Mười một năm sau ngày La Thục (Thế Mỹ) tạ thế, chồng bà là Mã Tôn Dung cũng từ giã cõi đời. Theo phong tục của người Hồi, ông được làm theo nghi thức công táng và chôn ở công mộ của người Hồi. Tôn Dung chết vào thượng tuần tháng 4 năm 1949, đúng vào trước ngày Thượng Hải được giải phóng. Mọi người đều bận rất nhiều việc, không có người kéo tôi ngồi viết văn truy điệu. Hai con của anh ở trong nhà chúng tôi, có lúc tôi đã nói chuyện với chúng, bình tĩnh lại, trước mắt tôi xuất hiện cái bóng cao lớn của một người bạn giống như người anh cả. Tôi không chịu nổi sự chia ly này, tôi cũng không thể nói với các con anh nỗi đau khổ của tôi để cho lớp sóng tình cảm ở trong tim tôi bình lặng lại, tôi tự bảo mình: "Viết đi, viết ra những lời từ trái tim mình, ta thấy dễ chịu một chút". Một số những bài văn tưởng nhớ trước đây của tôi thường được viết ra trong tâm trạng như thế đấy. Thế nhưng lần này sao tôi không bình tâm lại được, mãi không viết ra. Những công việc bận rộn mới đến chiếm hết phần lớn thời gian của tôi, sự việc cũng nhiều lên, người ta không nghĩ đến việc nhớ lại cái gì nữa. Khoảng thời gian đó, tôi thường có cảm giác rất có trách nhiệm, tựa hồ như còn mắc với "anh cả Mã" một món nợ. Tôi muốn trả nợ, nhưng càng kéo dài, tôi càng thiếu sự dũng cảm cầm bút lên, bởi vì thời gian càng lâu, ấn tượng càng mờ nhạt, trí nhớ lại càng lơ mơ, hạ bút đâu có dễ dàng. Mặc dù cảm giác mắc nợ vẫn luôn luôn giày vò tôi, tôi đã quyết định gác bút không viết nữa.
Bây giờ là 11 giờ 15 phút, đêm khuya, lại là một đêm giá lạnh đầu tiên của mùa đông. Tôi ngồi trước bàn viết tay chân tê cóng. Xung quanh không có một tiếng động nào, tôi không muốn đứng dậy, cũng không muốn ngủ, tôi muốn cứ ngồi như thế mãi. Thế nhưng đầu óc tôi lại động ghê gớm, nó chạy đi chạy lại suốt mấy chục năm. Tôi nghe rõ rành rành tiếng những người quen đang nói chuyện, những người bạn vong niên xa cách bấy lâu nay lần lượt xuất hiện trước mặt tôi. Tại sao? Tại sao?... Lẽ nào tôi đã đến tận cùng của cuộc đời, sắp phải đứng vào hàng ngũ của họ? Lẽ nào tôi thật không thể làm thêm bất kể một việc gì, cần phải rảnh tay mà đi sao? Không! Không! Tôi nghĩ ra rồi! Trong không ít những bài văn truy điệu đều có những câu tương tự thế này: "Tôi chẳng những mai táng người đã khuất, tôi cũng mai táng theo một phần của chính tôi. Tôi không thể nói dối trước mộ người bạn đã khuất, sau lưng tôi đã xây cất nên một ngôi mộ rất cao để chuẩn bị làm một cuộc tổng kết cho cuộc đời mình. Tôi đang đào ngôi mộ đó, đào quá khứ của mình, cũng là đào lên những di vật của người thân và bạn bè.
