Trong một bài "Tuỳ tưởng" trước đây, tôi có nhắc đến chuyện mình tự nhận là cậu của người khác. Có người hỏi tôi và bảo tôi nói thêm một chút, và bảo là Cao Hành Kiện trong bài "Truyền kỳ" đăng ở "Hoa thành" số 6 cũng đã nói rồi. Cao Hành Kiện nghe được từ chỗ Tào Ngu, người biết rõ chuyện này, ngoài Tào Ngu còn có một người bạn nữa, nhưng họ cũng chẳng nói được tường tận. Kỳ thực chuyện rất giản đơn: tôi nhận được một bức thư dài của một bạn đọc từ Hàng Châu gửi tới nhờ giúp đỡ. Tôi đưa cho hai ba người bạn xem, họ không nêu ra được ý gì, còn nửa tin nửa ngờ lời lẽ trong thư. Tôi lại đưa thư cho vợ người bạn, hỏi ý kiến chị, chị giục tôi nên đi một chuyến. Tôi nghe lời vợ của bạn, trong tay vừa nhận được một khoản tiền nhuận bút, tôi bèn hẹn Lỗ Ngạn và Cận Dĩ cùng đi Tây Hồ.
Người viết thư là một cô gái, cô với người mẹ kế ăn ở với nhau không ra gì, bèn bỏ nhà ở An Huy ra tỉnh khác làm ăn. Do thất tình, cô định đi Hàng Châu để tự tử. Đến Tây Hồ, cô gặp một người bà con xa nên đã thay đổi ý định, cắt tóc đi tu. Mấy tháng sau, cô lại phát hiện người bà con xa đó có quan hệ với ông sư trên chùa. Ông sư đó có dã tâm với cô. Cô muốn thoát ra khỏi hang hùm, bèn viết thư nhờ tôi giúp đỡ. Ba người chúng tôi đến Hàng Châu, xếp đặt đâu đấy xong xuôi, ăn cơm trưa, đến bờ hồ thuê một chiếc thuyền, chèo tới gần ngôi chùa; chúng tôi lên bờ hẹn cô gái ra ngoài. Chúng tôi trò chuyện với nhau khoảng hai tiếng đồng hồ ở trên thuyền. Cô kể lại tình hình rất tỉ mỉ, khiến cho người khá lớn tuổi như Lỗ Ngạn cũng xúc động. Chúng tôi hẹn hôm sau lại đến chùa thăm cô. Cô có một người cậu ở Thượng Hải cùng họ với tôi, bèn để tôi tự nhận là cậu của cô. Tôi đã trả nợ thay cho cô hơn 80 đồng tiền cơm, tiền nhà, lại biếu cô một cái vé tàu lượt về của chúng tôi. Cô sẽ đi Thượng Hải chậm hơn chúng tôi một ngày. Tôi và Cận Dĩ ra ga Bắc đón, mời cô ăn cơm trưa, sau đó gọi một chiếc xe tay, đưa cô về nhà cậu mình ở Hồng Khẩu. Lúc đó "Nguyệt san Văn Quý" của công ty sách Lương Hữu do Cận Dĩ biên tập còn chưa bị cấm, tôi thường gặp gỡ anh ở công ty Lương Hữu. Cô gái đến Thượng Hải, hai ngày sau đã cùng người cậu của cô đến công ty Lương Hữu gặp chúng tôi và tỏ lòng cảm ơn. Cô đã để lại cho chúng tôi địa chỉ. Lê Liệt Văn biết chuyện này, qua mấy tháng sau, vì biên tập tờ báo nguyệt san "Trung lưu", anh nhận được rất nhiều thư và bản thảo, không đọc xuể, bèn mời cô gái họ Vương đó đến làm việc ở toà soạn. Nhưng chưa được ba tháng, cuộc chiến "13-8" bùng nổ, tờ "Trung Lưu" bị đình bản, cô gái cùng cả nhà ông cậu đi Tứ Xuyên, từ Thành Đô có gửi về một bức thư. Sau đó tôi không được tin tức gì về cô nữa. Trong cuộc đại thẩm tra của mười năm đại hoạ, không thấy có ai đến Thượng Hải tìm tôi để "điều tra vòng ngoài" gì thêm.
