Họ tên: Joe Talbert
Lớp: Tiếng Anh 317
Bài tập viết Tiểu sử: Tiểu luận - Bước ngoặt cuộc đời
Ngày 23 tháng 9 năm 1967, binh nhất Carl Iverson đã đặt bước chân đầu tiên trong đời lên một vùng đất ngoại quốc, từ khi bước chân ra khỏi con tàu Lockheed C-141 cập cảng tại Đà Nẵng, Việt Nam. Trong một doanh trại quân đội tạm thời, anh ta gặp Virgil Gray, một binh nhất đến từ Baudette, Minnesota. Vì Carl đến từ phía Nam St.Paul, nên họ có thể xem nhau như là những người láng giềng, mặc dù khoảng cách giữa vùng phía Nam St.Paul tới Baudette tương đương với việc lái xe qua sáu quốc gia trên bờ biển phía Đông. May mắn thay, họ được điều động vào cùng một trung đội và cùng một biệt đội hỏa lực đóng quân trên một đỉnh đồi bụi bặm, ở rìa phía Tây Bắc của thung lũng Quế Sơn.
Đội trưởng của Carl, một tên lùn, tục tĩu mang cái tên Gibbs, đang che giấu những vết sẹo về mặt tâm lý rất nghiêm trọng sau một chiếc mặt nạ độc ác. Ông ta lúc nào cũng hùng hổ, tỏ ra khinh miệt với cấp dưới, và các binh nhì, luôn chỉ trích các mệnh lệnh và đối xử với các binh nhất không khác gì với những con chuột đang mang trên mình một căn bệnh truyền nhiễm. Hắn ta dồn sức nặng của sự tàn bạo của mình lên những người Việt Nam mà hắn gọi họ là: Những người da vàng. Đó là nguồn gốc của mọi điều hiểm ác tồn tại trong hắn, và một nửa những biện pháp được thực hiện bởi sự vô liêm sỉ của hắn đều nhằm tới việc xóa sổ Người da vàng, những ai làm vướng mắt hắn.
Khi Carl và Virgil được phân về “ngôi nhà mới”, Gibbs gọi họ ra một bên và giải thích rằng Cuộc chiến tranh trường kỳ của tướng Johnson có nghĩa là “Chúng ta phải giết được nhiều quân đối phương hơn số lượng đối phương giết ta.” Đó là một chiến lược dựa vào cách đếm xác chết. Các tướng nháy mắt với các đại tá, họ trao cho trung sĩ một cái huých tay; và những người đội trưởng, họ thì thầm vào tai các phụ tá, rồi các phụ tá sẽ trao cho trung sĩ một cái gật đầu, những người này sẽ lần lượt được ra lệnh đứng vào hàng và lẩm bẩm những mệnh lệnh đó. “Nếu cậu nhìn thấy một tên da vàng đang bỏ chạy,” Gibbs nói, “Hắn là Việt cộng hoặc một người giác ngộ Việt cộng. Dù thế nào đi nữa thì đừng có đứng ở đó mà thề thốt, hãy bắn tên khốn đó không chút ngần ngại.”
Sau bốn tháng chinh chiến, Carl đã cảm nhận quá đủ về chiến tranh cho phần còn lại của cuộc đời. Anh ta đã từng phục kích, nhìn những người lính Việt cộng bị hòa vào những “cơn mưa máu” khi những người lính phía anh ta kích ngòi nổ quả mìn Claymore[1], anh ta cũng đã từng thương cảm nắm lấy tay của một anh chàng, mà anh ta không biết tên, trong khi anh ta đang trút hơi thở cuối cùng, chân của anh ta cũng bị rách toạc bởi một quả mìn Bouncing Betty[2].
Carl đã khá quen với những tiếng vo ve liên tục của muỗi, nhưng không phải là những tiếng súng cối bất thình lình mà Charlie thường ném vào họ giữa đêm. Anh ta đã trải nghiệm lễ Giáng sinh không tuyết đầu tiên trong khi đang bò xuống miệng của một căn hầm.
