Cuộc Sống Tự Chôn Vùi

Lượt đọc: 216 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 30

❊ ❊ ❊

Vì chúng tôi phải chăm sóc cho Jeremy, Lila và tôi phải đợi đến ngày thứ hai của tuần kế tiếp để tiết lộ thông tin đã tìm được cho cảnh sát. Trong thời gian đó, cả ba chúng tôi đã cùng ăn mừng Lễ Tạ ơn trong căn hộ nhỏ bé của chính mình, một bữa tiệc hoàn hảo với khoai tây nghiền, việt quất, bánh bí ngô, và món gà nướng mà tôi bảo Jeremy đó là gà tây loại mini. Đó có lẽ là buổi lễ Tạ ơn tuyệt vời nhất của cả tôi và thằng bé từ trước tới giờ. Vào buổi chiều chủ nhật hôm đó, sau khi đã ngốn hết sạch tiền ở sòng bạc, mẹ tôi qua để đón Jeremy. Tôi có thể nói rằng, thằng bé không hề muốn rời đi. Thằng bé ngồi trên chiếc ghế, lờ đi sự xuất hiện của mẹ cho đến khi cuối cùng bà phải thể hiện sự nghiêm khắc của mình và yêu cầu thằng bé đứng dậy. Sau khi họ rời đi, Lila và tôi sắp xếp lại các ghi chú của cuốn nhật ký và những bản dịch mà chúng tôi sẽ mang tới sở cảnh sát vào ngày hôm sau, sau buổi học. Chúng tôi dường như không thể kiềm chế sự phấn khích của mình.

Văn phòng Cảnh sát Thụ lý các vụ giết người Minneapolis có một trụ sở tại Minneapolis City Hall, một tòa nhà cũ kĩ nằm giữa lòng thành phố. Những đường nét hoa văn hình mái vòm mang lại cho lối vào tòa nhà một phong cách kiến trúc Richardsonian cổ điển trước khi dẫn vào lối hành lang có lối kiến trúc của một nhà tắm thời kỳ La Mã hơn là theo phong cách Richardsonian thời kỳ Phục hưng. Những bức tường ở đây đều được lát bằng những phiến đá cẩm thạch cao khoảng mét rưỡi. Phía trên, có ai đó đã sơn những bức tường thành một màu thạch cao giống như màu của cây hoa vân anh trộn lẫn với nước cà chua. Các hành lang chạy theo chiều dọc của khối nhà, rẽ qua trái, và đi đến một nửa dãy tòa nhà khác hoặc tương tự như vậy trước khi chúng tôi có thể đến phòng 108, trụ sở thụ lý các vụ án giết người Homicide Division.

Lila và tôi cung cấp tên cho một nhân viên ở quầy lễ tân, người đang ngồi phía sau một tấm kính chống đạn, rồi sau đó chúng tôi ngồi ở dãy ghế dành cho khách và chờ đợi. Khoảng hai mươi phút sau, một người đàn ông đi vào khu vực dành cho khách chờ, một khẩu Glock 9mm đeo bên hông phải ông ấy và một huy hiệu được gắn lên thắt lưng phía bên trái. Ông ấy rất cao, với khuôn ngực dày dặn và bắp tay cuồn cuộn như thể ông ấy có thể bẻ được những song sắt trong sân nhà tù. Nhưng ông ấy lại có một đôi mắt từ bi, khiến cho vẻ bề ngoài của ông ấy trở nên nhẹ nhàng hơn, và một giọng nói rất nhẹ nhàng, có lẽ nhẹ hơn khoảng hai hay ba quãng mà tôi từng nghĩ. Lila và tôi là hai người duy nhất đang ngồi ở khu vực ghế chờ. “Joe? Lila?” Ông ấy hỏi đồng thời đưa tay ra. Chúng tôi lần lượt bắt tay ông ấy. “Vâng thưa ngài.” Tôi nói.

“Tôi là thám tử Max Rupert,” ông ta nói. “ Tôi được thông báo là các bạn có thông tin về một vụ án giết người?”

“Vâng, thưa ngài,” tôi nói. “Đó là về vụ án giết Crystal Hagen.”

Viên thám tử Rupert nhìn ra chỗ khác như thể ông ấy đang tìm cái tên đó trên một danh sách xuất hiện trong đầu mình. “Cái tên đó không hề gây ấn tượng đối với ta.”

“Cô ấy đã bị giết vào năm 1980,” Lila nói.

