Cuộc Sống Tự Chôn Vùi

Lượt đọc: 216 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 31

❊ ❊ ❊

Carl đã không mong đợi chuyến thăm của tôi vào ngày hôm đó. Sau cuộc gặp với thám tử Rupert, tôi đã đưa Lila về khu học xá và lái thẳng xe tới Hillview để thông báo với Carl tin tốt này. Tôi đã nghĩ rằng sẽ gặp ông ấy đang ngồi trên chiếc xe lăn cạnh cửa sổ, nhưng ông ấy không có ở đó. Ông ấy đã không ra khỏi giường cả ngày hôm nay, bởi vì ông ấy không còn đủ sức để làm được việc đó. Các triệu chứng của bệnh ung thư đã chuyển biến xấu đi đến mức ông ấy phải thở bằng bình oxy và phải truyền dinh dưỡng qua đường máu.

Bà Lorngren ban đầu rất miễn cưỡng để cho tôi gặp Carl, nhưng bà ấy mủi lòng sau khi tôi nói với bà ấy về bước đột phá của chúng tôi. Tôi thậm chí đã cho bà ấy xem những dòng nhật ký viết bằng mật mã và các bản ghi chép nội dung giải mã. Khi tôi giải thích sự vô tội của Carl với bà ấy, bà ấy bắt đầu cảm thấy buồn rầu. “Tôi e rằng mình không phải là một con chiên tốt của Chúa,” bà ấy nói.

Bà ấy đã để Janet qua chỗ Carl để xem ông ấy có muốn gặp tôi hay không. Một phút sau, họ chỉ tôi đến cửa căn phòng Carl đang nằm. Căn phòng của ông ấy bao gồm một chiếc giường, một chiếc bàn, một chiếc ghế gỗ, một tủ quần áo tích hợp, và có một cửa sổ duy nhất không có tầm nhìn. Hầu hết các bức tường trong phòng khoác lên mình một màu rêu cằn cỗi, và không có bất kỳ một hình ảnh trang trí nào ngoài một bảng hướng dẫn giữ gìn vệ sinh. Carl đang nằm trên giường, một ống thở bằng nhựa thông vào hai bên mũi và một ống truyền được cố định trên cánh tay.

“Cháu xin lỗi vì phải làm phiền ông trong khi ông mệt như thế này,” tôi nói, “nhưng cháu tìm ra một ẩn số mà cháu nghĩ ông nên biết.”

“Joe,” ông ấy nói. “Thật là tốt khi được gặp cậu. Tôi đã nghĩ trời sẽ có tuyết vào hôm nay?”

“Cháu không nghĩ vậy,” tôi nói, nhìn trộm ra ngoài cửa sổ, hướng lên những nhánh cây đã chết của bụi tử đinh hương nhếch nhác đang chắn ngang cửa sổ phòng ông ấy. “Hôm nay, cháu đã đi gặp một thám tử.”

“Tôi đã ước trời có tuyết,” ông ấy nói. “Một điều tuyệt vời nhất trước khi tôi chết.”

“Cháu biết ai đã giết Crystal Hagen,” tôi nói.

Carl ngừng nói và nhìn vào tôi như thể ông ấy đang cố gắng thay đổi dòng suy nghĩ của mình. “Tôi không hiểu,” ông ấy nói.

“Ông còn nhớ cuốn nhật ký mà một công tố viên đã sử dụng để kết tội ông chứ?”

“À, có,” ông ấy trả lời, với một nụ cười buồn. “Cuốn nhật ký. Tôi luôn luôn nghĩ rằng cô bé ấy là một cô bé rất ngọt ngào, luôn luôn luyện tập những động tác cổ vũ ở sân sau, và tất cả những lần đó, cô bé đều nghĩ tôi là một kẻ hư hỏng - một kẻ quấy rối trẻ em. Ừm, tôi nhớ cuốn nhật ký đó.”

“Ông có nhớ những dòng có chữ số không? Những mật mã? Cháu đã tìm ra nó - ừm - chúng cháu đã giải mã nó - chính em trai cháu, cháu và một cô bạn tên là Lila.”