Một sự tổn thương trong cuộc đời Carl, thứ đã khiến anh ta muốn chết tại Việt Nam, đã bắt đầu hé lộ vào một buổi sáng mùa đông yên bình đầu tháng 2 năm 1968. Những áng mây nhẹ bồng bềnh che phủ phía chân trời trước thời điểm mặt trời mọc, sự yên tĩnh của quang cảnh xung quanh thung lũng dường như đang lừa dối về sự khủng khiếp của những sự kiện sắp diễn ra. Ánh sáng chói lòa của bầu trời hôm đó gợi cho Carl nhớ về một buổi sáng anh ta đã ở cùng ông ngoại mình trong một khu rừng phía bắc, khi ý niệm về giết và bị giết chưa hề có chỗ đứng trong cuộc đời của Carl.
Cuộc chiến đè nặng lên Carl, khiến anh ta cảm thấy mình đã quá già. Anh ta dựa lưng vào một đống bao cát, nén một nhúm thuốc lá vào một vỏ giấy và cuộn lại rồi châm lửa hút trong khi ngồi ngắm bình minh.
“Này, Hoss.” Virgil gọi trong khi nhảy xuống con đường đất.
“Này, Virg.” Carl vẫn hướng mắt về phía chân trời, ngắm nghía vạt ánh sáng màu hổ phách đang dần ló rạng.
“Anh đang xem cái gì vậy?” “Hồ Ada.”
“Cái gì cơ?”
“Tôi đang xem mặt trời mọc, giống như khoảnh khắc mà tôi đã từng nhìn thấy ở hồ Ada khi tôi mới mười sáu tuổi. Khi đó, tôi ngồi ở hiên nhà phía sau nhà của ông ngoại tôi. Tôi thề là bầu trời khi đó cũng có màu đỏ tương tự như ở đây.”
“Anh bạn, anh đang ở cách rất xa hồ Ada.”
“Kể cả thế đi chăng nữa, theo mọi cách có thể, thì trông nó vẫn giống vậy.”
Virgil ngồi xuống cạnh Carl. “Đừng để nó ảnh hưởng đến mình, anh bạn. Chúng ta đã tiến quân được tám tháng rồi. Sẽ chẳng còn mấy thời gian nữa. Sau đó chúng ta sẽ thoát khỏi nơi này. Chúng ta sẽ được về mau thôi.”
Carl dựa lưng trở lại vào những bao cát, và tắt điếu thuốc trên tay. “Anh không thể cảm nhận thấy nó đâu Virg! Anh không thể cảm thấy mọi điều đang trở nên tồi tệ như thế nào đâu.”
“Thấy cái gì tồi tệ cơ, Hoss?”
“Tôi không biết nên giải thích cho anh thế nào,” Carl nói. “ Nó giống như việc mỗi khi tôi đi vào khu rừng đó, tôi cảm giác như mình đang đứng trên một ranh giới, một ranh giới mà tôi biết rằng mình không nên vượt qua. Và tại nơi đó, có một tiếng la hét liên tục dội lên trong đầu tôi, giống như một nữ thần báo tử đang quay cuồng xung quanh tôi, đẩy tôi, giằng xé tôi để tôi phải bước chân qua ranh giới đó. Và tôi biết rõ rằng, nếu tôi bước qua, tôi sẽ lại là người giống như Gibbs. Tôi muốn nói rằng ‘mẹ kiếp’, họ chỉ là những người da vàng vô tội thôi mà, ‘mẹ kiếp’.”
“Ừm,” Virgil nói. “Tôi hiểu. Tôi cũng cảm thấy như vậy. Cái ngày Levitz mua lại trang trại, tôi đã muốn vứt những thứ cặn bã lên tất cả mọi nơi trong khu vực đó.”
“Levitz ư?”
“Ồ, là gã đã mặc cả xuống còn nửa giá tiền.” “Ô… đó là tên hắn ư? Tôi không biết đấy.”
“Nhưng Hoss, một khi anh đến đó, anh sẽ không muốn quay trở lại,” Virgil nói. “Một đứa trẻ mười sáu tuổi, đứng trên mái hiên nhà ông mình, và ngắm mặt trời mọc, điều đó sẽ không còn có thể quay trở lại được nữa.”
“Đôi khi, tôi tự hỏi mình rằng liệu ông tôi còn có ở đó nữa không.”