Rupert khó khăn chớp mắt một vài lần, nghiêng đầu sang bên như một chú cún chợt nghe được một âm thanh bất ngờ. “Cô nói là năm 1980 ư?”

“Cháu biết ngài có thể nghĩ chúng cháu là những người có suy nghĩ lập dị, nhưng hãy cho chúng cháu chỉ hai phút thôi. Nếu ngài nghĩ chúng cháu toàn nói những chuyện tào lao sau hai phút, thì chúng cháu xin phép rời khỏi đây. Nhưng câu chuyện của chúng cháu làm cho ngài hiểu ra vấn đề, thậm chí dù chỉ một chút thôi, thì có thể ngoài kia đang có một kẻ giết người vẫn nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật.”

Rupert nhìn vào đồng hồ của mình, thở dài và búng ngón tay, vẫy chúng tôi đi theo ông ấy. Chúng tôi đi qua một căn phòng nhỏ và rồi bước vào một căn phòng với một chiếc bàn làm bằng vật liệu đơn giản và bốn chiếc ghế gỗ xung quanh. Lila và tôi ngồi một bên chiếc bàn đó và mở những tập tài liệu mà chúng tôi mang theo.

“Hai phút,” Rupert nói và chỉ vào đồng hồ của mình. “Bắt đầu.”

“Ừm… ừm…,” tôi đã không nghĩ rằng ông ấy sẽ chỉ cho chúng tôi đúng hai phút , và điều này khiến tôi có chút bối rối. Tôi tập trung suy nghĩ và bắt đầu. “Vào tháng 10 năm 1980, một nữ sinh mười bốn tuổi tên là Crystal Hagen đã bị cưỡng bức và giết hại. Thi thể của cô ấy đã bị cháy trong một căn nhà kho trong khu nhà của người hàng xóm tên là Carl Iverson, người đã bị buộc tội giết cô ấy. Một trong những chứng cứ quan trọng của vụ án này là một cuốn nhật ký.” Tôi chỉ vào tập tài liệu được buộc trong chiếc dây màu đỏ, và Lila lấy cuốn nhật ký ra. “Đây là nhật ký của Crystal,” Lila nói, đặt tay mình lên trên xấp tài liệu.

“Công tố viên khi ấy đã sử dụng một số trích đoạn từ cuốn nhật ký này và cho thấy rằng Carl Iverson đã rình rập cô bé và ép buộc cô bé phải quan hệ tình dục với mình. Ông ta đã sử dụng cuốn nhật ký này làm bằng chứng để buộc tội Iverson. Nhưng trong cuốn nhật ký này lại có một vài dòng mật mã.” Lila mở cuốn nhật ký tới đoạn được mã hóa đầu tiên.

“Hai người lấy thứ này ở đâu?” Rupert nhặt những tờ giấy về cuốn nhật ký lên và lật qua chúng. “Hãy nhìn vào những con số này?” Ông ấy chỉ tay vào những con số được đóng dấu bên dưới cùng của mỗi trang giấy. “Những trang này đều đã được đóng dấu,” ông ấy nói. “Đây là chứng cứ trong vụ án này.”

“Đó là những gì mà chúng cháu đã trình bày với ngài,” tôi nói. “Chúng cháu lấy nó từ luật sư của Iverson. Chúng đều có mặt trong phiên tòa xử ông ấy.”

“Hãy nhìn vào những mật mã này,” Lila nói, chỉ cho Rupert những trang nhật ký có mật mã. “Vào tháng 9 năm 1980, Crystal bắt đầu viết những mật mã này.

Không có quá nhiều, chỉ thi thoảng. Họ chưa bao giờ giải mã chúng để đưa ra trong phiên xét xử.”

Rupert đọc qua cuốn nhật ký trong giây lát, cho tới những trang bị mã hóa.

“Được rồi… và sao nữa?” Ông ấy hỏi.

“Và…” Tôi nhìn vào Lila. “Chúng cháu đã giải mã được chúng. Ồ thực tế là chính cô ấy đã giải mã chúng.” Tôi chỉ vào Lila, người đang lấy ra những tờ giấy từ tập tài liệu của mình với tất cả các bài viết được mã hóa, tiếp theo là các văn bản giải mã, cô ấy rải các tờ giấy ra trước mặt thám tử Rupert.

Ngày 21 tháng 9 - Hôm nay là một ngày tồi tệ - 7,22,1 3,1,14,6,13,25,17,24,26,21,22,19,19,3,19. Mình đang rất sợ hãi. Điều này thực sự rất rất tồi tệ.

