Chúng tôi tìm thấy Andy Fisher thông qua một thư mục sinh viên trên trang Facebook của trường trung học. Andy, giờ đã là một người đàn ông trưởng thành dưới cái tên Andrew, đã thừa hưởng một công ty bảo hiểm từ người cha của mình, và điều hành một văn phòng tại khu thương mại phía đông thung lũng Golden, bang Minnesota. Andrew Fisher trông có vẻ không già đi là mấy. Mớ tóc trẻ con của ông ta đã biến mất, thay thế bằng một khoảng hói bao phủ hầu khắp đỉnh đầu, lan rộng từ phía sau gáy lên phía trước, để lại một vạt tóc mỏng cong queo dọc trên trán như một cọc hàng rào đã cũ.
Vòng eo quá khổ của ông ta đè nặng lên chiếc thắt lưng da có vẻ như đã làm việc quá sức, và những quầng thâm dai dẳng đã hằn sâu dưới mắt. Ông ta ngồi trong một văn phòng ván gỗ rẻ tiền với những bức tường được trang trí với những giải thưởng câu cá và săn bắn.
Khi chúng tôi bước vào, Andrew bước vào khu vực lễ tân đang trống hoác để tiếp đón chúng tôi, tay ông ta đưa ra để bắt tay tôi. “Tôi có thể giúp gì được cho cậu?” Ông ta nói, với sự thích thú của một người bán hàng. “Không, chờ đã, để tôi đoán xem.”
Ông ta liếc nhìn ra khung kính của chiếc xe Accord đã hoen gỉ của tôi và mỉm cười.
“Cậu đang muốn tìm mua một chiếc xe hơi mới và cần báo giá bảo hiểm?”
“Thực ra thì,” tôi nói, “Chúng cháu đang hy vọng ông sẽ nói chuyện với chúng cháu về Crystal Hagen.”
“Crystal Hagen?” Nụ cười bỗng biến mất khỏi khuôn mặt ông ta. “Anh là ai?”
“Cháu là Joe Talbert. Cháu là sinh viên của trường U, và đây là… ừm... ”
“Cháu là bạn cùng lớp của cậu ấy, Lila,” cô ấy nói. Tôi tiếp tục, “Chúng cháu đang viết một câu chuyện về cái chết của Crystal.”
“Tại sao?” Ông ta nói. “Chuyện này đã xảy ra quá lâu rồi.” Ông ta trông có vẻ buồn trong giây lát, rồi như giũ sạch tất cả quá khứ, ông ta tiếp tục. “Ta đã để lại tất cả mọi chuyện ở đằng sau. Ta không muốn nói về nó thêm nữa.”
“Điều này rất quan trọng.” Tôi nói.
“Nó quan trọng như thế nào?” Ông ta hỏi. “Đó là chuyện quá xưa rồi. Họ đã bắt một gã tên là Carl Iverson. Hắn ta sống ngay cạnh nhà cô ấy. Giờ ta nghĩ hai người nên rời khỏi đây.” Ông ta quay lưng lại với chúng tôi và bắt đầu bước chân vào văn phòng mình.
“Nếu chúng cháu nói với chú rằng chúng cháu nghĩ Carl Iverson vô tội...”
Lila nói, cô ấy thi thoảng lại bật ra những lời lẽ mà không cần phải suy tính trước. Chúng tôi nhìn nhau, và cô ấy nhún vai. Fisher dừng lại ở ngưỡng cửa văn phòng mình, hít một hơi thật sâu, nhưng không quay lại phía chúng tôi.
“Tất cả những gì chúng cháu muốn là một chút thời gian của ông,” tôi nói.