Tôi lại một lần nữa nhìn thấy anh Mã, nhìn thấy nét cười hết sức hiền hoà của anh. Anh nói: "Cậu mấy năm nay sao? Khoẻ chứ?" Anh ngồi xuống xô pha ở sau lưng tôi, rồi lại nói tiếp: "Bọn mình lo thay cho cậu đấy!". Ôi những âm thanh thân thiết biết bao. Tôi đứng dậy gọi lên một tiếng: "Anh Mã". Tôi quay đầu lại, trước mắt chỉ thấy đầy một nhà sách báo và thư từ, ngay trên mặt xô pha cũng ngổn ngang những sách mới và báo chí. Trong phòng không có ai khác nữa, sự tưởng tượng của tôi đã đi quá xa. Làm thế nào bây giờ? Tự nhốt vào trong căn phòng của mình, nhìn những chồng sách cũ ở bốn phía tường, không có lò sưởi, không có khí nóng, tôi không thể bạc đãi mình quá mức nữa, dứt khoát nới lỏng ra một chút, để cho sự tưởng tượng của tôi được tự do bay nhảy một chút, có điều chắc chắn là nó (hay chúng nó) không thể vọt ra khỏi căn phòng này. Thế là tôi cầm lấy bút, viết lại sự thương nhớ mà tôi "kéo dài" hơn ba chục năm nay.
Lần đầu tiên tôi nhìn thấy anh Mã là vào một buổi tối giữa mùa xuân và mùa hạ năm 1929. Lúc đó, tôi đã thuộc tên anh, trên tạp chí cũng đã từng được đọc những truyện ngắn của Pháp mà anh dịch, cũng nghe được mấy người bạn khác nói về cách cư xử của anh. Anh hào phóng, hiếu khách, quí sách như vàng, tính nóng nảy, hay can thiệp vào những chuyện bất bình. Tôi bất ngờ gặp anh ở nhà Sách Phi, nói với nhau vài câu chuyện, chúng tôi trở nên bạn bè. Anh hẹn tôi đến nhà hát lớn ở Thượng Hải, cách nhà Sách Phi (tôi cũng ở đó) không xa lắm để xem phim "Phu xíc" của Đức. Xem phim xong anh lại mời tôi uống cà phê. Ở trong quán cà phê, anh đã thổ lộ điều bí mật trong lòng anh: anh đang theo đuổi em gái của một người bạn, một cô gái sắp tốt nghiệp trường Sư phạm. Người anh cô muốn tác thành cho hai người, nhưng anh lại không đoán được tâm tư của cô gái, đã lâu lắm không có tin tức gì từ Thành Đô. Trước đây một ngày cô gái đột nhiên gửi thư tới nhờ anh hỏi thăm tình hình gần đây của người anh cô đang công tác bên Pháp, mà lại là bức thư chứa chan hy vọng. Anh không có cách nào giấu nổi sự vui mừng của mình, nói không biết đến lúc nào hết, không để cho tôi còn có dịp nói xen vào. Tôi muốn chia tay, anh bảo hãy còn sớm, níu vai tôi bảo tôi ngồi xuống. Anh nói mãi, nói mãi, chúng tôi ngồi đến lúc khách đã về hết, cửa hàng cũng chuẩn bị đóng cửa, anh vẫn hình như chưa nói hết chuyện. Chúng tôi đúng là có thể nói mới gặp mà như quen đã lâu. Về tôi, anh chỉ mới đọc cuốn "Tước đoạt bánh mì"[1] mà tôi dịch, cũng như truyện "Diệt vong" đăng nhiều kỳ trên tờ "Tiểu thuyết nguyệt báo".
Sau đó không lâu, nghe nói anh về Tứ Xuyên. Tôi không trông đợi anh viết thư đến, anh là một người "lười viết thư" nổi tiếng. Thế nhưng tôi lại đợi tin mừng, tôi nghĩ rằng anh sẽ đạt được hạnh phúc. Tôi chờ đợi không lâu, một buổi chiều tối, hạ tuần tháng Chín quả nhiên anh dẫn cô gái đó tới ngõ Bảo Quang. Cô gái tướng mạo đoan trang, cử chỉ hào phóng, không nói nhiều nhưng luôn tươi cười. Cô chính là tác giả La Thục của truyện "Vợ đời" xuất hiện bảy năm sau đó. Xa nhau mấy tháng, anh trở nên nho nhã, khách sáo, gò bó. Anh muốn đến làm việc ở trường đại học Trung-Pháp Li-ông, cô gái sang Pháp tìm anh mình, hôm sau họ sẽ lên tàu, bởi vậy không nói được chuyện lâu ở đây. Tôi và người bạn là Sách Phi tiễn họ ra cửa, tôi bắt tay từ biệt họ. Vì bên cạnh có một cô gái, chúng tôi bỗng trở nên bớt thân thiết đi.
