Cuộc Sống Tự Chôn Vùi

Lượt đọc: 192 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 2

❊ ❊ ❊

Hầu hết mọi người chưa bao giờ nghe nói về vùng Austin, bang Minnesota, còn nếu có ai biết về nó thì chắc có lẽ là do cái tên Spam, một sản phẩm thịt lợn muối không bao giờ thối rữa và là nguồn cung cấp thực phẩm cho binh lính và người tị nạn trên khắp thế giới. Đó là niềm tự hào, là chiếc “vương miện” của công ty Cổ phần Thực phẩm Hormel - có biệt danh - được đặt vì lợi ích của quê hương tôi - Spam Town. Họ thậm chí còn có một bảo tàng nằm tại Austin để ca ngợi sự vĩ đại của Spam. Và nếu như điều này để lại một vết nhơ, như một dấu tù trên tiến trình lịch sử của Austin, ở đây đã không diễn ra một cuộc đình công lịch sử.

Cuộc đình công xảy ra vào bốn năm trước khi tôi ra đời, nhưng những đứa trẻ lớn lên tại Austin đã sớm được học về cuộc đình công này như cái cách mà một số đứa trẻ khác tìm hiểu về Lewis và Clark[1] hay về bản Tuyên ngôn Độc lập. Một cuộc suy thoái vào đầu những năm 1980 đã ảnh hưởng không nhỏ đến nhu cầu tiêu dùng của các sản phẩm công nghiệp thịt sữa, vì vậy Hormel đã xin ý kiến của hội đồng công ty để cắt giảm một khoản chi phí cho tiền lương rất lớn. Tất nhiên, điều này xảy ra như một cú ngã mà bạn không bao giờ có thể vực dậy được, và cuộc đình công bắt đầu. Sự chen lấn, xô xát giữa những người biểu tình đã dẫn đến bạo loạn. Tình trạng bạo lực thu hút giới truyền thông, thậm chí một đội quay phim truyền hình đã chốt máy bằng hình ảnh của một chiếc trực thăng bị lao thẳng vào cánh đồng ngô gần Ellendale. Cuối cùng chính phủ đã phải phái lực lượng Vệ binh Quốc gia đến để đàn áp vụ việc này, tuy nhiên, bạo lực và sự thù địch đã để lại những tàn dư trên thị trấn này, những vết nhơ mà một số người đã coi nó là bản chất điển hình của nơi đây. Bản thân tôi chỉ nhìn nhận nó như một vết sẹo tồi tệ. Giống như bất kể một thị trấn nào khác, Austin cũng có những điểm tốt, hồ bơi, phòng nha, tu viện Carmelite, sân bay riêng của thành phố, và chỉ cách thành phố nổi tiếng Mayo Clinic ở Rochester có “vài bước chân”. Nơi đây có trường đại học công lập nơi tôi đang theo học trong khi làm cùng lúc hai công việc bán thời gian. Trong ba năm, tôi đã dành dụm đủ tiền và rót đầy vào các thẻ tín dụng, thứ sẽ cho phép tôi có thể chuyển đến trường đại học M như một sinh viên năm nhất. Austin còn có ba mươi quán bar, đó là chưa kể đến các quán bar trong khách sạn và các câu lạc bộ theo yêu cầu, và với dân số vào khoảng hai mươi ba nghìn người - thì gần như Austin là một trong những nơi có tỉ lệ người dân ra vào các quán bar thuộc hàng lớn nhất trong tiểu bang Minnesota.

Tôi có một vốn hiểu biết về các quán bar không đến nỗi tồi, và cũng đã bước từng bước chân đến hầu hết các quán bar trong thị trấn vào mỗi dịp khác nhau khi tôi mới chỉ là một thằng nhóc, có lẽ cũng từ hồi chưa đến mười tuổi. Mẹ để mặc tôi ở nhà để coi sóc Jeremy trong khi bà ra ngoài làm vài ly rượu. Tôi hơn em trai mình hai tuổi và nó là đứa trẻ mắc chứng bệnh tự kỷ - căn bệnh làm nó trở nên trầm tính, và hơn tất cả, mẹ tôi cho rằng tôi đã đủ lớn để có thể làm “bảo mẫu” cho nó.