“Ồ, thật vậy sao?” Carl mỉm cười. “Chẳng phải cậu rất thông minh sao? Và cuốn nhật ký ấy đã nói gì?” “Tất cả những điều mà cô ấy nói, về việc bị ép buộc phải quan hệ tình dục và bị đe dọa, cô ấy đã không hề nói một chút gì về ông. Cô ấy đã nói về một người tên là DJ.”

“DJ?” Ông ấy lên tiếng.

“Douglas Joseph… Lockwood,” tôi nói. “Cô ấy đã nói về cha dượng của mình, chứ không phải là ông.”

“Cha dượng cô bé ấy ư? Thật là một cô bé tội nghiệp.”

“Nếu cháu có thể thuyết phục cảnh sát mở lại vụ án, cháu sẽ có thể giải oan cho ông,” tôi nói. “Và nếu họ không nhìn vào những gì đã thực sự xảy ra - thì cháu sẽ tự làm.”

Carl thở dài, dựa đầu mình chìm sâu hơn vào chiếc gối, và hướng sự chú ý của mình trở lại phía cửa sổ nhỏ và bụi tử đinh hương đã chết. “Đừng làm vậy,” ông ấy nói. “Tôi không muốn cậu mạo hiểm bất cứ điều gì trên danh nghĩa của tôi. Bên cạnh đó, tôi luôn biết mình đã không giết cô bé đó. Và giờ thì cậu cũng đã biết. Thế là quá đủ đối với tôi.”

Phản ứng của ông ấy khiến tôi mất cảnh giác. Tôi không thể tin rằng ông ấy có thể bình tĩnh đến như vậy. Tôi đã gào thét và nhảy múa trong bộ đồ ngủ của mình. “Ông không muốn mọi người biết rằng ông đã không hề sát hại cô bé ấy sao?” Tôi nói. “Giải oan? Để tất cả mọi người biết rằng công tố viên đã sai trong việc đưa ông vào tù?”

Ông ấy nở một nụ cười ấm áp. “Cậu có nhớ tôi đã nói với cậu rằng cuộc sống của tôi chỉ còn có thể đếm bằng giờ không?” Ông ấy nói. “Còn lại bao nhiêu giờ nữa mà tôi lại lo lắng về những chuyện đã xảy ra cách đây ba mươi năm?”

“Nhưng ông đã dành tất cả thời gian của mình chỉ để ở trong tù vì một tội ác mà ông đã không hề làm,” tôi nói. “Đó chỉ là một sai lầm.”

Carl quay sang tôi, chiếc lưỡi nhợt nhạt của ông ấy đang liếm đôi môi nứt nẻ của mình, đôi mắt của ông ấy đặt cả vào tôi. “Tôi không thấy hối tiếc vì bị bắt, và bị tống vào tù. Nếu họ không bắt giữ tôi vào đêm hôm đó, có lẽ tôi đã không ở đây hôm nay.”

“Ý ông là gì?” Tôi hỏi.

“Cậu biết khẩu súng mà tôi đã mua vào cái ngày Crystal bị giết. Tôi đã mua nó là để sử dụng cho mình, không phải để cho cô bé tội nghiệp kia.”

“Cho ông ư?”

Giọng nói của ông ấy trở nên yếu ớt, và ông ấy hắng giọng trước khi tiếp tục.

“Tôi không có ý định tự vẫn vào đêm đó. Đó chỉ là một tai nạn. Tôi đã đặt súng lên cổ họng mình hai hoặc ba lần, nhưng tôi không có đủ can đảm để bóp cò. Tôi lấy một chai rượu whisky ra khỏi tủ rượu. Tôi định uống một chút trước khi tự kết liễu đời mình - chỉ là một vài ngụm nhỏ để làm tăng thêm lòng dũng cảm. Nhưng tôi lại uống quá nhiều. Tôi nghĩ tôi cần nhiều sự can đảm hơn là mình nghĩ. Và tôi đã ngất đi. Khi tỉnh dậy, hai viên cảnh sát to lớn đang kéo tôi ra khỏi nhà. Tôi đã có thể hoàn thành ý định của mình nếu họ không bắt tôi.”