Tôi chưa từng nhận một lá thư nào từ Pháp gửi về, tôi gần như quên mất anh Mã. Tôi lại trở lại với cuộc sống bốn bể là nhà của mình, mang một cây bút máy chạy đi khắp nơi, chạy mệt rồi lại về Thượng Hải nghỉ ngơi. Đầu năm 1934 tôi từ Bắc Bình về Thượng Hải, lại gặp anh Mã. Lần này là cả nhà anh, anh và cô gái đó đã cưới nhau, sinh con gái. Tôi làm quen với La Thục, ởbên vợ chồng họ, tôi còn thấy một cô gái chỉ biết nói toàn tiếng Pháp.
Nửa năm cuối của năm 1935 sau khi thành lập Nhà xuất bản "Đời sống văn hoá", tôi đã định cư ở Thượng Hải. Lúc đó, vợ chồng anh ở ngõ Đôn Hòa, đường Ra đô (đường Tương Dương), tôi ở ngõ Mạch Gia đường Can Mét (đường Lật Dương) cách nhau không xa, chúng tôi luôn có dịp gặp nhau. Tôi và mấy người quen, mỗi tháng thế nào cũng đến nhà họ vài ba buổi tối tâm sự về văn học, đời sống và lý tưởng. Vì cuộc sống của gia đình, anh Mã đang dịch cho Uỷ ban Quỹ văn hoá Trung-Pháp một cuốn trước tác về Triết học bằng Pháp văn. Buổi tối là giờ làm việc của anh, anh thường hãm một bình cà phê mang lên gác ba, giam mình trên đấy, làm việc cho tới đêm khuya. Có lúc biết tôi đến, anh cũng phá lệ, vui vẻ xuống tán chuyện với chúng tôi, nói người nói việc, nói quá khứ cũng nói tương lai, đương nhiên là nói về hiện tại lúc ấy nhiều hơn. Chuyện trên trời dưới biển, đông bắc tây nam. Từ chuyện trái đất đến con ruồi, không còn chuyện gì không nói đến, nhưng những điều nói ra đều thật long. Đúng, có thể nói là mọi người đã giải bày hết tấm lòng mình, cũng chẳng có ai lo rằng sẽ bị người khác nghe được rồi đi "báo cáo nhỏ". Tình bạn của tôi với gia đình anh Mã là thứ tình bạn như thế.
Cuộc sống như thế cứ tiếp tục đến quý tư năm 1936 khi cả nhà anh Mã rời Thượng Hải. Trong thời gian đó đã xảy ra một chuyện. Tôi có một người bạn, từng công tác ở Công đoàn Hạ Môn, từng phải ngồi tù vì tham gia bãi công ở Công ty Nhà đèn, sau này đi Đông Bắc tham gia hoạt động "Nghĩa dũng quân". Có khi anh đến Thượng Hải không tìm thấy tôi, thì đến hiệu sách Khai Minh thăm Sách Phi. Mùa đông năm 1935 ở Thượng Hải xảy ra vụ lính thuỷ Nhật Bản đi khám xét nhà cư dân Trung Quốc ở một phân khu Hồng Khẩu. Nơi ở của Sách Phi cũng ở trong phạm vi thế lực của Nhật Bản. Vợ chồng họ hết sức lo lắng, bà vợ chợt nghĩ đến cái hòm của người bạn để lại, nói là lần trước khi anh bạn mở hòm hình như để lộ ra công văn gì đó của "Nghĩa dũng quân". Thế là họ mở hòm ra xem. Quả nhiên trong hòm, ngoài giấy tờ còn có cả súng ngắn và một trăm viên đạn. Không còn cách nào, tôi phải ngồi xe tay mang theo chiếc hòm đó từ khu Hồng Khẩu do lính thuỷ đánh bộ Nhật bố trí canh gác đi đến "Tô giới Pháp", lúc bấy giờ. Anh Mã ra mở cửa cho tôi. Vợ chồng họ lúc lúc đầu ngạc nhiên, tưởng rằng tôi có chuyện gì xảy ra. Thế nhưng tôi vừa nói ra, họ đã rõ tất cả. Cái hòm để ở trên gác nhà họ mãi đến khi họ lên đường đi Quảng Tây.