“Sao điều này lại cứ mãi đeo đẳng lấy mình?” Andrew thì thầm với chính mình khi ông ta đi nốt quãng đường còn lại dẫn vào văn phòng. Chúng tôi đã không rời đi. Ông ta ngồi vào bàn làm việc của mình, không thèm nhìn chúng tôi, vây quanh ông ta là những chiếc đầu thú. Chúng tôi chờ đợi. Rồi, chẳng cần nhìn lên, ông ta giơ hai ngón tay lên và ra hiệu cho chúng tôi vào. Chúng tôi bước vào phòng, ngồi vào chiếc ghế dành cho khách, nằm ở phía đối diện, và cũng không biết phải bắt đầu từ đâu. Rồi ông ấy mở lời. “Có nhiều đêm ta thấy cô ấy trong giấc mơ của mình, đó là cái cách mà cô ấy trở lại bên ta - ngọt ngào… tươi trẻ. Rồi giấc mơ ấy trở nên tối tăm, và chúng ta đang ở trên một nghĩa địa. Cô ấy chìm dần xuống mặt đất và gọi tên ta. Đó là khi ta thức dậy, mồ hôi tuôn ra lạnh toát.” “Cô ấy gọi tên ông ư?” Tôi hỏi. “Tại sao? Ông có làm gì sai đâu? Phải không?”
Ông ta lạnh lùng nhìn tôi. “Vụ án đó đã làm khuấy đảo cuộc sống của ta.”
Tôi biết rằng mình nên tỏ ra cảm thông hơn, nhưng khi nghe gã đàn ông này rên rỉ hai chữ “khổ thân tôi” thì nó lại chèo lái tôi đi theo một con đường sai lầm. “Nó cũng cướp đi cuộc sống của Crystal nữa,” tôi nói. “Ông không nghĩ thế sao?”
“Này, con trai,” Andrew giơ ngón tay mình lên ra hiệu. “Cậu mà lại gần đây là tôi đá đít cậu ra khỏi đây rồi đấy!”
“Đó chắc hẳn đã là một khoảng thời gian khủng khiếp với ông,” Lila chen ngang, nói bằng một giọng an ủi, hiểu rõ rằng mật ong thì luôn là thứ mà gấu thích nhất.
“Khi đó ta mới mười sáu tuổi,” Andrew nói. “Cho dù ta có không làm gì sai đi chăng nữa, thì mọi người vẫn luôn đối xử với ta như một con hủi. Mặc dù họ đã bắt giữ gã Iverson đó, nhưng luôn có những tin đồn nổi lên rằng ta đã giết cô ấy.” Những lớp cơ trên xương hàm Andrew giật giật như những tia xúc cảm vụt qua gò má. “Cái ngày mà người ta chôn cất cô ấy, ta đã đến bên và rải một nắm đất lên chiếc áo quan… sau khi họ đã hạ quan tài xuống huyệt đạo. Mẹ cô ấy ném cho ta một cái nhìn lạnh toát sống lưng - như thể cái chết của Crystal là lỗi của ta vậy.” Hai bên khóe môi Andrew trùng xuống như thể ông ta sắp khóc. Ông ta lấy chút thời gian để giữ bình tĩnh. “Ta chưa bao giờ quên ánh mắt đó - một lời buộc tội trong mắt bà ấy. Đó là những gì ta nhớ nhất khi nghĩ về cái ngày họ chôn cất Crystal.” “Thế ra mọi người đã nghĩ ông là kẻ sát hại Crystal,” tôi nói.
“Mọi người thật ngu ngốc,” ông ta nói. “Bên cạnh đó, nếu ta giết bất cứ ai, thì ta cũng không cần gã luật sư biện hộ chết tiệt đó.”
“Luật sư biện hộ ư?”
“Ông ta là người đã tung ra các tin đồn rằng ta giết cô ấy. Ông ta nói với bồi thẩm đoàn rằng ta đã làm điều đó. Thật là một đồ chó cái. Nó được ghi rành rành trong giấy tờ. Ta hồi đó mới chỉ có mười sáu tuổi, vì Chúa.”
“Ông là người cuối cùng nhìn thấy cô ấy còn sống,” tôi nói. Andrew nheo mắt nhìn tôi và trong một giây suy nghĩ, tôi đã làm tới. “Chúng cháu đã đọc lời khai trong buổi thẩm vấn,” tôi thêm vào.
“Và vì thế, cậu biết rằng ta đã thả cô ấy ở trước cửa nhà và lái xe đi,” ông ta nói. “Cô ấy vẫn còn sống khi ta rời khỏi đó.”
“Đúng vậy,” Lila nói. “Ông đã thả cô ấy xuống, và nếu cháu nhớ không lầm thì, ông đã nói cô ấy ở nhà một mình.”
“Ta chưa bao giờ nói rằng cô ấy ở một mình; ta nói ta không nghĩ rằng có ai đó khác ở nhà. Nó rất khác nhau mà. Nơi đó trông có vẻ vắng vẻ đối với ta, vậy thôi.”