Virgil quay mặt lại để Carl có thể nhìn thấy sự nghiêm túc trong mắt của anh ta. “Chúng ta không có quyền được lựa chọn về việc chúng ta đang có mặt tại đây,” Virgil nói, ”Và điều quan trọng nhất là chúng ta không có quyền lựa chọn cho việc chúng ta sẽ rời khỏi đây như thế nào. Nhưng chúng ta có quyền kiểm soát về việc chúng ta sẽ để lại bao nhiêu phần ký ức trong cái mớ hỗn độn này. Đừng bao giờ quên điều đó. Chúng ta vẫn còn có quyền có một số lựa chọn.” Carl đưa tay ra và Virgil nắm chặt lấy. “Anh đang có một người bạn đồng hành chí cốt đây.”
Carl nói. “Chúng ta cần phải rời khỏi đây với thân xác còn nguyên vẹn.”
“Đó là những gì chúng ta cần phải làm,” Virgil nói. Một đôi giày khác đang gõ nhịp trên con đường dẫn từ nhà vệ sinh về phía đụn bao cát mà họ đang ngồi.
“Này các cậu”, Tater Davis hét lên. Davis, một tình nguyện viên Tennessee[3] thực thụ, chỉ vừa mới gia nhập tiểu đội ngay sau lễ Giáng sinh và bám lấy Virgil như một chú vịt mồ côi. Như một người đồng đội bé nhỏ, Tater có làn da rám nắng, đầy những vết tàn nhang với đôi tai chìa ra giống hệt nhân vật đồ chơi Mr Potato Head[4]. Bố mẹ anh ta đặt tên cho anh ta là Ricky, nhưng Virgil đã gọi anh ta với cái tên Potato Head. Anh ta bị gán với cái tên này mãi cho đến khi Ricky giữ vững lập trường của mình trong một trận đánh hỏa lực tồi tệ, sau đó, anh ta chỉ là Tater.
“Đội trưởng nói chúng ta phải chuẩn bị để rời khỏi đây sớm,” anh ta nói.
“Đừng lo, Tater, họ sẽ không đi nếu không có cậu,” Carl nói.
“Phải rồi,” Virgil thêm vào, “vì đội trưởng biết rằng chúng ta sẽ không thể thắng trận nếu thiếu cậu.”
Tater nở một nụ cười ngốc nghếch, một nụ cười toe toét. “Đội trưởng có ý gì khi ông ấy nói rằng chúng ta đang gấp rút để đến khu vực Injun country trong ngày hôm nay?” Tater hỏi.
Carl và Virgil trao đổi với nhau một cái nhìn đồng cảm. “Cậu không học lịch sử ở trường sao?” Virgil hỏi.
“Tôi đã bỏ học. Cho đến khi họ nói rằng tôi cần phải đi học trở lại.”
“Cậu chưa từng nghe tới tướng Sheridan hay Mackenzie sao?” Carl hỏi.
Tater trả lời bằng một cái nhìn rỗng tuếch.
“Thế còn về Custer trước khi ông ta gặp phải một sự cố đáng tiếc tại Little Bighorn?” Virgil thêm vào.
Chẳng có chút khái niệm nào đọng lại trong tâm trí hắn cả.
Carl nói, “Chà, hãy nói về chuyện này trước khi người phương Tây chúng ta thắng trận, vẫn còn một nhóm người sống ở đó, và chúng ta có nhiệm vụ đá đít họ ra khỏi đó.”
“Ừm, vậy đó là những gì chúng ta phải làm ở Việt Nam ư?” Tater hỏi.
“Chà, ngài đại tướng đã ra lệnh chúng ta cần phải mở rộng khu vực bắn phá tự do,” Virgil nói.
“Vấn đề duy nhất với kế hoạch này là có một ngôi làng - mà chúng ta gọi nó là Oxbow - chúng ta phải di chuyển ngôi làng đó ra khỏi khu vực bắn phá tự do. Ý tôi là cậu không thể để ngôi làng đó trong khu vực bắn phá. Đặc điểm quan trọng của khu vực bắn phá tự do là nó cho phép chúng ta bắn bất kỳ một vật gì đang di chuyển.”
“Vì vậy chúng ta sẽ phải di chuyển họ ra khỏi đó ư?” Tater hỏi.
“Chúng ta sẽ khuyến khích họ tìm một địa điểm khác cho làng mình,” Carl nói.
“Cũng giống việc chúng ta làm với người Ấn Độ,” Virgil thêm vào.
Carl hít một hơi cuối cùng từ điếu thuốc trên môi, thả nó vào chiếc hộp sắt của mình rồi đứng dậy.
