Tôi đã tốn mất hơn một tuần và tám cuộc gọi để cố gắng hỏi dò về tập tài liệu tội phạm của Carl Iverson từ văn phòng luật sư công. Ban đầu, nhân viên lễ tân phải cố gắng lắm mới hiểu được yêu cầu của tôi, và khi cuối cùng cô ấy đã thực sự hiểu, cô ấy lại bày tỏ ý kiến với tôi rằng tập tài liệu rất có thể bị hủy từ trước đó rất nhiều năm. “Kể cả vậy,” cô ấy trả lời, “Tôi cũng không có đủ thẩm quyền để trao một tài liệu tội phạm cho bất cứ ai tên Tom, Dick, hay Harry, hay bất cứ ai yêu cầu có được nó.” Sau đó, cô ấy chỉ đơn giản chuyển những cuộc gọi của tôi vào hộp thư thoại của Berthel Collins, quản lý văn phòng luật sư công, mà trong khi đó, những tin nhắn của tôi dường như đã bị rơi xuống vực thẳm. Vào ngày thứ mười lăm kể từ khi tôi không nhận được cuộc gọi phản hồi từ Collins, tôi đã bỏ lớp học buổi chiều của mình và bắt xe bus vào thành phố Minneapolis.
Khi nhân viên lễ tân trả lời tôi rằng người quản lý đang bận, tôi nói với cô ấy rằng tôi sẽ đợi rồi tìm một chỗ ngồi ngay gần bàn làm việc của cô ấy, nơi tôi có thể nghe thấy cô ấy nói, dù chỉ là một tiếng thì thầm qua điện thoại. Tôi đọc những tờ báo để giết thời gian cho đến khi cô ấy cuối cùng cũng thì thầm với một ai đó, nói rằng tôi đã chờ ở đây rất lâu rồi.
Mười lăm phút sau, cô ấy chịu thua và dẫn tôi vào văn phòng của Berthel Collins, một người đàn ông với làn da xám xịt, mái tóc không chải, bù xù, đâm quàng đâm xiên trên đầu và một chiếc mũi to, đỏ như trái hồng chín.
Berthel mỉm cười với tôi, bắt tay tôi như thể ông ấy muốn bán cho tôi một chiếc ô tô.
“À, vậy cậu là thằng bé đang theo dõi tôi,” ông ấy mở lời.
“Cháu sẽ không làm như vậy nếu ngài nhận tin nhắn điện thoại của cháu,” tôi trả lời. Ông ấy trông có vẻ hơi bối rối trong giây lát rồi ra hiệu cho tôi ngồi vào một chiếc ghế.
“Cậu phải hiểu rằng,” ông ấy nói, “chúng tôi không nhận những cuộc gọi mà thường xuyên yêu cầu chúng tôi đào xới đống hồ sơ để tìm kiếm một tập tài liệu từ ba mươi năm trước. Chúng tôi lưu trữ tất cả những dữ liệu đó ở bên ngoài.”
“Nhưng ông vẫn có tập tài liệu đó?”
“Ồ, tất nhiên,” ông ấy nói, “Chúng tôi có nó. Chúng tôi bắt buộc phải giữ lại những tập tài liệu về các vụ giết người một cách vô thời hạn. Tôi đã kêu người mang nó về đây vào ngày hôm qua. Nó ở ngay đây.” Ông ấy chỉ vào một chiếc hộp đựng tài liệu nằm đối diện với bức tường đằng sau tôi.
Tôi đã không ngờ rằng những tài liệu này lại nhiều đến như vậy. Tôi chỉ nghĩ tôi có thể có một tập tài liệu đầy đủ, chứ không phải là một thùng tài liệu như thế này. Tôi bắt đầu nhẩm tính lượng thời gian mà tôi cần có để đọc hết chỗ tài liệu kia và cảm thấy những con số đang được tính toán dần chất đầy một xô trong đầu tôi. Sau đó, tôi còn nhân hệ số đối với bài tập về nhà của các lớp học khác và những bài kiểm tra, những bài thuyết trình. Tôi đột nhiên cảm thấy choáng váng. Làm sao tôi có thể hoàn thành tất cả mọi việc. Tôi bắt đầu cảm thấy hối tiếc vì quyết định lấy cho bằng được đống tài liệu này; điều này chỉ được xem như là một bài tập thực hành tiếng Anh đơn giản.
Tôi thò tay vào túi, lấy ra tờ giấy biên nhận, và trao nó cho ông Collins. “Vậy, bây giờ cháu đã có thể mang chúng đi được chưa?” Tôi hỏi.