“Ông có biết cha dượng của cô ấy đang ở đâu không?” Lila hỏi. “Hoặc là anh trai kế?”
“Bây giờ thì làm sao mà ta biết được?” Ông ta nói. Lila nhìn vào tờ giấy ghi chép của mình, giả vờ như đang cố nhớ lại điều gì. “Ồ, theo như lời khai của Doug Lockwood - cha dượng của Crystal - thì ông ấy và Danny lúc đó đang ở trong xưởng sửa chữa ô tô khi Crystal bị giết.”
“Nghe có vẻ đúng,” ông ta nói. “Người đàn ông đó sở hữu một bãi xe ô tô cũ. Ông ta đã cấp phép cho mẹ của Crystal và cả Danny với tư cách là người bán xe vì vậy họ có thể lái bất kỳ chiếc xe nào trong bãi xe đó. Tất cả những gì họ cần làm là chỉ việc dán nhãn của đại lý lên chiếc xe họ đi.”
“Vậy Danny cũng là một nhân viên bán hàng ư?”
“Chỉ trên giấy tờ thôi. Ngay khi anh ta đủ mười tám tuổi, anh ta sẽ được cấp giấy phép đó. Anh ta là một trong những đứa trẻ đang ở giai đoạn quá độ. Sinh nhật của anh ta rơi đúng vào ngưỡng mà anh ta có thể vừa làm một đứa trẻ nhỏ tuổi nhất trong lớp học của mình hoặc có thể giữ anh ta ở lại thêm một năm nữa và anh ta có thể trở thành đứa trẻ lớn tuổi nhất trong lớp. Và họ đã giữ anh ta lại.” Andrew dựa lưng vào ghế. “Theo cá nhân ta mà nói, ta luôn cho rằng Danny là một con lừa.”
“Tại sao?” Tôi hỏi.
“Ồ, bắt đầu thế nào nhỉ, gia đình đó đã cãi vã rất nhiều. Mẹ của Crystal và cha dượng của cô ấy liên tục cãi vã nhau, và thường là về Danny. Danny không thích bố anh ta kết hôn với mẹ Crystal. Theo cái cách mà Crystal kể với tôi, thì Danny luôn đối xử với mẹ cô ấy không ra gì - theo cái kiểu gây sự đánh nhau. Và sau đó là về những chiếc ô tô.”
“Những chiếc ô tô ư?” Lila hỏi.
“Vì cha của Danny sở hữu bãi xe đó, Danny được quyền chọn bất cứ chiếc xe nào trong bãi để lái đến trường. Khi Danny đã chính thức là một công dân, anh ta được cha mình trao cho một chiếc xe - chiếc Grand Prix màu anh đào - như một món quà giáng sinh sớm.”
Đó là một chiếc xe rất tuyệt, nhưng… ý ta là…cậu trông sẽ rất ngầu trong chiếc xe đó nếu chính cậu là người mua nó và tự sửa chữa nó, bởi vì chiếc xe đó nói lên cậu là ai. Đó là xe của chính cậu - cậu tự kiếm tiền để mua nó. Nhưng hắn ta lại lái chiếc xe đó đi xung quanh như một gã thộn. Ta không biết nói thế nào nữa. Theo cái cách đó, trông hắn ta như một con lừa.”
“Thế còn người cha dượng thì thế nào?” Lila hỏi. “Một kẻ mộ đạo thực thụ,” Andrew nói. “Ông ta thường hành động theo tín ngưỡng, nhưng đối với ta mà nói thì ông ta thường dựa vào kinh thánh để chống trả lại bất cứ cuộc tranh cãi nào mà ông ta muốn. Có một lần, khi mẹ Crystal phát hiện ra người đàn ông đó đã đến câu lạc bộ thoát y. Hắn nói cho mẹ cô ấy về việc chúa Jesus cũng từng đi chơi với gái và những người thu thuế - vì vậy, việc hắn nhét những tờ đô la vào những chiếc quần lót kia là quá đỗi bình thường.”
“Thế quan hệ giữa ông ấy và Crystal thì sao?” Tôi hỏi.