Ba người đàn ông khoác ba lô lên lưng, quàng qua vai khẩu M16, và tiến thẳng về phía có âm thanh động cơ của chiếc trực thăng đầu tiên đang phá vỡ sự yên bình của buổi sáng trong lành đó.
Các phi công nhanh chóng đưa các binh sĩ đến khu vực hạ cánh, lướt đi ở độ cao tương đối thấp và nhanh như chớp, chiếc trực thăng phanh lại trên mé một cánh đồng, nơi những con trâu nước đang đứng san sát bên những con bò vàng. Cách đó khoảng một trăm thước là một túp lều nhỏ lợp mái tranh. Cách đó thêm một trăm thước nữa là những túp lều san sát tạo nên một ngôi làng có cái tên mà chúng tôi gọi là Oxbow.
“Hai cậu đi theo tôi.” Gibbs chỉ vào Carl và Virgil. “Những người của đội hình đầu tiên hãy tiến vào bằng đường bộ. Dọn dẹp mọi thứ trên lối đi. Tập hợp tất cả bọn da vàng vào trung tâm của ngôi làng và chờ trung úy Maas tại đó.”
Gibbs đưa Carl và Virgil đến thẳng túp lều nằm giữa đồng, lập thành một đội đi theo người chỉ huy. Phần còn lại của trung đội đi xuống con đường đất dẫn đến làng Oxbow. Khi họ đi được nửa đường từ khu vực hạ cánh tới căn chòi, một đám cỏ voi nằm ở rìa cánh đồng chợt nghiêng ngả. Carl chuẩn bị sẵn sàng vũ khí, dựa báng súng vào vai và chĩa thẳng vào đám cỏ đang chuyển động kia.
“Bắn, Iverson!” Gibbs ra lệnh.
Carl vặn ngón tay vào cò súng nhưng rồi lại nhả ra. Cái bóng của một mái tóc đen chợt vụt qua đám cỏ cao, chạy về phía căn chòi.
“Hắn đang lẩn trốn!” Gibbs hét lên. “Chết tiệt, bắn!” Carl lại chuẩn bị bóp cò một lần nữa, nhưng lại một lần nữa lại nhả ra vì đó là một cô bé thiếu niên, chạy ra khỏi đám cỏ voi và đang cố về nhà.
“Đó chỉ là một cô bé thôi, Sarge,” Carl nói, hạ thấp vũ khí.
“Ta đã ra lệnh cho cậu!”
“Cô bé ấy chỉ là dân thường thôi.”
“Con bé đang chạy trốn, điều đó có nghĩa là con bé là Việt cộng.”
“Sarge, cô bé ấy đang chạy về nhà.”
Gibbs chỉ thẳng vào mặt Carl. “Iverson, ta đã ra mệnh lệnh cho cậu. Cậu không bao giờ được phép chống lại lệnh của ta thêm một lần nào nữa, ta sẽ nã một viên đạn vào chính giữa sọ của cậu. Cậu nghe rõ chưa?”. Bọt mép sùi ra từ khóe miệng của hắn ta khi hắn ta phỉ nhổ cơn giận dữ của mình vào Carl. Cô bé đó, có lẽ chưa đến mười lăm tuổi, đang chạy thục mạng về nhà, và Carl có thể nghe thấy cô bé đang nói chuyện với một ai đó trong căn chòi bằng cái giọng Việt Nam lạ lùng mà anh ta đã nghe rất nhiều lần, giống như một bản nhạc quen thuộc với ca từ không thể nghe rõ. Gibbs chuyển hướng sự chú ý của mình tới căn chòi và xem xét nó trong một lát.
“Hai cậu đến và bắn chết những con bò kia đi,” Gibbs hét lên. “Sau đó thì thiêu rụi trảng cỏ này đi. Ta sẽ giải quyết căn chòi kia.”
Virgil và Carl nhìn nhau. Có một vài trang trong sách hướng dẫn dường như là vô dụng, ngoài việc dùng để kê mông. Nhưng lại có một vài hướng dẫn hay quy tắc trong cuốn sách đó cần sự tôn trọng. Một trong quy tắc cần phải tôn trọng đó là không bao giờ được xóa sổ một túp lều đơn độc.
“Sarge?” Virgil lên tiếng.
“Mẹ kiếp, lại gì nữa đây!” Gibbs “sủa” vào mặt Virgil. “Ta cũng sẽ không phạm phải sai lầm với cậu nữa, liệu có được không? Ta đã hạ lệnh cho cậu. Giờ thì đi mà bắn chết những con bò kia đi.”