Đêm đó, Jeremy ngồi trên một chiếc ghế bành trong phòng khách và xem video yêu thích của mình - Vua sư tử . Tôi phải làm bài tập địa lý, vì vậy tôi tự nhốt mình lại trong căn phòng ngủ chật hẹp mà tôi và Jeremy dùng chung. Tôi không nhớ tất cả những căn phòng mà tôi và em trai mình đã cùng chia sẻ trong suốt những năm qua, nhưng tôi lại rất nhớ căn phòng đó: một căn phòng có những bức tường mỏng như những chiếc bánh quy giòn tan, được sơn một màu xanh dương huyền thoại giống hệt với tông màu của những mái che của bất kỳ bể bơi công cộng nào trên thế giới này. Bạn có thể nghe thấy âm thanh nhỏ nhất từ căn phòng bên cạnh, bao gồm cả tiếng bộ phim hoạt hình Vua sư tử mà Jeremy đang bật đi bật lại. Tôi nằm ở tầng trên của một chiếc giường tầng - một chiếc giường bằng gỗ dán cũ kĩ đã có những chỗ bị nứt, vì vậy thật là phí hoài cho chiếc nệm lò xo của chúng tôi khi phải nằm trên một thứ vô dụng như vậy - tôi bịt tai lại, cố gắng không để những tiếng ồn làm phiền mình. Nhưng việc này cũng chẳng có tác dụng là bao khi thứ âm thanh kia được lặp đi lặp lại không ngớt, dội qua những bức tường lỗ chỗ của sự tập trung. Tôi không chắc liệu rằng phần tiếp theo của câu chuyện mà tôi sẽ kể sau đây là đúng hay một sự thêm thắt trong bộ nhớ của tôi lại sinh ra cảm giác tội lỗi, nhưng lúc đó, tôi đã yêu cầu Jeremy vặn nhỏ tiếng xuống, và tôi thề là thay vì làm như những gì tôi nói, nó lại vặn to hơn. Sao một đứa trẻ có thể ngang bướng đến vậy?

Tôi xô người vào phòng khách, đẩy Jeremy ra khỏi chiếc ghế nó đang ngồi, làm thằng bé va mạnh vào tường. Cú ngã đó khiến một bức ảnh trên đầu Jeremy xê dịch, đó là bức ảnh tôi đang ẵm thằng bé trên tay khi nó mới chỉ là một đứa trẻ sơ sinh, còn tôi mới lên ba. Bức ảnh bị bung ra khỏi tường, rơi xuống và trúng vào mái đầu tóc vàng óng của Jeremy, những mảnh kính vỡ tan tành thành trăm mảnh.

Sau khi phủi các mảnh vỡ ra khỏi cánh tay và chân mình, Jeremy nhìn tôi. Một mảnh thủy tinh bị mắc trên đỉnh đầu thằng bé, trông như một đồng xu quá khổ bị kẹt trên khe đút tiền của một con lợn tiết kiệm. Mắt thằng bé nheo lại, chẳng hề tức giận, nhưng bối rối. Jeremy hiếm khi nhìn thẳng vào mắt tôi, nhưng ngày hôm đó, nó nhìn chằm chằm vào tôi như thể nó sắp nghĩ ra câu trả lời cho một câu đố bí hiểm.

Rồi sau đó, đột nhiên, như thể thằng bé đã tìm được câu trả lời cho mình, đôi mắt nó trở nên hiền dịu và ánh mắt nó chuyển hướng nhìn về những giọt máu đỏ đang nhỏ giọt trên cánh tay.

Tôi vội chộp lấy một chiếc khăn từ phòng tắm, cẩn thận phủi những mảnh kính vỡ trên đầu Jeremy, may mà những mảnh kính không đâm sâu vào đầu thằng bé như tôi tưởng, sau đó, tôi quấn chiếc khăn tắm quanh đầu nó như một chiếc khăn xếp. Tôi đã lấy một chiếc khăn để lau máu trên cánh tay nó và chờ đợi cho máu ngừng chảy. Sau 10 phút, máu vẫn chảy ra từ vết thương trên đầu Jeremy, và chiếc khăn tắm màu trắng đã nhuốm đầy máu đỏ. Tôi quấn lại chiếc khăn trên đầu thằng bé rồi đặt tay nó lên để giữ cố định chiếc khăn và chạy đi tìm mẹ.