Andrew đã bất giác rùng mình như thể ông ta vừa mới ăn phải một nồi cá hồi nấu chưa chín. “Cô ấy ghét hắn,” ông ta nói. “Ông ta thường thu hẹp những tự do của cô ấy dựa vào quyển kinh thánh. Thường thì cô ấy không hiểu nổi ông ta đang nói gì. Một lần, ông ta nói với cô ấy rằng cô ấy nên biết ơn vì ông ta không phải là Jephthah[1]. Chúng ta đã tìm hiểu về điều đó.” “Jephthah… Nhân vật này có trong kinh thánh sao?” “Ừm, từ cuốn Book of Judges[2]. Ông ta đã hy sinh con gái mình cho Thiên Chúa để có thể giành chiến thắng trong một cuộc nội chiến. Ý tôi có nghĩa là, ai lại có thể kể những thứ như thế cho một cô bé ở tuổi thiếu niên cơ chứ?”
“Ông đã bao giờ nói chuyện với Danny hay với Doug về những gì xảy ra vào ngày hôm đó chưa?” Lila hỏi.
“Ta chưa bao giờ nói với ai về chuyện này. Ta chỉ khai với cảnh sát và sau đó cố gắng giả vờ như chưa từng có chuyện gì xảy ra. Ta đã không hề nói về nó cho đến khi phiên tòa diễn ra.”
“Ông cũng dự phiên tòa ư?” Tôi hỏi.
“Không. Ta chỉ đến để họ lấy lời khai và bỏ đi.” Ông ta nhìn xuống chiếc bàn giống như Jeremy vẫn thường nhìn đi chỗ khác để lẩn trốn cái nhìn của tôi mỗi khi nó không muốn trả lời câu hỏi tôi đưa ra.
“Ông không hề quay lại để xem một chút nào ư?” Tôi nhấn mạnh.
“Ta có xem phần kết thúc tranh luận,” ông ta nói.
“Ta nghỉ học ở trường để xem phần kết thúc của phiên tòa. Ta nghĩ ban bồi thẩm sẽ có một phán quyết ngay lập tức giống như trên truyền hình.”
Tôi cố gắng nhớ lại liệu mình đã từng đọc phần kết thúc tranh luận trong bản tường trình trước đó chưa. “Cháu cho rằng các công tố viên đã nói về cuốn nhật ký của Crystal trong phần bế mạc.”
Mặt cắt không một giọt máu, khuôn mặt Andrew chợt chuyển sang màu gạch vữa của những thợ sửa ống nước. “Ta nhớ cuốn nhật ký đó,” ông ta nói, giọng chùng xuống. “Ta thậm chí không biết Crystal đã giữ cuốn nhật ký đó cho đến ngày hôm đó, khi các công tố viên tổng kết lại tất cả những chứng cứ lên cho bồi thẩm đoàn.”
“Các công tố viên cho rằng ông Iverson đã ép buộc Crystal phải làm điều gì đó với ông ta… tình dục, bởi vì ông ta bắt gặp hai người… ông biết đấy.”
“Ta vẫn nhớ,” Andrew nói.
“Crystal đã bao giờ nói với ông về điều này chưa?” Tôi hỏi. “Về việc bị bắt gặp hoặc ông Iverson đã đe dọa cô ấy? Ý cháu là những điều đó… cháu không thể hiểu được. Các công tố viên cứ vin vào cái cớ đó. Bồi thẩm đoàn đã lấy nó làm chứng cứ, nhưng ông cũng có mặt ở đó. Liệu điều đó có thực sự là những gì đã diễn ra không?”
Andrew cúi người về phía trước, dụi hai lòng bàn tay vào mắt, những ngón tay của ông ta vươn dài tới đỉnh đầu trọc lốc. Ông ta từ từ vuốt ngón tay mình xuống mặt, xuống mắt và hai gò má, sau đó xếp chúng lại với nhau thành một góc vuông trên môi. Ông ta nhìn qua nhìn lại tôi và Lila, dự liệu cho chúng tôi biết những điều đang đè nặng trong tâm trí ông ta. “Hai người còn nhớ tôi đã kể rằng tôi thức dậy trong những giọt mồ hôi lạnh toát chứ?” Cuối cùng, ông ta cũng lên tiếng.
“Vâng,” tôi nói.