Việc này lúc đó xem ra rất bình thường. Chúng tôi hai lần thuê thuyền đến chùa để thăm cô gái, trên thuyền, có lại kể tường tận về thân thế của mình. Người chở thuyền nghe hết, ông ta cũng biết đó là chuyện gì. Thời bấy giờ, du khách ở Tây Hồ rất ít, thuyền không nhiều, cho nên cả hai lần, đều ngồi trên thuyền của ông. Đến khi tôi là người cuối cũng rời thuyền và trả tiền thuê, người chở thuyền bỗng tha thiết nói: "Các vị là những người tốt". Ông ta không mách cho nhà sư biết, và cũng không gây khó khăn gì cho chúng tôi.
Có thể có người nghi ngờ, cô gái đã có cậu ở Thượng Hải, tại sao không cầu cứu ông này, lại đi tìm một người không quen biết nhờ giúp đỡ? Cô đã từng nói, lúc đầu cô chứa chan niềm tin rời bỏ gia đình, bất chấp cả mọi lời khuyên ngăn của người khác, cô không muốn để họ hàng biết tình cảnh khó khăn của cô ở Hàng Châu. Chúng ta cũng có thể phê bình cô là "ương ngạnh, sĩ diện hão" thậm chí là "thích hư vinh". Nhưng sống lâu trong xã hội cũ, chúng ta ai chẳng có cái tật như thế? Chúng tôi lúc đó chỉ còn biết giải thích là "bạn đọc tin ở nhà văn", thế là đủ.
Nghe nói người ta đến cuối đời hay ôn lại chuyện cũ. Giấc mộng của những năm ba mươi gần đây nhiều lần trở lại trong tôi. Lúc bấy giờ tôi còn ở Thượng Hải viết văn, làm tạp chí, biên soạn sách, cảm thấy mình có thừa tinh lực và thời gian. Thư của bạn đọc xa gần gửi tới, thường thường là 10 trang trở lên, chúng đều là nguồn sức mạnh của tôi. Bạn đọc đã coi nhà văn như người bạn đáng tin cậy, họ bằng lòng thổ lộ với nhà văn những lời tâm huyết. Trong những ngày sức sáng tác của tôi dồi dào thì những đau khổ, khó khăn, thành khẩn, nhiệt tình đó như một ngọn đèn sáng luôn đặt trên bàn viết của tôi. Tôi thấy được an ủi, tôi thấy hãnh diện, tôi không ngừng viết tiếp. Trong những năm ba mươi, những năm bốn mươi, tôi kết thân với nhiều bạn trẻ, tôi đã được chia sẻ biết bao nhiêu điều riêng tư của họ. Có người hỏi tôi với ý tốt: có phải chăng anh có một chiếc chìa khoá, nếu không, anh làm sao mở được cánh cửa tâm hồn của lớp trẻ? Tôi làm gì có bí quyết! Tôi đã từng nói, tôi đã trao lòng mình cho người đọc, thế nhưng tôi lại quên nói, người đọc cũng trao trái tim của họ cho tôi. Trong cuộc đời tôi đã có những lúc rực lên ngàn tia lửa, trái tim tôi gắn liền với những trái tim trẻ. Họ đã chịu nói những điều chỉ nói cùng bố mẹ, không chịu nói ra với anh em, chị em, đem những những điều thầm kín tận đáy lòng, viết hết lên trang giấy gửi đến tận tay tôi. Tôi thường nói, nhà văn dựa vào bạn đọc để mà sống, không những chỉ vì bạn đọc mua sách, mà quan trọng hơn là họ mang cho ta sức sống tinh thần. Khi tôi viết được nhiều, cũng là lúc tôi liên hệ được với người đọc chặt chẽ nhất. Tôi không hề cho rằng tôi là một nhà văn hàng đầu, mà chỉ coi mình như một người bình thường, một người bạn trung thực.