Mẹ tôi thậm chí còn không để lại dấu vết như những mẩu bánh mì trong những câu chuyện cổ tích để chúng tôi có thể tìm thấy bà. Xe của gia đình chúng tôi đậu trên lối vào của căn nhà với hai bánh xẹp lép, phẳng lì, điều đó có nghĩa mẹ tôi đã đi bộ ở khoảng cách không quá xa. Điều này đã giúp tôi loại bỏ bớt một vài quán bar trong danh sách tìm mẹ. Tại thời điểm đó, thật lạ lùng là mẹ tôi lại có thể để tôi ở nhà một mình chăm sóc cho một đứa em trai tự kỷ và không bao giờ bận tâm đến việc nói cho chúng tôi biết bà đang đi đâu, hoặc có lẽ bà nghĩ rằng tôi tự biết phải tìm bà trong các quán bar. Lại một lần nữa, có vô khối những điều mà tôi đã từng cảm thấy rất bình thường khi còn bé giờ đây lại trở nên hoàn toàn sai lầm và hỗn độn khi nhìn lại. Tôi đã tìm thấy mẹ ngay quán bar đầu tiên, quán Odyssey.

Sự vắng vẻ của nơi này khiến tôi ngạc nhiên. Tôi đã luôn hình dung ra mẹ mình đuổi theo những nhóm người sang chảnh, họ cười nói, nhảy múa như những gì tôi nhìn thấy trong các chương trình quảng cáo trên tivi. Nhưng trái lại, quán bar nơi tôi đứng lại đang phát một thể loại nhạc đồng quê tồi tệ qua những chiếc loa rẻ tiền, với mặt sàn gồ ghề, và bốc ra thứ mùi của những kẻ tầm thường. Chẳng khó gì để tìm ra mẹ tại một nơi như thế này, bà đang nói chuyện với người phục vụ quầy. Đầu tiên, tôi không thể nói chuyện với bà nếu gương mặt bà tỏ ra tức giận hay lo lắng. Nhưng bà đã trả lời nỗi băn khoăn đó bằng việc nắm lấy cánh tay đang rỉ máu của tôi và kéo tôi ra khỏi quán bar. Chúng tôi đi như bay trở lại ngôi nhà của mình và thấy Jeremy đang xem bộ phim hoạt hình yêu thích của nó, bàn tay nó vẫn còn giữ chiếc khăn như lúc tôi đặt tay nó vào đó. Khi mẹ nhìn thấy chiếc khăn đẫm máu, bà trở nên quẫn trí.

“Ôi Chúa ơi, mày đã làm gì thế này? Hãy nhìn mớ hỗn độn này xem!”. Bà kéo chiếc khăn ra khỏi đầu Jeremy và nhấc bổng nó khỏi sàn nhà bằng hai cánh tay, thả thằng bé vào nhà tắm rồi lại nhấc bổng nó vào chiếc bồn tắm rỗng không. Máu bê bết trên mái tóc vàng hoe của Jeremy. Mẹ cũng ném luôn cả chiếc khăn vấy máu vào bồn rửa mặt và quay trở lại phòng khách để chà sạch ba cái đốm máu nhỏ trên chiếc thảm nâu.

“Mày phải dùng chiếc khăn sạch của tao,” bà hét lên. “Mày không thể chỉ lấy một miếng giẻ lau. Hãy nhìn vào những vết máu trên thảm này đi. Chúng ta có thể bị mất số tiền đặt cọc khi thuê căn nhà này. Mày đã bao giờ nghĩ về nó chưa? Không. Mày chưa từng nghĩ về điều này. Mày chỉ làm mọi chuyện rối tung lên thôi, và tao luôn là người phải đi theo sau để giải quyết.”

Tôi bỏ vào phòng tắm, một phần để tránh xa mẹ tôi, một phần vì muốn ở bên Jeremy phòng khi nó cảm thấy sợ hãi. Mặc dù thằng bé chẳng sợ sệt gì, mà nói đúng hơn thì nó chưa bao giờ cảm thấy sợ hãi. Hoặc nếu có, nó cũng chưa bao giờ thể hiện ra ngoài. Nó nhìn tôi với vẻ mặt mà đối với tất cả mọi người thì đó là sự vô cảm, nhưng tôi có thể nhìn thấy cái bóng sự phản bội của chính tôi ẩn sau đôi mắt nó. Dù tôi có cố gắng quên đi cái đêm đó đến mức nào đi chăng nữa, có cố gắng chôn vùi nó ở một nơi nào đó sâu thẳm tận cùng, và để nó chết đi, thì ký ức về cái nhìn của Jeremy đối với tôi lúc đó vẫn tiếp tục hiện hữu.