“Đó là vì cuốn nhật ký đó,” ông ta nói. “Các công tố viên đã sai lầm, ông ta đã sai về tất cả.”
Lila cúi thấp mình. “Hãy kể cho bọn cháu nghe đi,” cô ấy nói bằng một chất giọng ngọt ngào, an ủi và dỗ dành để Andrew trút bỏ mọi nỗi niềm trong tâm mình.
“Ta đã không nghĩ nó là quan trọng, ý ta là… nó có lẽ không quan trọng đến như vậy. Ta không biết gì cho đến khi ta đến phiên tòa và nghe ông ta kết thúc tranh luận, họ nói ông Iverson đã bắt gặp chúng ta: Crystal và ta…”, Andrew ngừng lại. Ông ta vẫn nhìn về phía chúng tôi, nhưng lại ngoảnh mặt đi như thể ông ta đang cảm thấy xấu hổ về bất cứ điều bí mật gì mà ông ta đang giữ trong lòng.
“Thế ông và Crystal thì sao?” Lila hỏi.
“Đó là sự thật,” Andrew nói. “Ông ta đã bắt gặp chúng ta. Crystal đã cảm thấy lo sợ vì điều đó. Nhưng trong phiên tòa, công tố viên đã có một kết luận sai lầm, ông ta nói rằng Crystal nghĩ rằng cuộc đời của cô ấy sẽ bị vùi dập bởi chúng ta bị bắt gặp khi đang… ừm, cậu biết đấy. Ông ta đã nói với ban bồi thẩm rằng cô ấy đã viết nhật ký vào ngày 21 tháng 9, và nói rằng cô ấy đã có một ngày thực sự tồi tệ. Ông ta nói cô ấy cảm thấy sợ hãi khi ông Iverson đã tống tiền cô bé hay làm một điều gì đó tương tự. Cuốn nhật ký đó chẳng ghi gì về chuyện chúng ta bị bắt gặp khi đang thân mật với nhau.”
“Làm sao ông biết được điều đó?” Tôi hỏi.
“Ngày 21 tháng 9 là ngày sinh nhật của mẹ ta. Crystal gọi cho ta vào đêm hôm đó. Cô ấy muốn ta gặp cô ấy. Nhưng ta đã không làm vậy. Ta không thể làm như vậy. Chúng ta đã tổ chức một bữa tiệc sinh nhật cho mẹ. Crystal như bị mất trí.”
“Crystal có kể với ông tại sao cô ấy lại cảm thấy sợ hãi không?” Tôi hỏi.
“Có.” Andrew ngừng nói, quay ghế lại, lấy chiếc cốc và một chai rượu Scotch nhỏ ra khỏi chiếc kệ phía sau lưng, rót khoảng ba đốt rượu vào chiếc cốc và uống một nửa số rượu đó. Rồi ông ta đặt chiếc cốc và chai rượu xuống bàn, khoanh tay lại và tiếp tục.
“Cha dượng của Crystal có một vài chiếc xe thực sự tuyệt vời trong bãi của mình, một trong những số đó là chiếc 1970 Pontiac GTO màu đồng với một động cơ lướt gió phía sau. Đó là một chiếc xe rất đẹp.” Ông ta nhấp một ngụm rượu khác. “Một đêm vào khoảng giữa tháng 9, Crystal và ta đang nói chuyện về chiếc xe đó. Ta nói với cô ấy rằng ta đã mơ ước được lái chiếc xe giống như vậy, và cuộc sống của ta bất công ra sao. Cậu biết đấy, những chuyện tầm phào của bọn trẻ trung học. Và cô ấy nói rằng bọn ta có thể lấy chiếc GTO đó và đi một vòng. Cô ấy biết nơi cha dượng mình giữ những chiếc chìa khóa dự phòng ở văn phòng và nơi chìa khóa của chiếc xe đó được cất giữ. Tất cả những gì bọn ta cần làm chỉ là để lại mọi thứ nguyên vẹn trở về chỗ cũ. Vì vậy bọn ta đã lái chiếc xe Ford Galaxy 500 tồi tàn của ta đến bãi xe của cha dượng cô ấy, và mọi chuyện diễn ra như những gì cô ấy nói. Bọn ta tìm thấy chìa khóa của chiếc GTO và lấy nó đi một vòng.”