“Không phải tất cả,” ông ta nói. “Chưa đâu. Chúng tôi có một vài tài liệu đã sẵn sàng được mang đi. Chúng tôi phải tiêu hủy những ghi chú các kết quả công việc trước khi chúng tôi có thể để cho những tài liệu này được mang ra khỏi văn phòng.”
“Sẽ mất bao lâu để làm việc này?” Tôi nhấp nhổm trên chiếc ghế đang ngồi, cố tìm được một vị trí mà chiếc lò xo phía dưới lớp nệm không xoáy vào mông mình.
“Như tôi đã nói, chúng tôi có một vài tài liệu trong số những tài liệu này đã sẵn sàng để đưa cho cậu.” Ông ấy mỉm cười. “Chúng tôi đang cử một thực tập sinh giải quyết vấn đề này. Những tài liệu còn lại sẽ được đưa cho cậu sớm thôi, có lẽ khoảng một đến hai tuần nữa.”
Collins dựa lưng vào chiếc ghế êm ái theo phong cách Georgian, chiếc ghế mà tôi đã để ý rằng nó được đặt ở một vị trí cao hơn bốn inch so với những chiếc ghế khác trong phòng và trông nó còn trên cả tuyệt vời. Tôi lại chuyển tư thế ngồi, cố gắng giữ cho máu chảy xuống hai chân.
“Cậu cảm thấy hứng thú với điều gì trong vụ án này?” Ông ta hỏi tôi, trong khi vắt chân nọ lên chân kia.
“Biết nói thế nào nhỉ, cháu cảm thấy tò mò về cuộc đời và những quãng thời gian mà Carl Iverson đã trải qua.”
“Nhưng tại sao?” Collins hỏi tôi với vẻ rất chân thành. “Vụ án này không có quá nhiều chi tiết.”
“Ông biết về vụ án này ư?”
“À, tôi biết chứ,” ông ấy nói. “Tôi làm thư ký tại đây vào cái năm xảy ra vụ án đó, hồi đó tôi đang còn là sinh viên năm thứ ba đại học Luật. Luật sư chính của Carl, John Peterson, đã đưa tôi về làm vị trí nghiên cứu pháp lý cho ông ấy.” Collins dừng lại, nhìn xa xăm về một khoảng trống trên tường qua chỗ tôi ngồi, thu thập lại những chi tiết về trường hợp của Carl. “Tôi đã gặp Carl trong tù một vài lần, và cả trong phòng xử án. Đó là vụ án giết người đầu tiên tôi gặp trên cương vị thư ký. Đúng vậy, tôi vẫn còn nhớ ông ta. Tôi cũng còn nhớ cô bé đó, Crystal gì đó.”
“Hagen.”
“À đúng, Crystal Hagen.” Khuôn mặt Collins trở nên sắc lạnh. “Tôi vẫn nhớ những hình ảnh đó - những người đã có mặt tại phiên tòa. Tôi chưa từng nhìn thấy hình ảnh hiện trường vụ án trước đó. Đó là lần đầu tiên trong đời tôi. Nó không hề bình yên như những gì cậu vẫn thường thấy trên tivi với đôi mắt của họ nhắm nghiền lại, trông có vẻ đơn giản như họ đang buồn ngủ. Không, nó hoàn toàn không phải vậy. Những bức ảnh về cô ấy bị bạo hành, và đau đớn. Nói về ngày hôm đó, tôi như vẫn có thể nhìn thấy cô ấy.” Ông ấy đột nhiên rùng mình, rồi tiếp tục. “Cậu biết đấy, ông ta có thể đã có một thỏa thuận.”
“Một thỏa thuận ư?”
“Một sự thỏa thuận về lời biện hộ của bị cáo. Họ thương lượng, và đã đề nghị ông ta về cấu hình tội phạm giết người cấp độ hai. Nếu như vậy, ông ta có thể có đủ điều kiện để được tạm tha trước tám năm. Nhưng ông ta đã từ chối. Người đàn ông đó đã phải đối mặt với bản án tù chung thân nếu ông ta bị kết tội giết người cấp độ một, ông ta đã từ chối lời đề nghị ở cấp độ hai.”
“Chính điều đó đã làm cháu cảm thấy băn khoăn,” tôi nói. “Nếu ông ta bị kết án tù chung thân, làm sao ông ấy lại được ân xá?”.