“Ông đã không tự giết mình khi còn ở Việt Nam bởi vì ông không muốn phải xuống địa ngục. Ông còn nhớ chứ?”

“Ngay khi tôi mua khẩu súng đó, Chúa trời và tôi đã không còn có chung tiếng nói. Tôi đã sẵn sàng xuống địa ngục. Tôi chẳng còn quan tâm đến điều đó nữa. Nó chẳng có vấn đề gì. Tôi không thể sống với những điều mình đã làm. Tôi không thể sống với chính bản thân mình thêm một ngày nào nữa.”

“Tất cả chỉ vì ông không thể cứu được người con gái kia ở Việt Nam?”

Carl không nhìn vào tôi. Tôi có thể nhìn thấy hơi thở của ông ấy đang thoi thóp trong lồng ngực. Ông ấy lại liếm một môi lần nữa với chiếc lưỡi khô khốc, dừng lại để sắp xếp lại suy nghĩ trong đầu, rồi nói. “Đó không phải là tất cả. Đó là khi mọi thứ bắt đầu, đúng vậy, nhưng nó không phải là phần kết thúc của câu chuyện.” Tôi không nói gì. Tôi nhìn ông ấy trong im lặng, chờ đợi một lời giải thích. Ông ấy yêu cầu tôi rót cho mình một chút nước, và tôi đã làm theo. Ông ấy nhấp một chút để thấm ướt môi.

“Tôi sẽ kể cho cậu một vài chuyện,” ông ấy nói bằng một giọng nói mềm yếu và đều đều. “Một vài chuyện mà tôi chưa bao giờ kể cho bất cứ ai. Tôi đã nói là tôi sẽ không giữ lại bất cứ điều gì.” Ông ấy chỉnh lại tư thế trên chiếc gối, đôi mắt nhìn chằm chằm lên trần nhà. Tôi nhìn như thể nỗi đau của những ký ức nhàu nhĩ và khủng khiếp đang đi qua khuôn mặt ông ấy. Một phần trong tôi muốn cứu ông ấy khỏi nỗi đau đó - nói với ông ấy rằng ông ấy có thể giữ lại bí mật này cho mình - nhưng tôi lại không thể. Tôi muốn được nghe. Và tôi cần được nghe.

Ông ấy lấy hết sức mạnh còn lại và tiếp tục. “Sau trận chiến đó, cả hai chúng tôi, Virgil và tôi đều bị thương, họ đưa Virgil về nhà, còn tôi đã có một tháng chữa trị và hồi phục tại Đà Nẵng trước khi được trả về với đơn vị. Việt Nam có vẻ ổn đối với tôi khi có Virgil và Tater bên cạnh, nhưng khi không có họ… ừm, tôi không nghĩ mình có bất cứ từ nào có thể miêu tả sự thảm hại của mình khi đó. Và rồi, chỉ khi tôi nghĩ tình hình không thể tồi tệ hơn được nữa, thì nó lại xảy ra.”

Đôi mắt ông ấy mất đi sự tập trung khi một lần nữa, tâm trí ông ấy trở lại với những ngày ở Việt Nam. “Chúng ta đang trong chiến dịch tìm và diệt vào tháng 7 năm 1968, phá tung một vài ngôi làng nhỏ không tên, tìm kiếm thức ăn và đạn dược, loại thông thường. Đó là một ngày nóng rẫy, nóng đến mức một người đàn ông cũng không thể chịu đựng nổi, với những con muỗi to như những con chuồn chuồn, có thể hút khô máu bất cứ ai. Trong điều kiện đó, cậu sẽ tự hỏi tại sao người ta lại có thể sống tại một nơi hoang vắng đến như vậy, hoặc tại sao có những người lại chiến đấu vì nó. Trong khi chúng ta đang lật tung khu làng này, tôi trông thấy một cô gái chạy xuống một con đường mòn và núp vào một túp lều, rồi tôi thấy Gibbs đã nhìn thấy và đi theo cô ấy, một mình hướng thẳng về phía cô gái đó. Và chuyện lại diễn ra tương tự như ở Oxbow.”