Jeremy giờ đã mười tám tuổi, đủ lớn để có thể tự ở một mình trong căn hộ trong một vài giờ, nhưng không thể trong vài ngày. Khi tôi cố gắng chạy xe về phía căn hộ mẹ đang ở vào đêm đó, hai đội bóng Twins và Indians đang cạnh tranh sát nút ở cú giao bóng đơn trong hiệp đấu thứ ba. Tôi đã mở cửa được căn hộ bằng chiếc chìa khóa dự phòng và tìm thấy Jeremy đang xem bộ phim Cướp biển vùng Caribe, một bộ phim yêu thích mới của thằng bé. Nó trông có vẻ ngạc nhiên trong giây lát, rồi lại nhìn xuống khoảng sàn nhà ngăn cách giữa chúng tôi.

“Này anh bạn,” tôi nói, “Em thế nào rồi?” “Chào anh Joe”, nó trả lời.

Khi Jeremy bắt đầu lên cấp hai, thị trấn cử một giáo viên tên là Helen Bollinger đến hỗ trợ thằng bé.

Cô ấy có hiểu biết về chứng tự kỷ, hiểu nhu cầu của Jeremy cho những thói quen và cách sống của nó, thằng bé thích được một mình, ghét động chạm hay bị động chạm, và nó không có khả năng hiểu được những gì vượt quá những nhu cầu cơ bản nhất, giữa trắng và đen.

Trong khi cô Bollinger cố gắng vật lộn để cứu Jeremy ra khỏi bóng tối của nó, mẹ tôi lại không khuyến khích thằng bé lắng nghe và thấu hiểu. Đó là một trận chiến vật vã kéo dài trong bảy năm, nhưng đối với cô Bollinger, cô ấy đã thắng hơn là thua. Ngay khi Jeremy tốt nghiệp trung học phổ thông, tôi đã hoàn toàn có một người em trai có khả năng trò chuyện, mặc dù thằng bé phải vật lộn để nhìn vào tôi khi chúng tôi nói chuyện.

“Em đã nghĩ rằng anh đang ở trường,” Jeremy nói trong khi chật vật phát ra từng chữ một như thể thằng bé đang sắp xếp mỗi từ vào một dây chuyền sản xuất một cách cẩn thận.

“Anh quay lại để gặp em,” tôi nói.

“Ồ, vâng.” Jeremy quay lại với bộ phim yêu thích. Tôi lại tiếp tục, “Mẹ gọi cho anh, mẹ nói mẹ có một cuộc họp và sẽ không về nhà trong một vài ngày.”

Nói dối Jeremy chẳng hề khó, tính tin tưởng vô điều kiện của thằng bé không có khả năng nhận diện được sự lừa dối. Tôi không hề ích kỷ khi nói dối thằng bé. Đây chỉ là cách mà tôi giải thích với nó về mọi việc mà không quá phức tạp hoặc quá nghiêm trọng khi nói ra sự thật. Đây là lần đầu tiên mẹ tôi tự đâm đầu vào trung tâm giải độc rượu, tôi nảy ra ý định nói dối rằng bà đang phải đi họp. Sau đó, tôi nói với Jeremy rằng mẹ phải đi họp mỗi khi bà đến một trong các sòng bạc Ấn Độ hay không tự chủ được và qua đêm tại nhà một gã nào đó. Jeremy không bao giờ hỏi về những cuộc họp ấy, không bao giờ băn khoăn tại sao một số cuộc họp chỉ kéo dài trong vòng vài giờ đồng hồ, một số khác lại kéo dài đến vài ngày, không bao giờ vặn vẹo rằng những cuộc họp ấy diễn ra thật đột ngột.

“Đây là một trong những cuộc họp kéo dài,” tôi nói. “Vì vậy em sẽ đến ở với anh trong một vài ngày.”

Jeremy ngừng hướng mắt lên bộ phim đang chiếu và bắt đầu nhìn quanh sàn nhà, một rãnh nhỏ bắt đầu hình thành trên đôi lông mày thằng bé. Tôi có thể nói rằng thằng bé đang cố gắng giao tiếp bằng mắt với tôi, một nhiệm vụ mà không hề dễ dàng gì với thằng bé. “Có thể em sẽ ở lại đây và chờ mẹ về”, thằng bé lên tiếng.