Ngày 21 tháng 9 - Hôm nay thật là một ngày tồi tệ – Mình không thể tìm ra chiếc kính. Mình đang rất sợ hãi. Điều này thực sự rất rất tồi tệ.

Ngày 28 tháng 9 - 25,16,14,11,5,13,25,17,24,26,21,22, 19,19,3,19. Nếu mình không làm theo những gì ông ta muốn, ông ta sẽ nói chuyện này với tất cả mọi người. Ông ta sẽ vùi dập cuộc sống của mình.

Ngày 28 tháng 9 - DJ tìm thấy kính của mình. Nếu mình không làm theo những gì ông ta muốn, ông ta sẽ nói chuyện này với tất cả mọi người. Ông ta sẽ vùi dập cuộc sống của mình.

Ngày 30 tháng 9 - 6,25,6,25,25,16,12,6,1,2,17,24,2,22, 13,25. Mình ghét ông ta. Mình cảm thấy thật kinh tởm.

Ngày 30 tháng 9 - Mình đã làm chuyện ấy với DJ, bằng tay. Mình ghét ông ta. Mình cảm thấy thật kinh tởm.

Ngày 8 tháng 10 - 25,16,12,11,13,1,26,6,20,3,17,3,17, 24,26,21,22,19,19, 3,19,9,22,7,8. Ông ta vẫn tiếp tục dọa nạt mình. 2,3,12,22,13,1,19,17,3,1,11,5,19,3,17,24,17,11,5,1,2.

Ngày 8 tháng 10 - DJ không trả lại kính cho mình. Ông ta vẫn tiếp tục dọa nạt mình. Ông ta muốn mình dùng miệng.

Ngày 9 tháng 10 - 6,26,22,20,3,25,16,12,2,22,1,2,3,12, 22,13,1,3,25. Ông ta ép mình. Mình muốn chết. Mình muốn giết ông ta.

Ngày 9 tháng 10 - Mình đã cho DJ thứ mà ông ta muốn. Ông ta ép mình. Mình muốn chết. Mình muốn giết ông ta.

Ngày 17 tháng 10 - 25,16,17,22,25,3,17,3,25,11,6,1,22 ,26,22,6,13,2,3,12,22,19,10,11,5,26,2.6,1,2,5,10,1.

Ngày 17 tháng 10 - DJ bắt mình phải làm chuyện đó một lần nữa. Ông ta thật thô bạo. Đau quá.

Ngày 20 tháng 10 - 6,1,19,10,22,18,3,25,16,19,10,22,18,6,13,26,17,3. Điều này có nghĩa là hành vi cưỡng bức. DJ đã cưỡng bức mình. Bà Tate đã nói với mình như vậy. Bà ấy nói rằng độ tuổi khác nhau thì có nghĩa là ông ta chắc chắn sẽ phải vào tù. Hôm nay, chuyện đó sẽ chấm dứt ở đây. Mình thật hạnh phúc.

“Câu chuyện về chiếc kính bị mất là như thế nào?” Ruper hỏi.

Tôi giải thích câu chuyện của chúng tôi về Andrew Fisher, về việc ông ta và Crystal đã lấy cắp chiếc xe, làm hỏng nó, và để lại bằng chứng về hành động của mình qua một bên mắt kính từ chiếc kính mắt của Crystal. “Ngài thấy đấy,” tôi nói, “Bất cứ ai tìm thấy mảnh kính mắt đó chắc hẳn đều phải biết về vụ ăn cắp xe và chiếc kính. Ông ta biết ông ta có bằng chứng để kiểm soát cô ấy, làm đòn bẩy để cô ấy… ông biết đấy, thực hiện những hành vi kia.”

Rupert tựa vào sau chiếc ghế, nhìn lên trần nhà. “Vì vậy ông Carl bị kết tội dựa vào một phần của cuốn nhật ký này?”

“Vâng”, tôi nói. “Công tố viên đã nói với bồi thẩm đoàn rằng Iverson bắt gặp Crystal trong một trạng thái nhạy cảm với bạn trai, và ông ta đã sử dụng nó để buộc Crystal có quan hệ tình dục với mình.”

Lila nói thêm. “Nếu không giải mã được những mã số này, sẽ chẳng có cách nào biết chắc chắn được ai là người đã cưỡng bức cô ấy.”

“Hai người có biết DJ là ai không?” Ông ấy hỏi. “Đó là cha dượng của cô bé,” Lila nói. “Tên ông ấy là Douglas Joseph Lockwood.”