“Lúc đó ông mới là một học sinh cấp ba?” Lila nói. “Đúng. Ta cũng chỉ là một trong những đứa trẻ mới lớn đó, giống Danny. Ta vừa mới có bằng lái xe vào tháng 8 năm đó sau khi ta bước sang tuổi mười sáu.”
“Trộm xe ư?” Tôi nói. “Đó là những gì cô ấy cảm thấy phiền lòng ư?”
“Mọi chuyện trở nên tồi tệ hơn,” ông ta tiếp tục. Ông ta hít một hơi thật sâu, và thở nó ra thành một tiếng thở dài. “Như ta đã nói, ta vừa mới chỉ có bằng lái xe khoảng một tháng trước, và ta chưa bao giờ lái chiếc xe nào với động cơ mạnh mẽ như vậy. Ta không thể ngừng chạy đua hết từ cột đèn đỏ này đến cột đèn đỏ khác. Chúng ta đã có quãng thời gian tuyệt đẹp cho đến khi…” Ông ta đã uống cạn cốc rượu, liếm láp những giọt cuối cùng còn đọng lại trên môi. “Ta đã bay trên Đại lộ Central, có lẽ là đi với tốc độ bảy mươi dặm một giờ - trời đất ơi, ta thật là ngu xuẩn. Một lốp xe bị nổ. Ta đã cố gắng để giữ chiếc xe lại, nhưng chúng ta đã vượt qua làn đường và va phải một bên của một chiếc xe khác - một chiếc xe của đội cảnh sát - hoàn toàn trống không - đỗ ngay phía trước một tiệm bán đồ ăn. Sau đó, ta đã đọc báo và được biết rằng cảnh sát đang ở phía sau của tiệm ăn để giải quyết một vụ đột nhập, vì vậy họ không biết chúng ta đã đâm vào xe của họ.”
“Có ai bị thương không?” Lila hỏi.
“Chúng ta đã không thắt dây an toàn,” Andrew nói. “Cả hai chúng ta đều bị va đập mạnh. Ta bị thương nhẹ trên ngực vì đập vào vô lăng còn Crystal đã đập mặt vào bảng điều khiển. Và cô ấy bị vỡ kính…”
“Kính ư?” Tôi nói. “Crystal đeo kính ư? Tôi đã nhìn những bức hình trong phiên tòa. Cô ấy đã không hề đeo kính.”
“Cô ấy thường đeo kính áp tròng. Nhưng mắt cô ấy bị kích ứng, nên sau đó cô ấy đeo kính có gọng. Và đó là điều kinh khủng khiến cô ấy lo sợ. Một bên kính của cô ấy đã bị rơi ra trong vụ tai nạn.
Chúng ta đã không nhận ra được điều này mãi cho đến sau này. Cô ấy vơ lấy cặp kính mắt từ trên sàn sau vụ tai nạn, và chúng ta cứ thế lái xe nhanh nhất có thể. Ngay khi chúng ta nhận ra một bên kính mắt đã biến mất, đã quá trễ để quay lại. Chúng ta phải mất khoảng một giờ để quay lại xe của ta. Ta nảy ra suy nghĩ là phải phá cửa sổ ở bãi xe và làm nó trông giống như có một ai đó đột nhập và lấy trộm chìa khóa của chiếc GTO. Ngày hôm sau, câu chuyện này đã được phát lên báo đài và tivi. Đó là một vụ lớn vì chúng ta đã đâm phải xe cảnh sát.”
“Đó là những gì mà Crystal lo sợ ư?” Tôi hỏi. “Rằng họ sẽ có thể tìm thấy mắt kính của cô ấy?”
“Không chỉ có vậy,” Andrew nói. “Crystal đã giấu chiếc kính mắt bị vỡ. Chúng ta dự định sẽ mua một cặp kính mới cho cô ấy và muốn chắc chắn rằng chúng ta sẽ mua gọng kính giống hệt như chiếc cũ. Nhưng ngày hôm đó, khi cô ấy gọi cho ta - đúng vào ngày sinh nhật mẹ ta - Crystal nói rằng kính mắt của cô ấy đã bị mất. Cô ấy nghĩ có ai đó tìm thấy bằng chứng rằng chúng ta đã ăn trộm chiếc xe, gây ra vụ tai nạn rồi chạy trốn. Đó là lý do tại sao cô ấy lại lo sợ.”