Ở xã hội cũ, không có cái gì gọi là "bát cơm sắt". Anh cầm lá thư mời làm việc nửa năm ở Quế Lâm. Không biết nửa năm sau anh còn tiếp tục ở lại Đại học Quảng Tây nữa hay không, cũng chỉ có thể tính toán trong một thời gian ngắn. Anh bảo tôi dọn đến ở ngõ Đôn Hoà để trông nhà giúp anh luôn. Đến mùa hè, họ đã trở về đúng hẹn. Họ đã vạch sẵn một kế hoạch: La Thục ở lại Thượng Hải để sinh con, anh Mã tiếp tục đi dạy học ở Quế Lâm. Sau một thời gian, họ chuyển cả nhà đến Quế Lâm và định cư ở đó. Nhà ở ngõ Đôn Hoà, họ để lại cho người bạn khác, ngoài ra thuê một khu đất yên tĩnh làm nơi ở mới. Anh Mã lên đường đúng theo kế hoạch, La Thục định kỳ đến bệnh viện khám thai, mọi việc hầu như rất thuận lợi. Nhưng tiếng súng của sự kiện "13 tháng 8" năm 1937 đã làm rối loạn sự sắp xếp của họ. Anh Mã từ Hồ Nam đi Tứ Xuyên, La Thục mang theo con gái, rời Thượng Hải để gặp anh.
Tháng hai năm sau, con trai họ ra đời ở Thành Đô, thế nhưng chưa được hai chục ngày, người mẹ trẻ đó mắc chứng sốt hậu sản, chết trong bệnh viện. Đầu tháng 3, qua thư của bạn bè, tôi biết được tin không may đó. Chẳng khác gì một cơn mê, tôi không muốn tin rằng một gia đình viên mãn như thế lại bị cái chết phá vỡ dễ dàng như thế. Tôi nhớ lại trong vòng mấy tháng trời, vợ chồng họ nào viết thư, nào đánh điện giục tôi sớm về Tứ Xuyên. Họ quan tâm đến sự an toàn của tôi ở Thượng Hải. Tôi nhớ lại một câu La Thục nói với tôi trước khi chia tay: "Lúc này, tôi nhất định phải đến ởbên anh Mã, giúp đỡ anh ấy. Anh ấy như một đứa trẻ mới lớn, tính nóng như lửa”. Sau khi họ lấy nhau, chỉ có lần ấy họ xa nhau. Trong loạn lạc tơi bời, bất chấp nỗi nguy hiểm của máy bay bắn phá, chị đã đến với anh. Nào ngờ, đón chờ chị lại là cái chết, thời gian đoàn tụ của họ lại chỉ ngắn ngủi có thế. Tôi mất đi một người bạn đáng kính, nhưng tôi cũng không thể không nghĩ tới cái chết của La Thục là một vố đòn đau đến như thế nào đối với anh Mã. Lý tưởng trước đây bị dập tắt, kế hoạch cũng trở thành mây khói. Tác giả của "Vợ đời" còn để lại cả đống bản thảo, người vợ hiền lành và đảm đang để lại một đứa con gái đang cần nuôi dạy và một đứa bé mới ra đời đang cần bú mớm. Đối với một người chỉ quen sống với sách vở như anh Mã, tôi thật không dám tưởng tượng đến sự đau khổ của anh. Tôi viết thư gửi đi. Thư cũng chẳng có ích lợi gì mấy. Ai mà dập tắt được ngọn lửa ấy bây giờ?