Thế nhưng, sau này tôi dần dần xa cách người đọc. Tôi thiếu thời gian, cũng thiếu cả tinh lực, những vinh dự hàng đầu giành cho tôi càng nhiều, thời gian tôi viết lách càng ít đi, cuối cùng tôi trở thành một nhà văn không cần có tác phẩm. Tôi đã tiêu phí đời mình vào những việc vặt vãnh không quen thuộc, lại chỉ có thể chọn trong mười lá thư của bạn đọc, lấy ra hai lá để đọc, để trả lời. Tôi luôn luôn cảm thấy áy náy vì đã phụ lại lòng tốt của bạn đọc. Nhưng lại cho là vì trong mười năm đại hoạ, thư từ của bạn đọc đã gây cho tôi quá nhiều phiền phức. Các nhà văn “phái tạo phản” thì phải để mắt nhìn lên "thủ trưởng", làm sao có thể cho phép người ta hấp thụ nhựa sống ở người đọc? Nghe nói "Bí thư" Thượng Hải của "lũ bốn tên", Từ Cảnh Hiền từng la lối: "Bây giờ vẫn còn người viết thư cho Ba Kim, đủ thấy phê phán bất lực, chưa phê cho hắn thối lên!". Kỳ thực thì bắt đầu từ quý tư năm 1967, tôi bị các ngành lôi đi "đấu" ba bốn năm liền. Trong cả mấy năm đó, tôi không hề nhận được lá thư nào. Có thể có người viết thư đến, nhưng bị "lãnh đạo" ỉm đi, bởi vì "yêu ma quỉ quái" thì làm sao mà hưởng quyền lợi của con người.
Không ai ngờ sau khi mây đen được xua tan, những người bị đánh ngã dưới đất bỗng lại đứng lên được. Nhìn những thư tín xếp thành đống, tôi cảm thấy bó tay. Mười năm đại hoạ đã để lại trong lòng tôi vết thương không gì chữa trị được. Lời lẽ hùng hồn thế nào cũng không thể bù đắp được sức khoẻ đã bị cướp đi. Đối với những bạn đọc nhiệt tình quan tâm và trông đợi ân cần, tôi biết viết gì để trả lời? Tới cái lúc viết chữ cũng cảm thấy vất vả, tôi thường thường để những lá thư cần trả lời qua một bên, mấy hôm sau lại chẳng biết tìm chúng ở đâu nữa, đành ngán ngẩm ngồi nhìn căn phòng đầy sách vở và thư từ. Có những bức thư cần phải chuyển đến nơi khác, thế nhưng tôi chuyển đi chuyển lại, không có kết quả gì, có khi thậm chí nó lại quay về tay mình. Lại còn có người lầm, coi cái vinh dự đứng hàng đầu thành cái chìa khoá để toả sáng, yêu cầu tôi mở cửa sau cho họ. Tôi đành trả lời bằng sự im lặng. Thế nhưng tôi cũng đau khổ về sự im lặng đó. Một mặt tôi không quên tôi còn mắc với bạn đọc món nợ mãi mãi không bao giờ trả xong, mặt khác trong óc tôi luôn luôn giữ một hình ảnh của mình như thế này: Một ông già ốm yếu cất bước chân khó khăn đi về phía những gì đã mất. Để cho bạn đọc quên tôi đi, đó là sở nguyện của tôi. Thế nhưng tôi mãi mãi không quên được bạn đọc.
Đó có phải là mâu thuẫn không? Đã muốn cho người ta quên mình đi, tại sao không chịu buông cây bút của mình ra?
Tôi từng nói, cuộc đời tôi đầy rẫy những mâu thuẫn. Xa rời bạn đọc, tôi cảm thấy suối nguồn khô cạn. Vinh dự hàng đầu càng nhiều, cũng không cách gì thắp sáng được ngọn đèn đã cạn dầu. Nhưng chỉ cần còn một chút hơi thở, thì ngọn lửa yếu ớt đó của tôi cũng không thể tắt. Rốt cuộc là thứ lửa gì? Đó là lòng yêu Tổ quốc, nhân dân. Đó cũng là mối liên hệ duy nhất giữa tôi và bạn đọc. Hôm nay giữa tôi và bạn đọc còn có những điểm chung nhau, bởi vậy tôi còn sống được, còn viết được.
Ngày 23 tháng 2.