Cuộc Sống Tự Chôn Vùi

Lượt đọc: 201 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 3

❊ ❊ ❊

Trên đường quay lại thành phố Twin, tôi dõi theo ánh mắt đầy lo âu và trăn trở của em trai mình, đôi lông mày và cái trán của thằng bé hết nhíu lại rồi lại trở nên có vẻ thư giãn khi nó bắt đầu trải nghiệm những gì đang lần lượt diễn ra. Khi đằng sau sự cố gắng của tôi là những nụ cười, Jeremy đã dần dần cảm thấy thoải mái hơn với cuộc phiêu lưu của chúng tôi, và cuối cùng, thằng bé đã trút ra được những hơi thở của sự thư giãn, cái cách mà tôi vẫn thường thấy những chú chó thể hiện khi chúng đầu hàng với sự cảnh giác để chìm vào giấc ngủ. Jeremy - cậu bé vẫn hay dựa đầu mình vào đầu giường, cùng dùng chung một chiếc giường với tôi, cùng dùng chung phòng với tôi, cả tủ quần áo và cả tủ ngăn kéo cùng tôi trong mười tám năm ròng, và giờ đây, một lần nữa, nó lại ở cùng với tôi. Chúng tôi chưa bao giờ rời nhau quá một hoặc hai đêm cho đến khoảng một tháng trước, khi tôi chuyển đến ở trong ký túc xá của trường, để lại thằng bé với một người phụ nữ đang vật lộn trong mớ hỗn độn của đời mình.

Đó là một ký ức xa xưa nhất tôi có thể nhớ, ngày đó, mẹ tôi đã để cho trạng thái hoang dã làm chủ ý chí của mình, bà đã nhảy múa, cười nói, chạy khắp căn phòng khách trong vòng một phút, rồi tiếp đó là vứt tứ tung bát đĩa khắp nơi trong phòng bếp - một biểu hiện rối loạn lưỡng cực[1] mà tôi có thể hiểu vào lúc bấy giờ. Tất nhiên, sự chuẩn đoán đó không bao giờ được mẹ thừa nhận bởi mẹ tôi luôn từ chối sự giúp đỡ chuyên nghiệp từ các bác sĩ. Thay vào đó, bà tiếp tục sống cuộc sống của mình mà không thèm màng tới lời khuyên của bất cứ ai, như thể sự thật đó không hề tồn tại nếu những từ đó không được hét thật to vào tai bà. Như một cách đổ thêm dầu vào lửa, và cũng như một hình thức tự chữa bệnh để dập tắt những tiếng gào hét bên trong nhưng ngược lại là sự khuếch đại của những việc làm điên rồ - mẹ tôi đã chọn cách uống rượu, ngày một nhiều hơn, và bạn có thể tưởng tượng ra một bức tranh về người mẹ đã sinh ra tôi, một cách toàn diện.

Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là mẹ tôi luôn luôn có suy nghĩ tồi tệ như vậy. Trong những năm đầu tiên, mẹ tôi kiên quyết không để những người hàng xóm và trung tâm Bảo trợ trẻ em động đến hai anh em tôi. Chúng tôi thậm chí đã có những quãng thời gian tuyệt đẹp. Tôi còn nhớ cả ba chúng tôi đã cùng đi đến Bảo tàng Khoa học, lễ hội Renaissance[2], và khu giải trí Valley Fair. Tôi cũng nhớ mẹ đã giúp tôi làm bài tập toán về nhà, khi tôi phải xoay xở với những phép tính nhân số có hai chữ số. Đôi khi tôi còn tìm thấy những vết rạn nứt đang lớn dần lên giữa hai chúng tôi và còn nhớ đến nụ cười của mẹ và thậm chí là cả tình yêu bà dành cho chúng tôi. Khi tôi cố gắng, tôi cũng có thể nhớ về một người mẹ đã sưởi ấm và ve vuốt cho những tháng ngày tươi đẹp ấy, trước khi cả thế giới bị bỏ quên sau lưng bà.