Không lâu sau, tôi rời Thượng Hải đi Quảng Châu, sống giữa những trận bắn phá, và cũng trong những trận bắn phá ấy, chạy đi khá nhiều nơi. Hơn hai năm sau, tôi đến Trùng Khánh, và ở lại Sa Bình Bá. Tôi đến Đại học Phúc Đán ở Bắc Bồi thăm bạn bè. Ở nhà anh Mã, chúng tôi nói chuyện đến tận đêm khuya, chỉ muốn làm sao một đêm nói được hết những chuyện gần ba năm xa nhau. Anh hình như già đi nhiều, và cũng không còn yêu sách như trước nữa, nhưng vẫn nhiệt tình như thế, hay nói chuyện như thế, nói không hề giấu giếm, không hề kiêng dè, anh rất có thể nói thoải mái với tôi hết đêm, nếu như không có sự khuyên can của người vợ kế. Vợ anh là người bạn mà La Thục quen biết khi ở Quảng Tây. Vì để nuôi những đứa con mà La Thục để lại, nên chị mới lấy Tôn Dung. Với những đứa con đó, chị đúng là một người mẹ hiền. Thế nhưng tôi đã nhận ra rằng, trong cuộc đời của anh Mã, chị không thể thay thế La Thục được. Hễ cứ nhắc đến La Thục, là mắt anh lại nhoè những lệ.
Cả nhà anh ở ngay gần trường, tự thuê lấy phòng của một nhà nông, Lúc ấy, ở hậu phương lớn, vận hạn bắt đầu đến với tầng lớp trí thức. Anh Mã chẳng phải là học giả có tiếng, tác phẩm cũng không nhiều, thường ngày nói năng thẳng thắn, hay nêu ra những chuyện để tranh cãi, nên cũng để mất lòng một số người. Trong lòng, anh rất thấy khó chịu. Tuy nhiên, anh vẫn như xưa, luôn giữ nét cười trên mặt, không hề để tâm đến khó khăn, có điều hay nổi nóng hơn lúc trước. Bạn bè quan tâm đến anh, có lúc cũng bàn tán về anh. Thế nhưng ai cũng đều yêu mến anh. Anh đúng như một ngọn lửa, anh đến đâu, phảng phất như mang đến một nguồn hơi nóng, không khí đang lặng lẽ cũng trở nên sôi động hẳn lên. Anh chung sống với các giảng viên, giáo sư không thật chan hoà, nhưng trong giới văn nghệ lại không ít người là bạn tri kỉ với anh. Anh ởHoàng Giác Thụ nhưng lòng lại để nơi bạn bè ở Trùng Khánh. Bạn bè sum họp, thế nào cũng không vắng anh. Giúp việc gì cho người khác, anh là người nhiệt tình nhất. Sau khi anh đã vào thành và tham gia hoạt động gì rồi, thường quên cả về nhà. Đồng chí Lão Xá biết cái tật ấy của anh nên thường xuyên nhắc anh, giục anh nên về nhà sớm.
Anh có rất nhiều bạn, ăn ở rất chân thành. Ở anh, tôi đã thấy ra được đạo lý khi kết bạn. Tôi nhớ mãi không quên một việc xảy ra năm 1941: Anh có một người bạn tư tưởng tiến bộ, khi gần gũi học sinh, cũng rất được hoan nghênh, nhưng do sức ép của thế lực bên ngoài Nhà trường và sự chèn ép bên trong cho nên bị Nhà trường sa thải, sắp phải đi chỗ khác kiếm việc. Trước khi người bạn ấy ra đi, học sinh họp mặt đưa tiễn. Trong cuộc họp ấy anh Mã đã chẳng kiêng dè gì nói hết lên suy nghĩ của mình. Trước đó, một vị giáo sư khác có quen biết anh, đã đến thăm nhà anh, nói đến người bạn bị sa thải, vị giáo sư đó đã nói xấu nhiều điều. Anh càng nghe càng thấy khó chịu, cuối cùng nổi nóng lên mắng: "Anh bôi nhọ bạn tôi tức là bôi nhọ tôi, tôi không thèm nghe nữa, ra ngay, ra ngay cho", anh đã đuổi vị giáo sư ấy ra. Vì bạn bè, anh chẳng sợ mất lòng ai. Thật không ngờ sau năm sau, ở Thượng Hải, anh cũng bị Nhà trường này (lúc đó đã chuyển về Thượng Hải) sa thải, đành phải đưa cả nhà vượt biển, ra Đài Loan. Khi học sinh Thượng Hải mở cuộc vận động chống đối, vậy mà người lãnh đạo Nhà trường lại cho phép quân cảnh trong vùng ùa vào sân trường bắt bớ học sinh. Anh Mã rất bất mãn đối với cách làm này. Trong cuộc họp giáo vụ của nhà trường, anh đã đứng dậy khảng khái và thẳng thắn, đập bàn mắng nhiếc. Đó chính là bản sắc của anh. Anh thường nói, để bảo vệ chân lý thì không thể nghĩ đến an nguy cho cá nhân.
