Lần này, dự Đại hội Văn nghệ Toàn quốc lần thứ Tư tại Bắc Kinh, tôi đã gặp bạn bè từ Nam Kinh tới. Họ có nhắc đến chuyện đồng chí Phương Chi. Nghe nói đoàn đại biểu tỉnh Giang Tô, do bận dự lễ truy điệu đồng chí Phương Chi, nên tới Bắc Kinh trễ hơn chúng tôi một ngày.
Trước ngày mở đầu cuộc vận động chống phái hữu không lâu, tôi có gặp đồng chí Phương Chi một lần. Vẻ mặt của anh bây giờ tôi cố nhớ lại cũng không hình dung ra được. Tôi chỉ nhớ anh và đồng chí Lục Văn Phu cùng đến tìm tôi, bàn về dự định của họ thành lập một tổ chức gọi là "Người tìm tòi". Lúc đó, tôi mới chỉ đọc truyện ngắn "Bên suối" của Phương Chi và "Nơi sâu ngỏ nhỏ" của Lục Văn Phu, thấy truyện viết khá hay, cho rằng họ là những nhà văn trẻ có triển vọng. Họ muốn có nhiều cố gắng hơn nữa trong sáng tác, hẹn mấy tác giả nghiệp dư hợp nhau cùng "tìm tòi". Họ nói đã gặp ông A, ông B nói qua và được các đồng chí đó khích lệ. Tôi thông cảm với họ. Những năm ba mươi, chúng tôi đã từng nghĩ thế, làm thế. Về mặt sáng tác, hai nhà văn trẻ này hình như có lý tưởng và có những điều ấp ủ. Tôi đồng tình với họ, nhưng tôi cũng lo thay cho họ. Tôi cảm thấy họ hơi ngây thơ, bỏi vì tôi đã nhận thấy không khí đang có sự thay đổi. Tôi đã khuyên họ đừng nên tổ chức "Người tìm tòi", không nên ra "Tạp chí Đồng nhân", hãy gác bỏ ý định "tìm tòi" của họ đi. Hiện nay, tôi không nhớ rõ họ đã ra lời tuyên bố cho "Người tìm tòi" hay chưa, hoặc là sau lần này mới công khai việc này ra. Song có một điều có thể khẳng định được là họ đã không hiểu lời tôi nói. Tôi cũng không nói ý của tôi. Đương nhiên là họ sẽ không làm theo ý tôi.
Sau đó mấy ngày, tôi lại đi Bắc Kinh dự hội nghị lần thứ tư của đại biểu Đại hội Nhân dân Toàn quốc khoá một. Tôi vừa đến Bắc Kinh thì cuộc vận động chống phái hữu cũng bắt đầu. Rất nhiều người quen đều bị phê phán. Sau khi về đến Thượng Hải, tôi nghe nói, tất cả những "Người tìm tòi" đều bị chụp cho cái mũ "Phái hữu". Từ đó trở đi, không còn thấy ai nhắc đến cái tên Phương Chi nữa. Còn tên Lục Văn Phu thì về sau lại thấy xuất hiện trên báo "Văn nghệ", trước thì khen ngợi là sau khi được bỏ mũ đã viết nhiều tác phẩm tốt, về sau lại vì vậy mà bị phê phán, nói là biểu hiện của anh không tốt. Tóm lại là anh cũng bị đánh đổ. Cho mãi tới lúc có nhiều người mà tên tuổi bị chôn sống nhiều năm, lại dần dần xuất hiện trên mặt báo, tôi mới lại có dịp nghe thấy tiếng của hai "Người tìm tòi".