Tất cả những điều tuyệt vời đó đã hoàn toàn thay đổi khi ông ngoại Bill của tôi qua đời. Một cảm giác bồn chồn, hoang mang tột độ đã đổ ụp xuống bộ ba bé nhỏ chúng tôi ngày đó, như thể cái chết của ông đặt một dấu chấm hết, cắt đứt sợi dây ràng buộc cho sự ổn định của mẹ. Sau khi ông ra đi, bà bỏ qua tất cả những sự kiềm chế hiếm hoi mà mình có được và buông xuôi bản thân cho những làn sóng của cảm xúc và tâm trạng. Mẹ tôi khóc nhiều hơn, la hét nhiều hơn, và đả kích bất cứ khi nào bà thấy vướng mắt và choáng ngợp. Mẹ có vẻ như quyết tâm tìm đến những góc tối hơn của cuộc đời mình và ôm khư khư lấy chúng như một điều mới mẻ.

Đánh đập là nguyên tắc thay đổi đầu tiên của mẹ. Hành vi này bắt đầu một cách từ từ, nhưng cuối cùng, mẹ đã tát tôi một cái trời giáng giữa mặt bất cứ khi nào bà cảm thấy sôi máu. Mặc dù vậy, tôi cũng đã đủ lớn và trở nên ít nhạy cảm hơn với những cái tát, vì vậy, bà tự điều chỉnh mục đích của mình và bắt đầu tát vào tai tôi. Tôi rất ghét điều đó. Đôi khi, bà sẽ sử dụng một số vật như thìa gỗ hoặc vỉ đập ruồi như một cách thể hiện quan điểm của mình. Một lần, khi đang học lớp bảy, tôi đã bỏ lỡ một cuộc thi đấu vật chỉ vì những vết đòn roi trên hai đùi tôi hiện rõ khi tôi mặc bộ đồ thi đấu, và mẹ đã buộc tôi phải ở nhà. Trong nhiều năm qua, mẹ đã để Jeremy ra khỏi cuộc chiến giữa tôi và bà, và muốn đổ toàn bộ nỗi thất vọng của bà lên đầu tôi. Nhưng khi thời gian trôi qua, bà bắt đầu mất kiểm soát với thằng bé, và cũng bắt đầu chửi rủa, la hét với Jeremy như đối với tôi.

Rồi một ngày, mọi chuyện đã đi quá xa.

Khi tôi mười tám tuổi và tốt nghiệp trung học, tôi trở về nhà và nhìn thấy mẹ tôi đang say xỉn, rồi giận dữ và đánh vào đầu Jeremy với một chiếc giày tennis. Tôi đẩy bà vào phòng ngủ rồi ném bà lên giường. Bà ngồi dậy và cố gắng đánh lại tôi. Tôi nắm lấy cổ tay bà, trói lại và đẩy bà trở lại giường. Bà cố xông vào tôi thêm vài lần nữa và đầu hàng bằng việc úp mặt xuống tấm nệm giường. Sau những nỗ lực cuối cùng, bà dừng lại, thở hổn hển và bất lực. Sáng hôm sau, bà cư xử như chưa hề có chuyện gì xảy ra, giống như việc bà không có bất kỳ một ký ức nào về sự điên rồ của mình, và cũng giống như gia đình nhỏ bé của chúng tôi đã không ở cái bờ vực của sự sụp đổ không thể tránh khỏi của nó. Tôi đã cố giả đò như vậy, nhưng tôi biết - tôi biết rằng bà đã chạm đến giới hạn, giới hạn mà bà có thể biện minh cho việc đánh Jeremy. Tôi cũng biết điều này, một khi tôi rời khỏi nhà và tới sống trong trường đại học, tình trạng này thậm chí còn trở nên tồi tệ hơn. Những suy nghĩ ấy đã bóp nghẹt lấy lồng ngực tôi. Và vì vậy, cũng giống như việc mẹ tôi giả vờ như không hề có chuyện gì xảy ra sau khi bà ỉm chuyện này đi, tôi cũng đã chôn vùi những suy nghĩ của mình vào trong, giấu chúng tại nơi mà chúng sẽ không bao giờ bị lãng quên.

Nhưng khi chúng tôi đi thẳng về phía căn hộ tôi đang ở vào cái đêm đó, mọi chuyện vẫn rất ổn. Jeremy và tôi nghe trận đấu Twins trong khi lái xe - chí ít là tôi được dõi theo trận đấu đó qua đài phát thanh.