“Vâng, thưa ngài.”
Carl và Virgil đi giữa cánh đồng, nâng cao ngọn súng, và bắt đầu bắn vào đầu những con vật không chút mảy may nghi ngờ. Sau chưa đến một phút, những con bò đã chết hết, và Carl chuyển sự chú ý của mình về phía căn chòi. Từ phía đằng xa, anh ta có thể nhìn thấy đồng đội của mình đang kích động những người dân làng ra khỏi túp lều của mình, dẫn giải họ đi trên những con đường đất, tập hợp họ lại tại trung tâm ngôi làng. Chẳng còn nhìn thấy Gibbs ở đâu nữa.
“Có cái gì đó không ổn,” Carl nói. “Sarge đâu?” Virgil hỏi.
“Đó là điều tôi muốn nói đến. Việc đó đáng lẽ không lâu đến thế.”
Hai người đàn ông tiến lại gần căn chòi, khẩu M16 của họ đã sẵn sàng. Virgil nhanh nhẹn đứng vào một ví trí để che chắn cho Carl khi anh ta đang rón rén tiến đến cửa, cẩn thận bước lên cỏ mềm để tránh tiếng sột soạt của cát cọ lên nền đất cứng. Anh ta kiềm chế hơi thở của mình và lắng nghe những tiếng kêu như bị bóp nghẹt lại phát ra từ phía bên kia của bức tường lợp bằng rạ. Carl gật đầu tự báo hiệu trong khi đếm ngược từ 3 và bất ngờ đột kích qua cánh cửa.
“Chúa ơi!” Carl khựng lại, kéo họng súng của mình lên, và gần như ngã nhào người về phía sau qua cánh cửa đang mở. “Sarge! Cái quái gì thế này?”
Gibbs đè chặt cô bé xuống, đầu gối cô bé đặt trên ván sàn, thân mình ép xuống một chiếc giường tre ọp ẹp, hầu hết quần áo của cô bé đã bị xé toạc. Gibbs quỳ phía sau cô bé, đống quần áo của hắn ta xếp lại thành đống trên đùi.
“Ta đang thẩm vấn một kẻ giác ngộ Việt cộng,” ông ta nói qua vai. Gibbs vặn và túm chặt cánh tay cô bé ra sau lưng, nắm lấy đôi cổ tay ấy bằng một tay, cả thân hình hắn dựa vào cô bé, tì chặt cô bé vào chiếc chõng tre bằng toàn bộ trọng lượng của mình. Cô bé chống cự, thở hổn hển trong khi lồng ngực bị đè chặt. Ở một góc của túp lều, một ông già nằm vô hồn hướng mặt về một bên, một rãnh sâu có kích thước bằng một phát súng cắt ngang qua sống mũi và xương gò má trái, máu nhỏ giọt từ hốc mắt vô hồn của ông.
Với một sự tức giận đang lên đến đỉnh điểm, Gibbs hoàn thành hành vi giao cấu đồi bại của mình. Cô bé không hề di chuyển.
“Tới lượt cậu,” hắn nói với Carl.
Carl không thể thốt lên lời, cũng không hề nhúc nhích. Gibbs bước một bước đến trước mặt Carl. “Iverson, tôi đang nói cậu phải “thẩm vấn” kẻ giác ngộ Việt cộng này. Đây là mệnh lệnh.”
Carl chống chọi để giữ lại cơn buồn nôn đang dâng lên trong cổ họng. Cô bé ngẩng đầu lên, đủ để quay lại và nhìn vào Carl, đôi môi cô bé run rẩy vì sợ hãi, hoặc vì giận dữ, hoặc cả hai.
“Cậu có nghe thấy tôi nói gì không?” Gibbs hét lên, lôi khẩu súng lục từ chiếc bao da và lên nòng. “Ta nói đó là mệnh lệnh.”
Carl nhìn chằm chằm vào khuôn mặt của cô gái trẻ, vào đôi mắt tuyệt vọng của cô bé. Anh ta nghe thấy Gibbs đã lên ổ đạn vòng 45, nhưng Carl không thèm để ý.
Anh ta thách thức vị nữ thần báo tử, anh ta sẽ rời khỏi Việt Nam với linh hồn của mình, hoặc là chết với linh hồn còn nguyên vẹn.
“Không, thưa ngài,” Carl nói.
