là "văn học chiến tranh phản động", hô hào cho Chủ nghĩa Hoà bình. Chủ trì cuộc phê phán là một người mặc đồ lính, người phát biểu cũng mặc đồ lính, họ là "đại biểu quân đội" chi viện cánh tả. Về vấn đề này, họ là quyền uy. Trọng điểm phê phán là tiểu thuyết "Đoàn viên" và bộ phim "Những người con anh hùng" cải biên dựa theo tác phẩm này, thậm chí họ còn so nó với "Số phận một con người".

Nhớ lại "Những người con anh hùng", tôi thật cười cũng dở, khóc cũng dở. Tháng 11 năm 1966, sau khi bị khám nhà hơn hai tháng, vợ tôi, Tiêu San, được xem bộ phim này ở rạp chiếu bóng. Lúc đó hàng ngày tôi phải đến "chuồng bò" của Phân hội Nhà văn để học tập, lao động, đi sớm về muộn. Tiêu San biên tập không công mấy năm cho Ban biên tập của một tạp chí, cũng bị lôi về tham gia phong trào, nhưng ban đầu chỉ thuộc diện "nửa liên quan", một tuần lễ lao động hai ba lần, cho nên nàng có thể về sớm đi mua vé xem chiếu bóng được. Buổi tối tôi về nhà, Tiêu San mừng rỡ nói với tôi rằng trong phim vẫn còn để tên tôi, xem ra "vấn đề" không lớn lắm, và bảo tôi hãy kiểm điểm cho thành khẩn. Thế nhưng chỉ hai ba hôm sau, một đội chiến đấu của “phái tạo phản” ở Phân hội Nhà văn đã đem theo báo chữ to, khua chiêng dóng trống đến rạp chiếu bóng làm tạo phản với công ty phát hành phim. Báo chữ to dán ngay ngoài cửa, chụp cho bộ phim và cả cá nhân tôi cái mũ phản cách mạng. Bộ phim bị cấm, nét cười cuối cùng trên mặt Tiêu San cũng tắt hẳn. Sau đó, đại biểu phân đội chi viện cánh tả đến Phân hội Nhà văn, phê phán một hồi về "Văn học chiến tranh phản động". Phê phán vừa kết thúc "Những người con anh hùng" lại được coi là phim tốt chống Mỹ viện Triều, chiếu rộng rãi trong cả nước. Tất cả năm bộ phim được chiếu, nghe nói thủ tướng Chu Ân Lai trực tiếp tuyển chọn. Tôi đang ở trường cải tạo cán bộ, có người tìm tôi nói chuyện và bảo tôi cho biết cảm tưởng. Tôi chỉ nói phim ảnh là thành tích của biên kịch, đạo diễn và diễn viên, chẳng có liên quan gì đến tiểu thuyết của tôi, tiểu thuyết vẫn là cỏ độc. Tôi bầy tỏ như thế, mà vẫn chưa được tha thứ. Lại còn có cả người viết hội báo về bảo tôi là "cong đuôi", thế mà đại biểu quân đội lãnh đạo cuộc vận động ở trường cải tạo cán bộ nói với tôi "Ông đừng nghĩ rằng bộ phim lại được chiếu là không có khuyết điểm đâu, tôi thấy nó có vấn đề". Lúc đó tôi đã không ngoan ngoãn nữa rồi, tuy miệng không nói gì, nhưng trong bụng lại nghĩ: "Tuỳ các người nói sao thì nói, có điều quyền ở trong tay các người, lời các người có lý".