Jeremy cũng dõi theo trận đấu nhưng không thể theo kịp từ phút đầu tiên. Tôi nói chuyện với thằng bé, giải thích mọi thứ về trận đấu trong khi chúng tôi vẫn tiếp tục lái xe, nhưng nó hiếm khi phản ứng lại với những điều tôi nói. Khi thằng bé bắt đầu đáp lại, nó nhảy bổ vào cuộc nói chuyện như thể vừa mới bước vào từ một căn phòng khác. Ngay khi chúng tôi chuyển hướng sang đường I-35, gần khuôn viên trường nơi tôi sống, đội Twins đã đánh bại hoàn toàn Cleveland bằng việc ghi bàn trong bốn lần chạy vòng cung số 8 để dẫn trước với tỉ số 6-4. Tôi ồ lên với mỗi lần chạy ghi bàn của đội bóng yêu thích và Jeremy bật cười trước sự phấn khích của tôi.

Khi đến nơi, tôi dẫn Jeremy theo những bậc cầu thang dẫn lên căn phòng tôi đang ở trên tầng hai, trong khi thằng bé vẫn giữ chiếc túi của mình trong tay. Chúng tôi chạm tới cửa phòng thì vừa kịp bật chiếc tivi và được thưởng thức quả ghi bàn cuối cùng của đội Twins trước khi trận đấu kết thúc. Tôi giơ tay lên high- five với Jeremy để ăn mừng, nhưng thằng bé đang xoay vòng vòng trong một xó giữa căn hộ tôi ở.

Khu bếp và phòng khách nằm ở hai phía đối diện nhau trên cùng một không gian duy nhất; phòng ngủ của tôi không lớn hơn chiếc giường đôi được đặt ở giữa phòng là mấy; và căn hộ tôi ở không có phòng tắm; chí ít là nó không nằm trong phạm vi những bức tường của căn phòng. Tôi đã trông thấy Jeremy đảo mắt tìm quanh căn hộ của mình, mắt nó dáo dác, tìm đi tìm lại trong căn phòng, như thể ở một nơi nào đó trong căn phòng sẽ hiện lên một cánh cửa phòng tắm bí mật.

“Có lẽ em cần dùng phòng tắm”, Jeremy nói. “Lại đây nào,” tôi trả lời, và ra hiệu cho Jeremy. “Anh sẽ chỉ cho em.”

Phòng tắm của tôi nằm phía bên kia hành lang, đối diện cửa trước. Ngôi nhà cũ ban đầu được xây dựng từ những năm 1920 cho các gia đình lớn trong vòng một thể kỷ, khi tỉ lệ sinh vượt xa tỉ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh. Năm 1970, khu nhà này đã được phân chia lại thành các căn hộ gồm ba phòng ngủ ở tầng một và các căn hộ gồm hai phòng ngủ đơn ở tầng lầu, chỉ với duy nhất một căn hộ trong số đó có đủ diện tích cho một phòng tắm riêng khép kín. Vì vậy, với vị trí ở đầu lối đi của dãy cầu thang nhỏ hẹp, cánh cửa bên phải là căn hộ nơi tôi ở, còn cánh cửa bên trái là phòng tắm của tôi, cánh cửa thẳng về phía trước là một căn hộ khác cùng tầng.

Tôi lục lọi lấy ra bàn chải và kem đánh răng của Jeremy từ một trong những túi đựng rác mà thằng bé mang theo, đi dọc theo hành lang và tiến thẳng tới phòng tắm với Jeremy, đang lẽo đẽo theo sau tôi với một khoảng cách đầy thận trọng. “Đây là phòng tắm”, tôi nói. “Nếu em cần riêng tư, chỉ cần khóa cửa lại.” Tôi chỉ cho thằng bé cách lật chốt cửa.

Thằng bé đã không bước vào phòng tắm. Thay vào đó, Jeremy kiểm tra phòng tắm từ khu hành lang tương đối an toàn. “Có lẽ chúng ta nên về nhà,” thằng bé lên tiếng.

“Chúng ta không thể, em trai ạ. Mẹ đang đi họp. Em nhớ chứ?”

“Có thể bây giờ mẹ đã về rồi.”

“Bà chưa về đâu. Bà sẽ không ở nhà trong một vài ngày tới.”