Collins dựa người về phía trước, đưa tay chà vào cằm, ông ấy gãi cằm như chưa bao giờ được gãi. “Cuộc sống không thực sự có ý nghĩa cho đến khi cậu chết,” ông ấy nói. “Trở lại năm 1980, cuộc sống trong tù có nghĩa là cậu cần phải ở đó đủ mười bảy năm trước khi đủ điều kiện để được tạm tha. Sau đó, họ đã thay đổi luật đó thành ba mươi năm. Vì họ đã thay đổi đạo luật này thêm một lần nữa nên những người bị kết tội bắt cóc và giết người hoặc tội hiếp dâm sẽ không có khả năng được tạm tha. Về mặt pháp lý, họ đã kết án Iverson theo quy chế cũ, vì vậy ông ta có đủ điều kiện tạm tha sau mười bảy năm, nhưng hãy quên nó đi. Một khi cơ quan lập pháp tuyên bố rõ ràng rằng họ muốn những kẻ giết người, hiếp dâm bị giam cầm vì những lý do tốt đẹp, khả năng Iverson được tạm tha không có. Tuy nhiên cậu cần biết sự thật là, khi tôi nhận cuộc điện thoại của cậu, tôi đã xem lại hồ sơ của Iverson trên website của Sở Cải huấn và “ngã ngửa” khi biết rằng ông ta đã được tha.”
“Ông ấy sắp chết vì căn bệnh ung thư,” tôi nói. “Ồ, vậy là tôi đã biết được câu trả lời,” ông ấy nói, “trại tế bần của nhà giam có thể đã có vấn đề.”
Miệng méo xệch, đầu ông ấy gật lia lịa như có vẻ đã hiểu.
“Vậy Carl kể chuyện gì đã xảy ra vào cái đêm Crystal Hagen chết?”
“Chẳng có gì hết,” ông ấy trả lời. “Ông ta nói rằng ông ta không hề làm việc đó - ông ta đã khai rằng mình uống rượu từ chiều ngày hôm đó cho đến khi ông ta ngất đi và không nhớ được gì. Thành thật mà nói, ông ta không làm gì nhiều để tự bảo vệ cho chính mình, ông ta chỉ ngồi đó và xem xử án như đang xem một chương trình truyền hình.”
“Ông có tin những điều ông ta nói, rằng ông ta vô tội?”
“Đó không phải là vấn đề mà tôi quan tâm. Tôi chỉ là một thư ký luật. Chúng tôi sắp đặt sẵn một cuộc chiến. Chúng tôi nói rằng bạn trai của Crystal đã thực hiện hành vi đó. Đó là giả thuyết của chúng tôi. Ông ta là người cuối cùng nhìn thấy cô bé còn sống. Ông ta có tất cả các cơ hội thích hợp, và đó là một tội ác của tình yêu. Ông ta muốn gây sức ép với cô bé - và cô bé nói không - và mọi chuyện trở nên mất kiểm soát. Đó là một giả thuyết khá hợp lý: có bột mới gột nên hồ mà. Nhưng xét cho cùng, ban bồi thẩm đã không tin vào điều đó, và đó là lý do cho tất cả các vấn đề này.”
“Có một vài người tin rằng ông ấy vô tội,” tôi nói, và nghĩ về Virgil.
Collins cụp đôi mắt mình xuống và lắc đầu, tỏ ý gạt bỏ nhận xét của tôi như thể tôi là một thằng nhóc cả tin.
“Nếu ông ta không làm điều đó, vậy thì ông ta là một đồ khốn tội nghiệp sao. Cô bé đó được tìm thấy đã chết trong khu nhà kho của ông ta,” ông ấy nói. “Họ tìm thấy một trong những móng tay của cô bé trên những bậc cầu thang dẫn tới hiên nhà ông ta.”
“Ông ta đã vặn các móng tay của cô ấy ra sao?” Tôi nói, và bất giác rùng mình khi nghĩ đến điều đó.
“Đó là bộ móng giả, và đó là một trong những chiếc móng tay làm bằng acrylic. Cô bé đã có bộ móng giả đó trong lần đầu tham gia ngày hội trường một vài tuần trước đó. Các công tố viên cho rằng nó đã bị vỡ ra khi ông ta kéo cơ thể đã chết của cô bé vào nhà kho của mình.”
“Ông có tin rằng Carl đã giết cô bé ấy?”
“Chẳng có ai khác đáng khả nghi cả,” ông ấy tiếp tục. “Iverson đơn giản chỉ nói rằng ông ta đã không làm chuyện đó, nhưng cùng lúc đó, ông ta nói rằng mình đã quá say xỉn để nhớ bất cứ việc gì đêm hôm đó. Nó liên quan đến đạo luật Occam .”
“Đạo luật Occam?”