Lần đầu tiên tôi về tới Tứ Xuyên, đầu năm 1941 qua Thành Đô thăm nhà, không lâu sau anh cũng đến Thành Đô tảo mộ La Thục. Chúng tôi cùng đến nghĩa trang. Chỉ có ở đây, anh mới lại trở nên đau buồn, hàng ngày gặp bạn bè anh thường luôn cười nói vui vẻ. Một hàng rào được ken bằng giống cây thấp bao lấy phần mộ đài, vô cùng yên tĩnh. Trước mộ có bia đá, cạnh mộ có trồng cây, trồng hoa, tôi mơ hồ như thấy mình đến nhà người bạn đã xa nhau bốn năm. Lòng tôi bình tĩnh hẳn lại, có cảm giác như người chết chỉ như đang nghỉ ở nhà trong, còn chúng tôi đang chờ đợi ở hành lang. Tôi khẽ vỗ về anh Mã: "Thật là một nơi rất đẹp đẽ! Thế Mỹ yên nghỉ ở đây tốt biết bao!". Anh lắc đầu chua xót nói: "Tôi không thể nào quên được cô ấy!", anh vỗ vỗ vào vai tôi, bàn tay anh vẫn còn đầy sức mạnh. Tôi đề nghị với anh, sẽ trồng ở đây những loài hoa quý hiếm và có tiếng, đặt một ít bàn đá, ghế đá để nay mai bạn bè có đến đây tảo mộ, có thể ngồi lại chuyện trò, phảng phất như người đã khuất vẫn ở giữa chúng ta. Anh luôn mồm bảo đúng. Tôi cũng đem ý nghĩ đó của tôi nói lại với bạn bè khác, chờ sau khi kháng chiến thắng lợi, sẽ thực hiện kế hoạch đó. Lúc ấy ai cũng không muốn nói suông. Thế nhưng cục diện sau ngày kháng chiến thắng lợi ép cho người ta đến nỗi thở không ra hơi. Tôi chưa thể về lại Thành Đô, anh Mã cũng buộc phải đi Đài Bắc xa xôi. Sau giải phóng, tôi hai lần về Thành Đô, đều không tìm thấy mộ của La Thục. Năm nay con trai chị cũng đến tìm, mới biết đã tan nát không còn một mảnh.
Đến Đài Bắc, anh ở đó chừng một năm rưỡi, có viết về mấy lá thư bảo tôi đi. Anh ở bên đó sống ổn định, bài vở không nhiều. Thế nhưng anh không quen với không khí oi ả ở đó. Bạn bè mới không nhiều; anh rất quan tâm tình hình đấu tranh ở Thượng Hải, nhưng lại không trở về tham gia được. Đầy một bụng phẫn uất không có nơi thổ lộ nên đành mượn rượu giải sầu.