“Có lẽ chúng ta nên gọi điện cho bà ấy xem sao.” Jeremy bắt đầu chà xát ngón tay cái của mình lên các đốt ngón tay một lần nữa. Tôi có thể thấy một sự chấn động nhẹ trong tâm lý của thằng bé đang ngày một phát triển vượt xa khỏi sự lo lắng bình thường của nó. Tôi muốn đặt tay tôi lên vai Jeremy để trấn an thằng bé, nhưng điều đó sẽ chỉ làm trầm trọng thêm phản ứng này. Chứng tự kỷ của Jeremy là như vậy.

Jeremy quay về phía những bậc cầu thang, toan lao xuống, và vẫn tiếp tục nhấn ngón tay cái của mình mạnh hơn vào mu bàn tay, nhào nặn chúng như với một đống bột mì. Tôi chạy đến chặn Jeremy lại.

Thằng bé cao hơn tôi hai inch và nặng hơn tôi khoảng hai mươi pounds[3]. Về khoảng thời gian thằng bé bước sang tuổi mười bốn và bắt đầu vượt tôi về mọi mặt, từ chiều cao, cân nặng và cả ngoại hình: mái tóc màu vàng óng của thằng bé gợn xoăn xoáy mái đầu thành một xoáy kiểu Bắc Âu, trong khi mái tóc vàng dính bết vì bụi của tôi chĩa ra như những cọng rơm nếu tôi không định hình chúng bằng gel; cằm thằng bé vuông vắn và nam tính, với hai lúm đồng tiền duyên dáng, trong khi cằm tôi không đáng được đề cập đến ở đây; đôi mắt màu xanh dương của thằng bé sáng long lanh mỗi khi nhoẻn miệng cười, trong khi mắt tôi lại có một màu cà phê lục nhạt lờ nhờ. Mặc dù sở hữu những lợi thế về mặt hình thể và diện mạo hơn hẳn tôi, nhưng với tôi, Jeremy vẫn là một cậu em trai bé bỏng, và do đó dễ bị ảnh hưởng từ phía tôi. Tôi đứng ngay sau thằng bé một bậc cầu thang, đôi tay tôi giữ lấy hai bắp tay em trai mình, cố xoa dịu thằng bé để chuyển sự chú ý của nó rời xa khỏi những bậc cầu thang kia và quay trở lại căn hộ của tôi.

Ngay phía sau, trên những bậc thang cuối cùng, tôi nghe tiếng cửa dẫn vào sảnh mở ra rồi đóng lại, theo sau đó là những tiếng bước chân đầy nữ tính. Tôi nhận ra đó là những âm thanh quen thuộc của cô ấy, thứ âm thanh mà tôi đã nghe mỗi khi cô ấy bước ngang qua phòng tôi mỗi ngày trong vòng cả tháng qua. Tôi chỉ biết cô ấy với mỗi cái tên L.Nash, đó là tên được viết trên miếng băng dính dán trên chiếc hòm thư. Cô ấy chỉ cao khoảng 5 feet 2, với mái tóc ngắn đen óng ôm trọn lấy khuôn mặt trông như làn nước đang nhảy nhót trên những viên đá. Cô ấy sở hữu một đôi mắt đen, chiếc mũi thiên thần, và một khuôn mặt mang vẻ lạnh lẽo vì bị bỏ lại một mình. Cô ấy và tôi đã từng lướt qua nhau rất nhiều lần trong khu sảnh hoặc trên những bậc cầu thang. Khi tôi cố gắng bắt chuyện với cô ấy, cô ấy cười một cách lịch thiệp, và đáp lại một cách khéo léo, nhưng không bao giờ dừng lại - luôn luôn cố gắng để vượt qua sự “phiền hà” của tôi mà không làm cho người khác cảm thấy thô lỗ.

Cô ấy dừng lại một chút ở lưng chừng lối cầu thang nhìn tôi đang giữ lấy cánh tay Jeremy, và cố gắng ra sức ngăn thằng bé không bỏ đi. Jeremy nhìn thấy L.Nash và ngừng lại, đánh rơi ánh mắt của mình xuống sàn nhà. Tôi bước qua một bên để cô ấy đi qua, những bức tường dọc lối cầu thang ép lại với nhau khi cô ấy ngang qua, mùi sữa tắm và mùi phấn rôm lướt nhanh qua khứu giác của tôi.

“Xin chào,” tôi lên tiếng.