“Và hai người nghĩ rằng đó chính là ông ta chỉ vì tên ông ta là Douglas Joseph?” Rupert nói.

“Đúng vậy,” tôi nói, “Và trên thực tế, ông ta đã quản lý một bãi xe nơi Crystal ăn cắp chiếc xe đó, vì vậy ông ta chắc hẳn sẽ biết về chiếc kính. Nhân viên cảnh sát điều tra về vụ trộm chắc hẳn đã không hề nhắc tới vấn đề này khi đến bãi xe đó.”

“Chúng cháu còn có những bức ảnh này,” Lila nói và lấy ra hai tấm ảnh, một bức cho thấy tấm rèm cửa đang được đóng lại và bức còn lại cho thấy có ai đó đang nhìn trộm ra ngoài trong khi đáng lẽ sẽ không có một ai ở trong nhà theo lời khai của nhân chứng.

Rupert nghiên cứu hai bức ảnh, lấy ra một chiếc kính lúp từ trong ngăn kéo tủ để xem kĩ hơn từng bức ảnh. Rồi ông ta đặt lại những bức hình xuống bàn, xếp hai tay lại với nhau, đối nhau theo từng đầu ngón tay, và vỗ vỗ chúng trong khi nói. “Hai người có biết Iverson đang ở trong nhà tù nào không?” Ông ấy hỏi. “Ông ấy không còn ngồi tù nữa,” tôi nói. “Ông ấy đang chết dần vì căn bệnh ung thư, vì vậy họ đã ân xá y tế cho ông ấy đến một viện dưỡng lão ở Richfield.”

“Thế thì hai người không phải đang cố gắng giúp ông ấy ra khỏi tù ư?”

“Ngài Rupert,” tôi nói. “Carl Iverson có thể sẽ qua đời trong một vài tuần nữa. Cháu muốn giải oan cho ông ấy trước khi ông ấy chết.”

“Theo nguyên tắc thì chúng ta không thể làm như vậy.” Rupert nói. “Tôi không biết các bạn là ai. Tôi cũng không hề biết về vụ án này. Các bạn bước tới đây với câu chuyện về cuốn nhật ký và những mã số kia, và các bạn muốn tôi phải bào chữa cho anh chàng Iverson này. Tôi không phải là Đức Giáo hoàng. Một người nào đó sẽ đào bới những tập tài liệu của chúng tôi ra khỏi nơi cất giữ, xem qua nó, và xác minh rằng những gì hai người đang nói gần đúng với sự thật. Và rồi, kể cả nó có đúng đi chăng nữa, ai sẽ đảm bảo rằng hai người đã đúng về người có tên là DJ này. Tôi không biết một chút gì về những bằng chứng khác. Có thể cuốn nhật ký chẳng liên quan gì ở đây cả. Có lẽ sẽ có một lời giải thích khác cho những bức ảnh này. Các bạn đang yêu cầu tôi mở lại cuộc điều tra đã cách đây ba mươi năm, khi mà một anh chàng bị buộc tội bởi một ban bồi thẩm, khi chẳng còn nghi ngờ nào. Không chỉ có vậy, người đàn ông kia không còn phải ở tù nữa, ông ta đang sống trong một nhà dưỡng lão.”

“Nhưng nếu những gì chúng cháu nói là đúng,” tôi nói, “thì sẽ có một kẻ giết người vẫn nhởn nhơ ở ngoài kia suốt ba mươi năm nay.”

“Các bạn có hay đọc báo không?” Rupert hỏi. “Các bạn có biết có bao nhiêu vụ giết người mà chúng tôi có trong năm nay không?”

Tôi lắc đầu.

“Chúng tôi có đến ba mươi bảy vụ từ đầu năm cho tới giờ: ba mươi bảy vụ án giết người trong năm nay. Chúng tôi đã có mười chín tất cả vào năm ngoái. Chúng tôi không có đủ nguồn lực để giải quyết các vụ giết người đã xảy ra ba mươi ngày trước chứ không nói đến là ba mươi năm trước.”

“Nhưng chúng cháu đã phá án rồi,” tôi nói. “Tất cả việc ngài phải làm là chỉ việc xác nhận nó thôi.”