Đôi môi Carl run lên khi nhấp thêm một ngụm nước khác trước khi tiếp tục. “Tại thời điểm đó, cuộc chiến tranh xung quanh tôi dường như biến mất. Tất cả những chuyện tào lao, tiếng la hét, sức nóng, và tất cả những điều phải trái của nó - đều tan chảy, để lại riêng mình tôi và Gibbs. Điều duy nhất mà tôi quan tâm là làm thế nào để ngăn Gibbs lại. Tôi không thể để chuyện như ở Oxbow xảy ra thêm một lần nữa. Tôi tiến đến căn lều, Gibbs đã tụt quần xuống. Ông ta đã đánh cô gái đó chảy máu và đã kề con dao vào cổ họng cô ấy. Tôi chĩa súng vào ông ta, ngay giữa trán. Ông ta nhìn vào tôi, nhổ nước bọt lên giày tôi, và nói rằng sẽ xử lý tôi trong vài giây nữa. Tôi đã nói ông ta dừng lại, nhưng ông ta không làm theo. “Bắn đi, thằng hèn”, hắn nói với tôi như vậy. “Bắn tao đi, và họ sẽ lôi mày ra để xử tử.”

“Hắn ta đã đúng. Tôi đã sẵn sàng để chết ở Việt Nam - chắc chắn là như vậy - nhưng không phải theo cách đó. Khi tôi hạ súng xuống, Gibbs cười vào mặt tôi, thế đó, cho đến khi hắn ta nhìn thấy tôi rút con dao của mình ra. Đôi mắt hắn mở to như hai quả trứng gà khi tôi đâm hắn, vào chính giữa tim, tôi đã nhìn hắn chảy máu cho đến chết trong tay tôi. Hắn trông rất ngạc nhiên, vì không tin vào mắt mình.”

Giọng nói của Carl đều đều, nhẹ bẫng và bình tĩnh như một chiếc máy bay đang tránh ra khỏi cơn bão. “Cậu thấy đấy, Joe, tôi đã giết trung sĩ Gibbs. Giết hắn trong máu lạnh.”

Tôi không biết phải nói gì. Carl ngừng lại. Ông ấy đã đi đến cuối câu chuyện của mình. Ông ấy đã nói với tôi toàn bộ sự thật. Sự im lặng đã chèn ép và đè nặng lên ngực tôi cho đến khi tôi nghĩ rằng trái tim của mình có lẽ đã ngừng đập, nhưng tôi chờ Carl tiếp tục.

“Tôi đã giúp cô gái đó mặc đồ trở lại, đẩy cô ấy ra khỏi cửa, và nói cô ấy phải chạy - phải “di di mau” - trốn vào trong rừng. Rồi sau đó, tôi chờ đợi trong giây lát và bắn một vài phát vào không trung để đánh động những người lính khác. Tôi đã nói với họ rằng tôi nhìn thấy một ai đó chạy về phía rừng.” Ông ấy lại ngừng lại và nhìn vào tôi. “Và, cậu thấy đấy Joe, sau tất cả, tôi đã giết người.”

“Nhưng ông đã cứu cô gái kia,” tôi nói.

“Tôi không có quyền cướp đi cuộc sống của Gibbs,” Carl nói. “Hắn ta còn một người vợ và hai đứa con nhỏ đang chờ đợi ở nhà, và tôi đã sát hại hắn. Tôi đã giết nhiều người Việt Nam… Tôi đã sát hại Gibbs, và cũng như việc tôi đã nhắc đến, tôi đã sát hại cô gái kia. Khi họ bắt giữ tôi vì tội giết Crystal Hagen… Chà, tôi nghĩ một phần trong tôi cho rằng đó là khoảng thời gian tôi phải trả món nợ của mình. Trước khi vào tù, tôi thường mơ thấy những ngón tay của cô ấy đang vươn ra, van xin tôi đến bên để cứu cô ấy. Dù tôi có uống bao nhiêu rượu đi chăng nữa, tôi cũng không thể quên được ký ức đó.” Carl nhắm mắt lại và lắc đầu khi nhớ lại. “Chúa ơi, tôi đã uống nhiều như thế nào. Tôi chỉ muốn những nỗi đau đó có thể dừng lại.”