“Vâng, chào anh,” cô ấy quay lại, nhướn chân mày theo hướng chúng tôi đang đứng và bước thêm vài bước để tiến tới cánh cửa căn hộ của mình. Tôi muốn nói thêm điều gì đó, vì vậy, tôi đã buột miệng nói ra những suy nghĩ ngu ngốc đầu tiên nảy ra trong đầu mình.

“Nó không giống như những gì mà bạn đang nhìn thấy,” tôi nói. “Chúng tôi là hai anh em.”

“À vâng,” cô ấy đáp, trong khi tra chiếc chìa khóa vào ổ. “Tôi chắc chắn rằng tình thế này cũng giống như Jeffrey Dahmer[4].” Cô ấy bước vào căn hộ của mình và đóng cửa lại. Sự châm biếm của cô ấy khiến tôi câm lặng. Tôi muốn quay trở lại với bản tính thông minh của mình, nhưng tâm trí tôi đang bị mắc kẹt giống như một chiếc then cửa hoen gỉ. Jeremy không nhìn L.Nash giống như tôi đã làm. Thằng bé đứng im lặng trên những nấc đầu tiên của dãy cầu thang, và cũng không còn chà xát ngón tay cái vào những đốt ngón tay của mình nữa. Sự nóng nảy trong nó đã qua đi. Sự bướng bỉnh trong đôi mắt Jeremy đã được thay thế bởi sự mệt mỏi, đây cũng là lúc quá giờ ngủ thông thường của thằng bé. Tôi dẫn em trai mình lại phía phòng tắm để đánh răng và dẫn về phòng ngủ, nơi tôi đặt chiếc tivi cũ kĩ của mình và vì vậy, thằng bé có thể xem những DVD phim yêu thích.

Tôi vơ lấy một chiếc chăn và trải trên chiếc ghế dài.

Tôi có thể nghe thấy tiếng phim Jeremy đang xem, những đoạn hội thoại và tiếng nhạc phim quen thuộc sẽ ru thằng bé vào giấc ngủ, tách thằng bé khỏi những điều lo lắng và sợ hãi khi sống ở môi trường hoàn toàn xa lạ này. Mặc dù những bộ phim chính là lý do cho sự thành công này, nhưng tôi cũng phải thán phục Jeremy vì sự thích nghi cũng như những gì thằng bé đã làm. Bất kể một sự thay đổi nhỏ nào trong thói quen sinh hoạt của thằng bé, như một chiếc bàn chải đánh răng mới, hay bữa sáng với loại ngũ cốc xa lạ, cũng có thể làm thằng bé nổi loạn. Nhưng trái lại, chính vào lúc này, ngay tại căn hộ mà thằng bé chưa từng đến, một căn hộ chỉ có diện tích bằng một nửa nơi mà nó vẫn gọi đó là nhà, một căn hộ mà thậm chí còn không có lấy riêng cho mình một phòng tắm khép kín, Jeremy đã làm được, và cũng là lần đầu tiên rơi vào giấc ngủ trên một chiếc giường không hề có tầng nào phía trên.

Tôi đã tắt điện thoại lúc chiều tối để tránh các cuộc điện thoại không mong đợi từ mẹ, nhưng giờ tôi lôi nó ra khỏi túi, bật lên, và kiểm tra những cuộc gọi nhỡ. Có đến hai mươi mốt cuộc có mã vùng 507, chẳng còn nghi ngờ gì, đó là những cuộc gọi của mẹ tôi từ trung tâm giải độc. Tôi có thể nghe thấy những tiếng la hét, chửi rủa của mẹ vì đã tắt điện thoại và để mặc bà với quy trình giải độc và nhà giam - mặc dù tôi chẳng có quyền hạn gì trong việc này.

Chín tin thoại được gửi đến, đầu tiên là từ mẹ tôi:

“ Joey, mẹ không thể tin rằng con lại có thể đối xử với mẹ đẻ của con như vậy...“ [Xóa]

“Joey, mẹ không biết mẹ xứng đáng với điều gì...“ [Xóa]

“À thì, giờ mẹ biết mẹ không thể tin tưởng vào con...“ [Xóa]

“Mẹ biết mẹ là một người mẹ tồi tệ...[Xóa]

“Joey, nếu con không trả lời điện thoại, mẹ sẽ...”[Xóa]

“Con không yêu mẹ...“[Xóa]