Đôi mắt Gibbs đỏ ngầu. Hắn ta chĩa họng súng vào một bên đầu Carl. “Cậu trực tiếp chống lại mệnh lệnh của tôi. Cậu là một kẻ đáng chết.”
“Sarge, ông đang làm gì vậy?” Virgil hét lên từ phía cửa. Gibbs nhìn vào Virgil, rồi lại nhìn vào Carl.
“Sarge, đây không phải là cách giải quyết,” Virgil nói. “Hãy nghĩ cho thông suốt đi.”
Gibbs chĩa súng vào thái dương Carl, hai cánh mũi hắn phập phồng như một con ngựa đang phi nước đại. Hắn bước về phía sau Carl, mũi súng vẫn chĩa thẳng vào đầu Carl. “Cậu nói đúng”, hắn lên tiếng. “Có một cách tốt hơn để xử lý chuyện này.” Hắn ta đút súng trở lại bao đựng, và đồng thời rút ra một con dao găm từ chiếc bao trên đùi. Hắn ta quay về phía cô bé kia, người vẫn nằm trần trụi, một nửa trên giường, một nửa trên sàn nhà. Nắm lấy tóc cô bé, hắn ta kéo lê cô bé trên đầu gối.
“Lần sau ta sẽ ra lệnh cho cậu bắn một tên da vàng…”, nói rồi, hắn ta rạch dao vào cổ họng cô bé, máu phọt lên, nhuốm đỏ giày Carl. Đôi mắt cô bé trợn ngược, và Gibbs đẩy thân xác mảnh khảnh của cô bé rũ xuống sàn nhà.
“Giờ thì hãy đốt căn chòi này đi.” Gibbs bước chân qua cái xác và gí sát mặt mình vào mặt Carl. “Đây là mệnh lệnh.” Gibbs rời khỏi căn chòi, nhưng Carl vẫn đứng bất động. “Nhanh lên, anh bạn”. Virgil kéo Carl ra khỏi túp lều từ phía sau. “Đây không phải là lỗi của chúng ta, chúng ta phải giữ mình nguyên vẹn khi trở về, nhớ chứ?”
Carl dụi nước mắt lên vạt tay áo sơ mi của mình. Virgil tiến về máng cỏ với chiếc bật lửa trên tay.
Trông về phía bắc, toàn bộ khu làng đã bị thiêu cháy, một đoàn dân làng, bây giờ là những người tị nạn, hành quân như những tù nhân bị kết án, đang đi theo con đường đất, dẫn họ ra khỏi khu vực bắn phá tự do.
Carl lấy chiếc bật lửa từ trong túi ra, gí nó vào một tán lá cọ khô và cỏ voi của túp lều. Trong vòng một vài giây, ngọn lửa đã nhấn chìm chiếc mái lá, khói bốc lên dày đặc như những vòi nước khổng lồ.
Carl bước lùi lại, nhìn căn lều giờ đây như một ngọn lửa cồn cào đang dần liếm xuống từ mái nhà và hai xác người đang nằm trên sàn. Đó là lúc anh ta thấy một điều gì đó nghẹn lại ở lồng ngực như những viên đá lạnh. Bàn tay cô bé kia đang mở ra, những ngón tay vươn ra như đang ra hiệu cho Carl. Họ run rẩy khi cô bé cố gắng vươn cánh tay mình về phía họ. Rồi họ chỉ kịp ngã sụp xuống giữ lấy lòng bàn tay cô bé khi mái nhà đang cháy ngùn ngụt rơi xuống, phủ lên thân hình bé nhỏ ấy.
❀ ❀ ❀
[1] 26* Mìn đinh hương.
[2] 27* Mìn cóc.
[3] 28* CHƯƠNG trình thể thao liên trường, được khởi xướng bởi trường Đại học Tennessee tại Knoxville, Tennessee.
[4] 29* Ngài Đầu Khoai Tây (Mr Potato Head Toy): một loại đồ chơi phổ biến ở Mỹ, bao gồm một củ khoai tây bằng nhựa làm thân người, và rất nhiều các bộ phận khác để gắn lên. Những bộ phận này thường bao gồm tai, mắt, giày, mũ, mũi, và miệng. Đồ chơi này được sáng chế và phát triển bởi George Lerner vào năm 1949, lần đầu tiên được sản xuất và phân phối bởi Hasbro vào năm 1952.