“Em không thể ở lại đây. Anh phải đến lớp học vào ngày mai. Anh sẽ đưa em đi cùng đến căn hộ của anh.”

Câu trả lời của tôi không phải là những gì nó muốn được nghe. Tôi có thể nói như vậy vì thằng bé không cố gắng nhìn vào mắt tôi nữa, đó là một dấu hiệu của sự lo lắng đang bắt đầu dâng lên trong lòng Jeremy. “Có lẽ anh có thể ở lại đây và đến lớp vào sáng mai.”

“Lớp học của anh trong trường đại học. Phải đi mất khoảng hai giờ đồng hồ từ đây, anh không thể ở lại đây, em trai ạ.” Tôi vẫn giữ vẻ bình tĩnh nhưng rất cứng rắn.

“Có lẽ em sẽ ở lại đây một mình”.

“Em không thể ở lại đây, Jeremy. Mẹ nói rằng em phải đi với anh. Em có thể ở phòng của anh trong trường đại học.”

Jeremy bắt đầu chà xát ngón tay cái bên trái vào các đốt ngón tay phải của mình. Thằng bé thường làm điều này khi cảm thấy ngôn ngữ của mình trở nên không có trọng lượng. “ Có lẽ em sẽ chờ ở đây, ở đây.” Tôi ngồi xuống chiếc ghế dài bên cạnh Jeremy.

“Việc này sẽ rất vui đấy,” tôi nói. “Sẽ chỉ có hai chúng ta, anh và em thôi. Anh sẽ mang theo đầu đĩa DVD, và em có thể xem bất kỳ một bộ phim nào mà em muốn. Em có thể mang một túi thật to, với tất cả những chiếc đĩa DVD mà em thích.”

Jeremy mỉm cười.

“Mẹ sẽ không quay lại trong một vài ngày tới, và anh muốn em sẽ cùng anh đến căn hộ mà anh đang ở, được chứ?”

Jeremy suy nghĩ trong một lát rồi khó khăn đưa ra quyết định, “Em có thể mang theo Cướp biển vùng Caribe được không?”

“Chắc chắn rồi,” tôi nói. “Chuyến đi này sẽ rất vui đấy. Chúng ta sẽ cùng làm cho nó trở thành một chuyến phiêu lưu. Em sẽ là thuyền trưởng Jack Sparrow, còn anh sẽ là Will Turner. Em sẽ nói gì nhỉ?”

Jeremy ngước lên nhìn tôi và bắt chước điệu bộ của thuyền trưởng Jack, nhân vật mà thằng bé yêu thích nhất và nói, “Đây là ngày mà ngươi sẽ luôn luôn ghi nhớ, đó là ngày ngươi đã gần như tóm được thuyền trưởng Jack Sparrow ta.” Rồi thằng bé cười khanh khách cho đến khi đôi má mình đỏ ửng, và tôi cũng cười cùng thằng bé, theo cái cách mà tôi luôn cười khi Jeremy pha một trò đùa. Tôi vơ lấy một vài chiếc túi đựng rác và đưa một chiếc cho Jeremy để thằng bé thu dọn đống DVD và quần áo của mình, tôi kiểm tra để chắc chắn rằng thằng bé đã mang đủ đồ để dùng phòng trong trường hợp mẹ tôi không được tại ngoại.

Trong khi lái xe ra khỏi nhà, tôi bắt đầu tính toán lại lịch làm việc và lịch học của mình, cố gắng để chừa lại những khoảng thời gian trống dành cho việc chăm sóc Jeremy. Và hơn tất cả, những câu hỏi mơ hồ bắt đầu lởn vởn trong đầu tôi.

Jeremy sẽ làm thế nào để có thể làm quen được với thế giới xa lạ trong căn hộ của tôi?

Tôi sẽ kiếm đâu ra thời gian và tiền bạc để bảo lãnh cho mẹ được tại ngoại? Và làm thế quái nào để mà tôi lại trở thành cha mẹ ở cái gia đình tan nát này?

❀ ❀ ❀

[1] 10* Cuộc thám hiểm của Lewis và Clark (1804-1806), do Meriwether Lewis và William Clark dẫn đầu, là cuộc thám hiểm trên bộ đầu tiên của người Mỹ đến duyên hải Thái Bình Dương và ngược lại.

Dịch thuật: Trịnh Thúy Ngân
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 27 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.