Tôi có thể thấy sức lực đang cạn dần trên khuôn mặt của ông ấy khi ông ấy nói, những lời nói của ông ấy thả ra từ đôi môi khô khốc của mình. Ông ấy nhấp thêm một ngụm nước nữa và chờ đợi cho đến khi hơi thở ngừng run rẩy. “Tôi nghĩ rằng, bằng cách vào tù, tôi mới có thể làm dịu đi sự xấu xa trong tôi - chôn vùi phần đời đó của mình, những điều tôi đã làm ở Việt Nam. Nhưng rồi cho đến cuối cùng, chẳng có cái hố nào đủ sâu cả.” Ông ấy nhìn tôi. “Dù cậu có cố đến đâu, vẫn có những thứ cậu không thể chạy trốn khỏi nó.”

Một điều gì đó trong đôi mắt ông ấy nói với tôi rằng ông ấy có thể nhìn thấy gánh nặng tội lỗi của chính tôi. Tôi xoay người một cách không thoải mái trong chiếc ghế đang ngồi trong khi sự im lặng của Carl vây lấy tôi. Rồi Carl nhắm mắt lại, bụng quặn thắt, và nhăn mặt đau đớn. “Chúa ơi, căn bệnh ung thư quái ác này có thể làm tổn thương người ta một cách khốn nạn.”

“Ông có muốn cháu gọi ai đó không?” Tôi hỏi.

“Không,” ông ấy rên lên qua hàm răng nghiến chặt. “Nó qua rồi.”

Carl nắm chặt tay lại, gồng mình nằm im cho đến khi hơi thở trở nên đều đặn hơn, với một nhịp điệu rất nông. “Cậu có muốn biết chi tiết sự việc thực ra là như thế nào không?” Ông ấy hỏi.

“Chắc chắn rồi ạ.” Tôi nói.

“Sau quãng thời gian tôi chờ đợi để được chết, cố gắng để chết, nhà tù đã làm cho tôi có cảm giác muốn được sống.”

“Ông thích ở tù sao?” Tôi hỏi.

“Tất nhiên là không,” ông ấy cười khùng khục trong cơn đau. “Không ai thích nhà tù hết. Nhưng tôi bắt đầu đọc, suy nghĩ, và cố gắng hiểu được chính mình và cuộc đời mình. Rồi đến một ngày, tôi đang nằm trên giường, suy nghĩ về câu nói của Pascal.”

“Câu nói của Pascal ư?”

“Đó là một nhà triết gia có tên là Blaise Pascal nói rằng, nếu bạn có một lựa chọn là tin hay không tin vào Chúa, thì việc bạn đặt niềm tin vào đó sẽ là một canh bạc lớn. Bởi vì nếu bạn tin vào Chúa và bạn phạm sai lầm - chà, chẳng có gì xảy ra cả. Bạn chỉ chết và biến vào hư vô của vũ trụ. Nhưng nếu bạn không tin vào Chúa, và bạn mắc sai lầm, rồi sau đó, bạn phải xuống địa ngục mãi mãi, ít nhất là một số người đã nghĩ vậy.”

“Đó không phải là một lý do để đi theo tôn giáo,” tôi nói.

“Không phải một chút nào,” ông ấy nói. “Tôi đã bị bao vây bởi hàng trăm người cũng đang chờ đợi ngày cuối cùng của cuộc đời mình, chờ đợi cho một điều gì đó có lẽ tốt đẹp hơn sẽ đến với họ sau cái chết. Tôi cũng cảm thấy y như vậy. Tôi muốn tin rằng có một điều gì đó tốt đẹp hơn đang chờ đợi mình ở thế giới bên kia. Tôi đã giết thời gian khi ở trong tù, chờ đợi ngày đó đến. Và đó là khi triết lý của Pascal nảy ra trong đầu tôi, nhưng chỉ với một thay đổi nho nhỏ trong suy nghĩ của tôi. Vậy sẽ ra sao nếu tôi đã nghĩ sai? Sẽ ra sao nếu chẳng có gì khi ở thế giới bên kia? Sẽ ra sao, nếu như trong tất cả các kiếp của cõi đời này, đây là thời gian duy nhất mà tôi còn có thể tồn tại. Tôi sẽ sống thế nào nếu vụ án kia vẫn còn đó? Có hiểu ý tôi không? Sẽ ra sao nếu đây là tất cả những gì mà cuộc sống đang có?” “Vâng, cháu đoán sẽ có rất nhiều linh mục đã qua đời phải thất vọng,” tôi nói.