Sau khi một người bạn là Hứa Thọ Đường, chủ nhiệm khoa Trung văn trường Đại học Đài Bắc (là bạn thân của Lỗ Tấn) đang ở trong nhà mình, nửa đêm bị giết hại, sự buồn khổ về mặt tinh thần của anh càng tăng lên. Anh đi xem "hành quyết" kẻ gọi là hung thủ trở về, nỗi buồn bực càng sâu hơn, thường xuyên cùng với một người bạn tốt (giáo sư Kiều Đại Tráng) vừa uống rượu, vừa bàn luận. Rượu uống ngày một nhiều, sức khoẻ ngày một kém đi. Sau khi anh ốm nằm xuống rồi, còn đòi về Thượng Hải. Tôi gửi thư khuyên anh nên ở lại Đài Loan chữa bệnh. Thế nhưng anh bảo anh "đồng ý chết ở Thượng Hải". Nhờ sự giúp đỡ của bạn bè, cuối cùng anh đã trở về. Như con gái anh từng nói: "Người đã mang theo tôi và em trai 10 tuổi của tôi, nằm trên băng ca để người ta khiêng lên chiếc tàu hàng của hãng Dân Sinh đi chuyến cuối cùng từ Long Cơ về Thượng Hải. Thượng Hải lúc đó loạn lạc tơi bời, chúng tôi chỉ có thể ở trong trạm liên lạc của Ban liên lạc Giáo sư đại học.[2]
Những người bạn ở Đại học Phúc Đán chịu trách nhiệm săn sóc anh. Có con anh cùng ở với anh. Tôi tới thăm anh, anh đang nằm trên giường, toàn thân anh phù nề, nhưng anh vẫn tươi cười. Anh chìa bàn tay to lớn của anh ra nắm lấy tay tôi, hạ thấp giọng nói: "Tôi nhìn thấy anh rồi! Anh không trách tôi chứ? Không nghe lời anh, lại trở về đây". Tôi chỉ nói lấp lửng: "Anh về được đây là tốt rồi". Khó khăn lắm tôi mới ngăn được dòng nước mắt. Tôi không ngờ anh lại ốm đến mức này. Lửa đang từ từ tắt, nằm trước mặt tôi đây không phải là đứa "trẻ con mới lớn" mà là một ông già nhu mì. Lúc ấy lòng tôi cũng vô cùng phức tạp, tôi thấy ra: chuyến đi dài ngày này không có lợi cho bệnh của anh, nhưng nếu có giữ lại ở Đài Bắc thì liệu có thể yên tâm chữa bệnh" được không?
Sau đó, tôi luôn luôn đến thăm anh, tuy nhiên đối với việc điều trị cho anh thì tôi lại chẳng có ích gì, mà cũng chưa thật là tận lực. Anh cứ nằm như thế mãi, tôi và Tiêu San đến thăm anh, anh vẫn cười vẫn nói. Tôi thầm lo cho anh, nhưng không ngờ kết cục lại đến với anh nhanh như thế. Về những giây phút cuối của anh, con gái anh viết: "Cha không được chữa trị và chăm sóc chu đáo, trước ngày giải phóng Thượng Hải một tháng, đã tủi hận qua đời. Giờ phút hấp hối, vì ban đêm giới nghiêm, ngay đến việc đưa đến viện cấp cứu còn không làm nổi. Dưới ánh đèn mờ nhạt, chỉ có hai đứa con côi chịu bó tay mà nhìn cha tắt thở".[3]
Khuya hôm ấy, tôi nhận được điện thoại của người bạn Phó Đán ở Trạm liên lạc báo tin cho tôi "anh Mã mất rồi”. Trời sáng, tôi mới đến Trạm liên lạc. Các cháu khóc lên nho nhỏ, người chết nằm im trên giường, mọi người đang chờ xe của nhà quàn, chỉ loáng thoáng có vài người bạn đến vĩnh biệt thi hài.
Thế nhưng khi làm lễ viếng ở nhà quàn, người đến trước linh cữu cúi chào lại khá đông, người chết vốn hiếu khách không thấy lẻ loi. Bên mình anh không có một khoản tiền gửi nào, từ Đài Bắc chỉ mang về mấy hòm sách. Có người đề nghị quyên tiền chi phí giáo đục cho các cháu, đã thảo thông báo và in ra rồi, nhưng không lâu sau chiến tranh áp sát đến Thượng Hải, rồi cũng chẳng có ai nhắc đến việc này. Sau khi nghi thức hoàn tất, thi hài do Hiệp hội Hồi giáo mai táng tại nghĩa trang Hồi giáo. Lúc đầu, các cháu không bằng lòng, nhưng qua thuyết phục, mọi việc đều giải quyết suôn sẻ. Tôi cũng tham gia nghi thức công táng, sau này tôi cũng từng đến nghĩa trang. Nghĩa trang ở Từ Gia Hội, cũng không rộng lắm. Hai cháu đã khoẻ mạnh và lớn lên, sách vở toàn bộ quyên tặng cho Nhà trường. Năm 1972 con trai anh có việc đến Thượng Hải, đi lại tảo mộ cha mình, nhưng tìm không thấy mộ ở đâu.