Phương Chi lần lượt cho ra mắt hai truyện ngắn "Trên lầu son" và "Nội gián" được người xem rất coi trọng. Tôi có đọc truyện thứ nhất, người khác kể tôi nghe nội dung của truyện thứ hai. Tôi lại nghe nói những người biên tập ở một số tờ báo không dám cho đăng tác phẩm của anh. Điều đó chứng tỏ rằng cảnh ngộ gặp phải hai mươi mốt năm không hề dập tắt được ngọn lửa trong tâm linh anh. Cho đến giờ, anh vẫn đang "tìm tòi”, anh trước sau không hề quên rằng là một nhà văn thì anh có trách nhiệm như thế nào? Truyện ngắn của anh đúng là "một đám lửa, một lưỡi kiếm" như một người bạn của anh từng nói. Bây giờ đang cần những tác phẩm như vậy. Tôi đang trông đợi nhiều tác phẩm của anh hơn nữa, nhưng không ngờ anh đã để hơi sức cuối cùng của mình cho việc sáng lập tờ tạp chí "Thanh Xuân" ở Nam Kinh. Biết rằng sinh mạng của mình đã sắp tiêu hao hết, anh muốn trao ngọn đuốc cháy trong tay mình lại cho lớp trẻ. Anh muốn sáng lập một tờ tạp chí để đăng tác phẩm của những tác giả trẻ. Anh đã viết thư cho tôi nhờ viết bài cho số ra mắt của tạp chí "Thanh Xuân". Tôi có trả lời bằng một bức thư ngắn, nói tôi đang bị ốm không viết được, mong anh thông cảm. Đó là bức thư đầu tiên tôi viết cho anh và cũng là lá thư cuối cùng. Đến hôm nay tôi mới cảm nhận thấy lá thư đó đã đem lại sự thất vọng như thế nào? Nhưng đã quá muộn rồi.
Về thân thế của đồng chí Phương Chi, tôi biết rất ít. Năm cả nước được giải phóng, anh mới 19 tuổi. Anh cho ra mắt truyện ngắn vào năm 1956, lúc đó cũng mới chỉ 26 tuổi. Tôi cũng vào tuổi ấy mới bắt đầu viết truyện ngắn. Tác phẩm của anh chứng tỏ anh là người rất tài hoa. Bông hoa đẹp của anh vừa mới nở ra vào giữa tuổi thanh xuân đã bị cơn cuồng phong "mở rộng chống phái hữu" vô tình vùi dập. Việc anh mất sớm cũng là hậu quả của tình cảnh không may. Trong hai mươi năm bị đánh một cách tàn khốc như vậy, không chỉ mình đồng chí Phương Chi mà là cả một thế hệ thanh niên. Chuyện về lớp người này, tôi được nghe khá nhiều. Nhưng khiến cho lòng tôi đau đớn như hàng ngàn mũi kim châm, vấn là chuyện đồng chí Phương Chi. Nghe nói, sau khi "lũ bốn tên" bị đập tan, Phương Chi về tới Nam Kinh thân thể đã bị giày vò tồi tệ lắm rồi, anh đã đặt ra một kế hoạch năm năm, nói: "Tôi chuẩn bị lại chịu khổ bỏ sức ra năm năm nữa". Anh đã nghĩ xong hơn mười tác phẩm, chuẩn bị lần lượt viết ra. Sau này bệnh nặng quá phải vào nằm viện, anh đã nài nỉ với vợ mình: "Nói cho anh biết, anh còn sống được bao nhiêu lâu. Nếu còn sống được ba năm nữa thì anh sẽ tính toán cho ba năm. Giả thử như chỉ còn sống được một tháng nữa thì anh sẽ ra viện ngay, để làm cho xong những việc cần thiết nhất"...
Những lời nói đó, những kẻ không biết yêu quý thời gian của mình, và cũng không trân trọng thì giờ của người khác, thấy khó hiểu nổi. So với Phương Chi, tôi hạnh phúc hơn nhiều. Tôi đang còn có năm năm để viết. Phương Chi chết rồi, nhưng ngọn lửa trong tâm linh của anh còn vẫn cháy mãi, sự yêu ghét của anh vẫn đang kích động lòng người. Tác phẩm của anh chưa được viết ra, thật đáng tiếc! Nhưng những người viết lách chuyên cần ngày nay không thiếu. Tôi cũng muốn vung bút ra mà viết tiếp. Đương nhiên tôi không viết được tác phẩm như của anh, chẳng qua coi bút như một ngọn lửa, như một lưỡi kiếm, ca ngợi cái Chân, cái Thiện, cái Mỹ; đả phá cái giả, cái xấu, cái ác, mong muốn đóng góp cho đất nước, cho nhân dân, cho xã hội bằng tác phẩm của mình. Lý tưởng như thế, niềm hy vọng như thế và nỗi ước ao như thế trong tôi cũng có. Thế thì tại sao tôi lại không thực hiện chúng được?
Ngày 4 tháng 12