“Cô ấy đã giấu chiếc kính ở đâu? Ở nhà hay ở trường?” “Thành thật mà nói, ta không biết. Cô ấy chưa bao giờ nói ra. Cô ấy đã rất lạ lùng sau chuyện đó, cô ấy buồn bã và xa cách. Cô ấy trông có vẻ như không muốn ở bên cạnh ta nữa.” Ông ta dừng lại, hít một hơi thật sâu để kiềm chế lại dòng cảm xúc đang dâng lên trong lồng ngực.
“Ta đã không nhận ra nó mãi cho đến khi kết thúc tranh luận - cho đến khi ta nghe thấy từng từ một trong cuốn nhật ký của cô ấy - rằng cô ấy đang bị… ừm… cậu biết đấy.”
“Và ông đã không hề nói chuyện này với bất cứ ai rằng cuốn nhật ký bị hiểu sai ư?” Lila nói.
“Không.” Andrew cúi gằm mặt xuống.
“Vì sao ông không nói chuyện này với luật sư của ông ấy?” Tôi hỏi.
“Gã đó đã nhuốm tên ta trong vũng bùn. Ta chỉ muốn nhổ nước bọt vào mặt hắn hơn là nói chuyện với hắn. Cậu không thể tưởng tượng được nó sẽ như thế nào khi cậu vừa mở một trang báo và nhìn thấy một số luật sư bào chữa buộc tội cậu tội cưỡng dâm và giết hại bạn gái của mình đâu. Ta đã phải đi gặp bác sĩ tâm lý vì tên khốn đó. Bên cạnh đó, ta đã chơi rất tốt để có thể giành được một học bổng về môn bóng rổ của trường Bang Mankato. Nếu ta nói chuyện này với bất cứ ai về việc lấy cắp chiếc xe đó, ta chắc hẳn sẽ bị bắt giữ, bị đình chỉ học, và bị đuổi ra khỏi đội. Ta sẽ mất mọi thứ. Đó là toàn bộ những điều khiến ta phải khốn đốn.”
“Ông là một tên khốn,” tôi nói, cơn giận trong tôi bắt đầu dậy sóng. “Vậy thì, để cháu làm rõ chuyện này nhé. Thay vì làm hỏng cái vỏ bọc của mình, ông đã để cho bồi thẩm đoàn tin vào một lời dối trá.”
“Có hàng nghìn chứng cứ chống lại gã Iverson đó,” Andrew nói. “Vậy thì việc họ hiểu sai về cuốn nhật ký thì cũng có hề hấn gì? Ta sẽ không đời nào thò cổ mình ra để bảo vệ cho gã. Ông ta đã giết bạn gái của ta… phải vậy không?”
Andrew nhìn qua nhìn lại hết Lila rồi đến tôi, và chờ đợi một trong chúng tôi lên tiếng. Chúng tôi đã không thể thốt lên được lời nào. Chúng tôi quan sát ông ta nuốt những nhơ bẩn nơi đầu lưỡi. Chúng tôi đã chờ đợi trong khi lời nói của ông ta vang vọng ra khỏi những bức tường và đột ngột quay trở lại, đập vào vai ông ta như trong truyện Lời thú tội của trái tim của Poe. Lila và tôi chờ đợi trong im lặng cho đến khi cuối cùng, ông ta nhìn xuống mặt bàn và nói. “Ta nên nói chuyện này với một ai đó. Ta biết điều đó. Ta luôn biết mình phải làm điều đó. Ta nghĩ ta đã phải chờ đợi một thời điểm thuận lợi để có thể tống khứ những điều này ra khỏi đầu mình. Ta đã nghĩ tâm trí ta sẽ quên nó vào một ngày nào đó, nhưng ta đã không thể. Như ta đã nói, ta vẫn gặp phải những cơn ác mộng kia.”
❀ ❀ ❀
[1] 30* Jephthah: vị quan xét thứ tám (trong số mười ba vị quan xét) được Đức Chúa Trời dùng để giải cứu dân Israel khỏi sự hà hiếp của dân Am-môn trong thời kỳ quan xét. Ông đã ra tay giết con gái mình để dâng lên làm lễ thiêu cho Chúa.
[2] 31* Cuốn sách Thẩm phán.