“Mẹ xin lỗi, Joey. Mẹ chỉ ước mẹ chết đi. Có thể sau đó...“[Xóa]

“Tao nghĩ mày là một đứa sinh viên đại học tồi tệ...“[Xóa]

“Hãy trả lời cái điện thoại chết tiệt của mày đi...“[Xóa]

“Joey, tôi là Mary Lorngren từ viện dưỡng lão Hillview. Tôi chỉ muốn gọi để báo cho cậu biết rằng tôi đã nói chuyện với ông Iverson về dự án của cậu… Và ông ấy đã đồng ý gặp cậu để bàn luận về vấn đề này. Ông ấy muốn tôi nói rõ với cậu rằng ông ấy không muốn làm điều này. Ông ấy muốn gặp cậu trước. Cậu có thể gọi điện cho Janet vào ngày mai để xếp lịch hẹn ghé qua chỗ chúng tôi. Chúng tôi không muốn làm phiền những vị khách trong khoảng thời gian họ dùng bữa. Vì vậy hãy gọi cho Janet. Tạm biệt”.

Tôi tắt máy và nhắm mắt lại, một nụ cười thoảng qua trên má, “hấp thụ” sự trớ trêu kỳ lạ rằng tôi sẽ sớm được phỏng vấn một kẻ giết người man rợ, một gã đàn ông đã không suy nghĩ khi kết liễu đời một thiếu nữ, một tên tội phạm, người đã sống sót trong vòng hơn 30 năm qua tại một trong những địa ngục nhà giam tồi tệ nhất tại Minnesota, nhưng tôi lại không ngại cuộc phỏng vấn đó bằng việc phải đối mặt với mẹ một lần nữa. Tuy nhiên, tôi có thể cảm nhận được một sự khởi đầu tốt đẹp, một điều mà tôi cho rằng đó là sự thuận lợi, một điều mà tôi hy vọng rằng sẽ mang lại một điểm số tốt trong lớp học tiếng Anh của mình. Với một động lực và quyết tâm căng tràn, tôi sẽ có thể vượt qua điểm yếu về mặt thời gian khi bắt đầu làm dự án của mình hơi muộn. Điều đó sẽ không bao giờ xảy đến với tôi, nếu như tôi vẫn tiếp tục nép mình trên chiếc ghế băng dài, và những sự thành công nhen nhóm trong lòng tôi sẽ vụt tắt. Khi cuối cùng tôi cũng đã ngủ thiếp đi vào cái đêm đó, tôi thực sự cảm thấy được bao bọc trong niềm tin rằng cuộc nói chuyện của tôi với ông Carl Iverson sẽ suôn sẻ, và bằng cách nào đó, cuộc gặp gỡ của chúng tôi sẽ làm cho cuộc sống của tôi trở nên tốt đẹp và thoải mái hơn. Về sau này, khi nhìn lại, tôi thấy mình lúc đó thật ngây thơ.

❀ ❀ ❀

[1] 11* Rối loạn lưỡng cực: còn được gọi là bệnh trầm cảm - hưng phấn, là một rối loạn não gây ra những thay đổi bất thường trong tâm trạng, năng lượng, mức độ hoạt động, và khả năng để thực hiện nhiệm vụ hàng ngày. Các triệu chứng của rối loạn lưỡng cực rất nghiêm trọng. Những biểu hiện bệnh sẽ thay đổi đối với mỗi thời kỳ của người bệnh. Các triệu chứng rối loạn lưỡng cực có thể dẫn đến việc làm hỏng mối quan hệ, hiệu suất công việc hay học tập giảm sút, và thậm chí là tự tử. Nhưng bệnh nhân rối loạn lưỡng cực có thể được điều trị, và những người bị bệnh này có thể sống một cuộc bình thường và hiệu quả.

[2] 12* Renaissance Festival: Lễ hội thời kỳ Phục hưng.

[3] 13* Đơn vị đo khối lượng, 1 pound = 0,45359237 kg.

[4] 14* Jeffrey Lionel Dahmer (1960-1994), còn có tên gọi là Milwaukee Cannibal, kẻ giết người hàng loạt và tội phạm tình dục, với những tội danh hiếp dâm, giết người và chặt xác đối với mười bảy đàn ông và trẻ nam trong khoảng thời gian từ 1978 tới 1991.

Dịch thuật: Trịnh Thúy Ngân
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 27 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.