“Không dễ thế.” Rupert bắt đầu xếp các chồng giấy tờ vào với nhau như thể thông báo rằng cuộc nói chuyện của chúng tôi đã kết thúc. “Các bằng chứng phải đủ sức thuyết phục lãnh đạo của tôi để cho mở lại vụ án này. Sau đó lãnh đạo của tôi phải thuyết phục văn phòng luật sư thành phố rằng họ đã hơi nhầm lẫn và luận tội sai cho một người vào ba mươi năm trước. Sau đó, cậu phải đi tới tòa án và thuyết phục thẩm phán tuyên án lại. Giờ thì cậu nói là Iverson chỉ còn lại vài tuần để sống. Thậm chí, nếu tôi có thực sự tin vào cậu - Và tôi không nói là tôi sẽ làm - chẳng có cách nào để tuyên án lại một lần nữa trước khi ông ấy chết.”

Tôi không thể tin vào tai mình những gì vừa nghe thấy. Lila và tôi đều đã cảm thấy rất hào hứng khi chúng tôi giải được mật mã. Sự thật đó đã nhảy ra khỏi trang giấy và hét vào mặt chúng tôi. Chúng tôi biết rằng Carl vô tội. Tôi nghi ngờ rằng thám tử Rupert cũng hiểu rõ sự thật này, sự thật mà khiến ông ấy phải thốt lên rằng “Chúng tôi đang rất bận” để làm cái cớ để bỏ qua vụ án khó nuốt trôi này. Tôi hiểu rõ về hồ sơ của Carl, đủ để hiểu những nguồn tài liệu không lồ mà họ đã ném vào vụ án này khi họ nghĩ rằng Carl có tội.

Nhưng giờ đây - giờ đây khi chúng tôi có thể chứng minh rằng ông ấy vô tội - toàn bộ hệ thống pháp luật này đã trở nên quá đỗi “gỉ sét”. Và có vẻ như thật không công bằng chút nào. Rupert đưa lại cho tôi tập tài liệu. “Được rồi,” tôi nói. “Cháu không quá rảnh việc để đến đây và kể cho ngài biết rằng ông ấy vô tội bởi vì cháu đã thấy một điều viển vông trong một cái bát đựng ngũ cốc hay nghĩ mình đang nói chuyện với một vật vô tri. Chúng cháu sẽ mang những chứng cứ này đi. Và ngài sẽ chẳng phải làm bất cứ điều gì hết vì ngài đang bị thiếu nguồn lực ư? Thật là nhảm nhí.”

“Nào, chờ đã…”

“Không. Ngài cứ chờ đi,” tôi nói. “Nếu ngài đã nghĩ rằng chúng cháu chỉ là lũ nói ra những điều tầm bậy, và đuổi chúng cháu ra khỏi đây, thì chúng cháu sẽ hiểu. Nhưng ngài đã không buồn nhìn nhận nó chỉ bởi vì ngài đang bận ư?”

“Đó không phải là những gì ta đã nói…” “Vậy thì ngài sẽ xem xét nó ư?”

Rupert giơ tay lên ra hiệu cho tôi ngậm chặt miệng lại. Ông ấy xem xét tập tài liệu trước mặt tôi, rồi đặt tay và cúi xuống bàn. “Hãy làm điều này,” ông ấy nói. “Tôi có một người bạn làm cho một “dự án vô tội” tên là Innocence Project.” Rupert thò tay vào túi áo, lấy ra một tấm danh thiếp, và viết một cái tên vào phía đằng sau tấm danh thiếp đó. “Tên anh ta là Boady Sanden. Anh ta là một luật gia tại trường đại học luật Hamline.” Rupert đưa nó cho tôi. “Tôi sẽ lục ra những tài liệu trong kho, trong trường hợp nó vẫn còn ở đó, và cậu liên hệ với Boady. Có thể anh ta sẽ giúp đỡ. Tôi sẽ làm những gì có thể ở phần cuối của vụ án, nhưng đừng có quá hy vọng. Nếu người đàn ông đó thật sự vô tội, Boady có thể giúp đưa những bằng chứng đó trở lại tòa.”

Tôi nhìn vào tấm danh thiếp với tên của Rupert nằm ở một mặt và tên của luật gia Sanden nằm ở mặt còn lại. “Hãy nói Boady gọi cho tôi,” Rupert nói. “Tôi sẽ nói cho anh ta biết rằng chúng ta có những tài liệu gì ở đây, bất cứ thứ gì.”

Lila và tôi đứng dậy để ra về.

“Và này Joe,” Rupert nói. “Nếu đây là một cuộc rượt đuổi ngỗng hoang, thì tôi sẽ gọi cho cậu. Tôi không thích bị túm áo chạy quanh vì những thứ vớ vẩn. Rõ chưa?

“Crystal.” Tôi nói.

Dịch thuật: Trịnh Thúy Ngân
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 27 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.