“Đó là một nguyên tắc quy định rằng tất cả mọi thứ phải được công bằng, kết luận đơn giản nhất thường đúng. Tội phạm như giết người hiếm khi xảo quyệt, và hầu hết những kẻ giết người thì thường không thông minh. Cậu đã gặp ông ta chưa?”
“Ai cơ? Carl ạ? Vâng, ông ấy đã ký vào giấy biên nhận.”
“À, phải,” Collins nhíu mày, tỏ ra không hài lòng với kết luận hiển nhiên ấy. “Ông ta đã nói gì với cậu? Liệu ông ta đã nói rằng ông ta vô tội?”
“Chúng cháu vẫn chưa nói về vụ án này. Cháu đang dần tiến tới việc đó.”
“Tôi hy vọng rằng ông ta sẽ kể cho cậu nghe.”
Collins vuốt bàn tay dày dặn qua mái tóc mình, vô tình làm những đống gàu trên tóc rơi xuống hai vai. “Và khi ông ta đã kể câu chuyện này cho cậu biết, cậu sẽ muốn tin vào ông ta.”
“Nhưng ông lại không tin ông ấy.”
“Có lẽ tôi đã tin - nhưng nhìn lại, tôi lại không dám chắc. Thật là khó để có thể nói chuyện với những người như Carl.”
“Những người như Carl ư?”
“Ông ta là một kẻ phạm tội cưỡng hiếp trẻ vị thành niên. Chẳng ai có thể nói dối được như họ. Họ luôn là những kẻ nói dối số một. Không có một nghệ sĩ lừa gạt nào trên đời này có thể nói dối bằng một kẻ cưỡng hiếp trẻ em.”
Tôi nhìn vào Collins một cách rỗng tuếch, tỏ ý muốn ông ấy nói rõ hơn.
“Những kẻ lạm dụng tình dục trẻ em là những tên quái vật ở xung quanh chúng ta. Những kẻ giết người, trộm cắp, kẻ cướp, buôn bán ma túy, họ luôn luôn có thể biện minh cho những gì mình đã làm. Phần lớn các vụ án xảy ra vì những cảm xúc đơn giản như tham lam, giận dữ hoặc ghen tuông. Mọi người có thể hiểu được những cảm xúc đó. Chúng tôi không nhấp nhận điều đó, nhưng chúng tôi hiểu nó. Mọi người đều có những cảm xúc khác nhau vào lúc này hay lúc khác. Thật quái quỷ, hầu như mọi người, nếu họ thành thật, sẽ chấp nhận mang danh tội phạm trên đầu mình, thừa nhận họ là kẻ giết người, và hối cải. Tất cả mọi người trong ban bồi thẩm đoàn đã cảm thấy tức giận hoặc ghen tị. Họ được những xúc cảm cơ bản đằng sau mỗi một tội phạm, ví dụ như với một kẻ sát nhân, và họ sẽ trừng phạt kẻ đó vì tội không thể kiểm soát cảm xúc bản thân.”
“Cháu cũng nghĩ vậy,” tôi nói.
“Bây giờ, cậu hãy nghĩ đến một tội phạm lạm dụng tình dục trẻ em. Anh ta có mong muốn có quan hệ tình dục với những đứa trẻ. Ai sẽ hiểu và thông cảm cho anh ta đây? Cậu không thể biện minh cho những gì cậu đã làm. Không ai có lời giải thích cho họ, họ là những con quái vật, và họ biết rõ điều đó. Tuy nhiên, họ lại không thể thừa nhận điều đó, thậm chí thừa nhận nó với chính bản thân mình. Do đó, họ giấu giếm sự thật, chôn vùi nó thật sâu tận đáy lòng, sâu đến nỗi họ bắt đầu tin vào những gì họ đang nói dối.”
“Nhưng sẽ có một vài người vô tội, phải không?” Tôi hỏi.
“Tôi có một trường hợp với một anh chàng…” Collins ngả mình về phía trước, chống cả hai khuỷu tay lên bàn. “Ông ta bị buộc tội đã cưỡng bức một đứa trẻ mười tuổi. Người đàn ông này đã làm cho tôi tin rằng người vợ cũ của ông ta đã đơm đặt những chuyện này vào đầu của đứa trẻ. Ý tôi là tôi đã tin anh ta hoàn toàn. Tôi đã chuẩn bị một bài kiểm tra chéo tàn khốc để phơi bày từng chi tiết mà đứa trẻ đã bịa đặt. Sau đó, khoảng một tháng trước khi phiên tòa xét xử bắt đầu, cuốn băng video làm bằng chứng đã được khôi phục lại. Các công tố viên gọi tôi đến văn phòng của họ để cho tôi xem một đoạn video mà kẻ ngốc nghếch đó đã dựng lên toàn bộ câu chuyện, chính xác những gì mà đứa trẻ đó đã khai. Khi tôi đưa đoạn video đó cho khách hàng của mình, anh ta đã khóc như mưa, nấc lên như một đứa trẻ, không phải vì anh ta đã cưỡng bức đứa trẻ đó và bị bắt, mà bởi vì anh ta đã thề đó không phải là anh ta. Công tố viên đã phát hiện ra một kẻ chết giẫm trong đoạn video, khuôn mặt hắn, giọng nói của hắn, những hình xăm của hắn, vậy mà hắn muốn tôi tin rằng đó là một người trông giống hắn ta.”