Về anh Mã Tôn Dung, tôi còn có thể nói nhiều chuyện, nhưng với bạn đọc, tôi nghĩ không cần phải nói thêm. Chúng ta có một thói quen, viết bài để kỷ niệm cứ thích ca ngợi công đức, làm như người ta hễ chết là trở thành Thánh nhân, cảm tình riêng thường thường che mất mắt người đọc. Lại còn có người lấy văn chương làm món quà để thù tạc hoặc lấy sự huyền diệu kỹ xảo của văn học, mà viết ra, có thể ít xuýt ra nhiều, chuyển dữ hóa lành, khoe khoang người chết, cũng tự khoe mình. Cho nên có rất nhiều người và việc đáng ra "đậy nắp quan tài mới luận định" đều không thể "đậy nắp luận định", trong xã hội còn lưu truyền đủ kiểu tin tức vỉa hè.
Vậy mà với anh Mã Tôn Dung, đại khái có thể đậy nắp quan tài và luận định được rồi đấy. Ba mươi ba năm nay, trong nhiều cuộc vận động, chưa thấy có người nào vạch tội anh, mà cũng chưa họp một buổi phê phán nào. Anh tuy đã chết, nhưng sau khi chết vẫn chưa trở thành Thánh nhân, cũng chưa thấy có bài văn nào ca ngợi anh. Chúng ta hầu như bỏ quên anh. Thế nhưng tôi thì làm thế nào có thể quên anh được? Anh là một người bạn rất tốt của tôi, anh rất tin tôi. Nếu như thấy có ai nói xấu về tôi, anh cũng có thể đánh nhau với họ, ở đây tôi không muốn nói nhiều về cảm tình của cá nhân. Tôi xưa nay chưa bao giờ coi anh là Thánh nhân. Khi anh còn sống, tôi thường phê bình anh làm được ít quá, chưa từng cống hiến hết tài trí của mình. Anh chỉ để lại một cuốn tạp văn rất mỏng là "Lượm lặt" và cuốn "Lịch sử cách mạng Pháp" viết bằng văn ngôn (cũng là một tập mỏng tèo); còn hai cuốn tiểu thuyết dịch: "Xuân triều" của Tuốcghêniép, và "Chàng trai trong nhà kho" của Miếc-bô[4], số chữ không nhiều lắm. Tôi biết anh có nhiều thiếu sót, nhưng anh lại có mặt trội, cái mặt trội này có thể che lấp mọi thiếu sót.
Anh từng nói: Để bảo vệ chân lý, không nghĩ được tới an nguy của cá nhân. Bản thân anh đã làm được như thế. Tôi đã nhìn thấy chính khí của tầng lớp trí thức Trung Quốc ở trên mình anh long lanh tỏa sáng, thế nhưng tôi lại chẳng học được gì ở mặt trội của anh, mà cũng chưa chịu học cho tử tế. Trước đây có những thời kỳ, tôi thường coi lời của quan trên là chân lý, lại có một thời kỳ tôi làm theo lời cổ xưa là "hiểu rõ để giữ mình" (minh triết bảo thân), ngày nay nghĩ lại thật là thẹn với người bạn quá cố. Đó mới là khoản lớn nhất trong món nợ của tôi.
Bây giờ đã là lúc trả nợ rồi. Tôi làm sao trả sạch đây? Anh ấy lo thay cho tôi. Tôi đã rõ rồi. Ngọn lửa ấy chưa hề tắt, lửa vẫn còn đang cháy mà còn cháy mãi không thôi.
Ngày 29-1 viết xong.
[1] nguyên tác của Khrôpatkin
[2] Xem "Những ký ức khó quên" Mã Tiểu Mí-báo Hương Cảng buổi chiều ngày 10-2-1981
[3] Như phần đã dần ở trên.
[4] Nhà văn hiện thực Pháp thế kỷ thứ XIX.