Carl cười khùng khục. “Ừm, có lẽ là có điều đó,” ông ấy nói. “Nhưng điều này không có nghĩa đây chính là thiên đường của chúng ta. Những điều kỳ diệu của cuộc sống luôn vây quanh chúng ta mỗi ngày, những điều tuyệt diệu mà có những lúc ta không thể hiểu được, và chúng ta chỉ đơn giản là coi nó như một món quà. Tôi đã quyết định rằng ngày đó, cái ngày mà tôi sẽ sống cuộc sống của chính mình - chỉ đơn giản là không tồn tại. Nếu tôi chết và khám phá ra thiên đường đang tồn tại ở thế giới bên kia, chà, đó sẽ là một nơi rất tốt và tuyệt vời. Nhưng nếu tôi không sống cuộc sống của tôi như thể tôi đã ở trên thiên đường, rồi tôi chết đi và nhận thấy rằng thế giới bên kia là một điều không tưởng, chà… tôi chắc hẳn đã bỏ phí cuộc đời của mình. Tôi có lẽ đã bỏ phí một cơ hội của mình trong toàn bộ ký ức này để được sống.”

Carl im lặng, đôi mắt ông ấy đang dán chặt vào một chú chim bạc má đang nhảy nhót trên một nhánh thường xuân bên ngoài. Chúng tôi nhìn ngắm chú chim kia trong vài phút cho đến khi nó cất cánh bay, mang sự tập trung của Carl trở lại với tôi. “Tôi xin lỗi,” Carl nói. “Tôi có xu hướng suy nghĩ theo triết học mỗi khi nghĩ về quá khứ.”

Ông ấy giữ chặt lấy bụng mình một lần nữa, một tiếng thét đau đớn thoát ra khỏi đôi môi ông ấy. Ông ấy nhắm nghiền mắt lại, và nghiến chặt răng. Cơn đau thay vì trôi qua, lại ngày một nặng thêm. Ông ấy đã vượt qua được cơn đau khi nãy, nhưng tôi chưa bao giờ thấy cơn đau nào tồi tệ như thế này. Tôi chờ đợi trong vài giây, hy vọng cơn đau ấy sẽ mau qua, khuôn mặt ông ấy nhăn nhó, lỗ mũi nở to như cố gắng giành giật lấy từng hơi thở. Liệu cơn đau này sẽ kết thúc như thế nào? Ông ấy liệu có chết không? Tôi chạy ra ngoài sảnh, gọi y tá. Cô ấy chạy xộc vào phòng, cầm trên tay một mũi tiêm. Cô ấy làm sạch các mạch máu trên tay Carl rồi tiêm cho ông ấy một mũi morphine, và trong vài giây, những lớp cơ trên cơ thể ông ấy bắt đầu dãn ra, hàm răng cũng thả lỏng dần, đầu vùi sâu lại vào gối. Ông ấy là một đứa trẻ bơ vơ, một người đàn ông đơn thuần, đã hoàn toàn cạn kiệt. Ông ấy thoi thóp với cuộc sống. Ông ấy cố gắng để tỉnh táo, nhưng không thể.

Tôi trông nom ông ấy cho đến khi ông ấy chìm vào giấc ngủ, và tôi cũng tự hỏi liệu còn bao nhiêu ngày nữa ông ấy còn tồn tại với cuộc sống này, còn bao nhiêu giờ nữa. Tôi băn khoăn liệu còn có bao nhiêu thời gian còn lại nữa để tôi có thể làm những gì cần phải làm.

Dịch thuật: Trịnh Thúy Ngân
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 27 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.