“Vì vậy mà ông giả định rằng những khách hàng của ông, những người bị buộc tội hiếp dâm trẻ em đang nói dối?”
“Không, không phải tất cả.”
“Liệu ông có cho rằng Carl đã nói dối?”
Collins dừng lại để suy nghĩ về câu hỏi của tôi. “Đầu tiên tôi đã muốn tin tưởng Iverson. Tôi cho rằng khi đó, tôi không có nhiều kinh nghiệm như bây giờ. Nhưng những bằng chứng đã nói rằng ông ta giết cô bé đó. Ban bồi thẩm đã thấy được điều đó, và đó là lý do tại sao Iverson phải vào tù.”
“Liệu những gì họ nói về những kẻ lạm dụng tình dục trẻ em khi ở trong tù là sự thực?” Tôi hỏi. “Rằng họ đập phá và làm loạn mọi thứ?”
Collins mím môi và gật đầu. “Đúng, đó là sự thật. Nhà tù có chuỗi phân cấp của riêng mình. Khách hàng phạm tội lái xe trong tình trạng say rượu của tôi sẽ hỏi rằng “Vì sao lại bắt giữ tôi? Tôi chẳng ăn cướp cái gì của ai cả”. Những kẻ trộm cắp thì nói rằng “Tôi chẳng hề giết ai cả.” Những gã như Iverson chẳng còn lại cái cớ nào để biện minh cho mình. Không ai xấu xa hơn họ, và điều đó đã đặt họ vào chốn đường cùng. Để làm mọi thứ trở nên tồi tệ hơn, ông ta đã chôn vùi quãng thời gian còn lại của mình tại nhà tù Stillwater. Đó có lẽ là nơi xứng đáng với những kẻ như ông ta.”
Tôi đã bỏ cuộc trong việc cố gắng tìm được một tư thế ngồi thoải mái trên chiếc ghế bị hỏng lò xo, và nhận ra rằng chiếc ghế này có lẽ đã được thiết kế đặc biệt dành cho những vị khách như tôi - một cách khéo léo để rút ngắn quãng thời gian ghé thăm. Tôi đứng dậy và xoa bóp hai bên đùi. Collins cũng đứng dậy đi quanh bàn. Ông ấy nhặt hai tập hồ sơ ra khỏi chiếc hộp đựng rồi đưa chúng cho tôi. Một tập hồ sơ được gắn mác lựa chọn của bồi thẩm đoàn, tập còn lại gắn nhãn tuyên án. “Cậu có thể mang chúng đi,” ông ấy nói. “Tôi nghĩ tôi cũng có thể đưa cho cậu bản tường trình của buổi xử án.”
“Bản tường trình ngày xử án ư?”
“Đúng, các trường hợp giết người cấp độ 1 có một sức hấp dẫn tự nhiên. Các phóng viên tòa án luôn chuẩn bị một bản tường thuật của phiên xét xử, tất cả mọi điều được nói ra, từng câu, từng chữ. Họ sẽ có những bản sao của biên bản này tại tòa án tối cao, vì vậy cậu có thể giữ bản sao của chúng tôi ngay bây giờ.” Collins bước tới chỗ chiếc hộp tài liệu, lấy ra sáu tập tài liệu, và xếp chúng lần lượt vào tay tôi, tạo nên một chồng tài liệu dày đến hơn ba mươi xen-ti-mét. “Những thứ này chắc hẳn sẽ làm cậu rất bận rộn.”
Tôi nhìn vào chồng tài liệu và hồ sơ trong tay mình, cảm thấy sức nặng của nó, trong khi Collins dẫn tôi ra ngoài. Tôi quay người lại nơi cánh cửa. “Cháu sẽ tìm thấy gì trong đống tài liệu này?” Tôi hỏi. Collins thở dài, xoa xoa cằm mình một lần nữa, và nhún vai. “Có lẽ chẳng có gì hơn những điều mà cậu đã biết cả.”