Những kinh nghiệm như thế không phải ít, về sau, tôi còn có dịp nói đến, không muốn nói nhiều ở đây. Cái khoản nợ lẩn thẩn này, hầu như đến bây giờ vẫn chưa được làm rõ. Tôi không phải là người theo chủ nghĩa kinh nghiệm, nhưng hay nghĩ về quá khứ, luôn luôn quay đầu nhìn lại dấu chân ngày xưa. Tội luôn lo lắng, liệu ngày mai đây có thể lại có người nhảy ra "giương cao cờ đỏ" phê phán "Hoà bình chủ nghĩa", khiển trách tôi đã sắp đặt kết cục chết chóc cho nhân vật anh hùng hay không. Tôi không thể nhịn được, nhiều lúc phải tự hỏi mình: "Con đường đã đi qua có phải đã được bịt chặt rồi không?", sổ còn chưa tính xong, phải trái chưa được nói rõ, anh dẫn kinh điển, tôi cũng nêu căn cứ, ai có quyền to thế lớn, người ấy được hò hét, ra lệnh. Chúng ta quen "hiểu biết để giữ mình", cho rằng nghe lời là rảnh việc nhất. Chúng ta quen với việc truyền đạt và nhồi sọ, mình và người khác tựa hồ như cái máy ghi âm, ghi vào cái gì thì phát ra cái ấy. Kinh nghiệm của tôi chừng ấy năm đủ đau khổ lắm rồi. Một nhà văn đến nỗi không có một sự nhìn nhận cá nhân nào đối với tác phẩm của mình, một nhà văn đến nỗi phải cam tâm làm một cái máy ghi âm, hơn thế, còn lấy đó làm vinh hạnh, trong con mắt người đọc thì đó là hạng nhà văn gì? Tôi sáng tác mấy chục năm trời, lại không được đánh giá một tí chút gì về tác phẩm của mình, mà lại phải cúi đầu dưới cái gậy của Diêu Văn Nguyên, thậm chí phải hứng lấy ý của bọn tạo phản, xưng Diêu Văn Nguyên làm "cây kim côn của giai cấp vô sản". Tại sao vậy? Tại sao vậy? Đến bây giờ nghĩ lại mới thấy nực cười và không thể hiểu nổi. Nghiền ngẫm mãi, tôi chợt tỉnh ra: "Đó chẳng lẽ lại không phải là kết quả của việc tin thần?".

Đúng, tôi đã nghĩ ra rồi. Cuối năm 1934, tôi ở nhà một người bạn tại Hoành Tân, Nhật Bản, ông ta tin thần, tôi căn cứ những gì tai nghe mắt thấy của những ngày ấy, lấy ông ta làm mẫu mà viết truyện ngắn "Thần". Bây giờ đọc lại truyện ngắn đó, so sánh tôi ởthời kỳ đầu với nhân vật chính trong câu chuyện, tôi thấy lạ là tại sao tôi hoàn toàn bắt chước ông ta! Càng lạ hơn là làm sao năm 1934 tôi lại đi viết truyện châm biếm ngay mình ở những năm về sau? Có phải chính tôi đó không? Tôi mà lại mê tín như thế, mà lại ngoan ngoãn như thế, mà lại ngu dốt như thế! Nó khiến tôi toát mồ hôi hột. Nhưng tôi cũng tự cảm ơn mình vô hình chung để lại một bức chân dung tự hoạ, để cho con cháu thấy cái vẻ xấu xa của tôi ở một thời kỳ nào đó. Gần đây nghe nói có người bảo tôi "tư tưởng phức tạp", tôi cho rằng đó là một lời khen ngợi. Kỳ thực tôi đã có những lúc "tư tưởng giản đơn", giá như tư tưởng có phức tạp, thì tôi lại chả đến nỗi thành kính cúi rạp trước mặt thần.

Theo tôi thì con người sống ở thế giới ngày nay, muốn đối phó với những cục diện phức tạp, thì tư tưởng phức tạp một chút vẫn hơn là tư tưởng quá đơn giản. Muốn xây dựng Trung Quốc mới thành một vườn hoa của trần gian, e rằng cũng phải dựa vào trí tuệ của một tập thể phức tạp, dựa vào chín trăm triệu nhân dân Trung Quốc. Ngày nay không phải là thời đại tin thần, không thể có chuyện một vài người thay mặt cho hàng ngàn hàng vạn người đọc kết luận cho một tác phẩm hay một bài văn, cũng chẳng có ai bằng lòng để người khác coi mình là cái máy ghi âm. Nếu như mọi người đều là máy ghi âm, thì chúng ta chẳng cần phải hoạt động tư duy phức tạp làm gì, bộ óc cũng trở nên thừa. Thế nhưng trước sau tôi vẫn tin rằng: Phương hướng phát triển của xã hội loài người luôn luôn từ đơn giản đến phức tạp, chứ không phải từ phức tạp đến giản đơn,

Phương hướng phát triển văn nghệ của chúng ta đương nhiên cũng là trăm hoa đua nở, chứ không phải chỉ có một hoa nở, càng không phải không có bông hoa nào nở.

Ngày 15 tháng 6.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 22 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.