Sau trận chiến Hoa Nga ở vùng đông, kể từ khi Liêu hội chiến kết thúc vào cuối tháng 2 năm 1903 và tuần Lữ Thuận hải chiến vào giữa tháng 3, ngoại trừ Lữ Thuận trên lục địa vẫn đang diễn ra giao tranh ác liệt, thì trên chiến trường đông tuyến đã một thời gian dài vắng bóng khói lửa.
Lợi dụng khoảng thời gian chỉnh đốn hiếm hoi này, cả hai bên giao chiến hoặc là đang chuẩn bị cho những động thái lớn, hoặc là đang tích lũy lực lượng, khiến cho cục diện có vẻ như đang ở trong một thế cân bằng mong manh.
Hải quân hai bên là lực lượng tiên phong phá vỡ sự tĩnh lặng giả tạo này, và lý do hải quân có những hành động tích cực hơn lại bắt nguồn từ trên lục địa.
Khi bước vào tuần cuối cùng của tháng 4, cuộc công phòng chiến trên lục địa nhằm vào cứ điểm Lữ Thuận đã diễn ra được khoảng nửa tháng.
Nửa tháng qua là một sự dày vò thực sự đối với hạm đội Sa Hoàng và Makarov trong cảng Lữ Thuận.
Bởi vì hết tin này đến tin khác về việc quân Hoa Hạ liên tục tiến công, khiến họ ngày càng cảm thấy "tổ ấm" của mình không còn an toàn nữa.
Do sự phòng ngự trên lục địa của cứ điểm Lữ Thuận còn thiếu sót nghiêm trọng khi chiến tranh nổ ra, quân đội Sa Hoàng có rất ít công sự để dựa vào trong tác chiến phòng ngự.
Do đó, đối mặt với Tập đoàn quân số 2 chính quy triển khai vây công toàn diện với ưu thế tuyệt đối về binh lực, mặc dù các tướng lĩnh Sa Hoàng như Tư Murs trong Knopf cố gắng tổ chức kháng cự, vòng vây Lữ Thuận vẫn không ngừng thu hẹp.
Và khi chiến đấu tiến đến giai đoạn này, Tập đoàn quân số 2 đã chiếm được các trận địa pháo binh mới nhất, có thể thỏa mãn yêu cầu dùng pháo hạng nặng bắn phá từ xa vào cảng Lữ Thuận.
Mặc dù những cuộc bắn phá này vẫn chỉ là bắn vu vơ, nhưng đối với phân hạm đội Lữ Thuận của Sa Hoàng mà nói, chẳng khác nào "ngồi trong nhà mà họa từ trên trời rơi xuống", bến cảng nhà mình đã mất đi "nóc nhà" để trú ẩn.
Trong nhiều cuộc họp giữa các tướng lĩnh Lục quân và Hải quân cấp cao, Makarov đều nhận được những đánh giá không mấy lạc quan về vấn đề an toàn của cảng Lữ Thuận, điều này khiến ông càng nhận thức rõ hơn rằng cần phải sớm cân nhắc việc rời khỏi Lữ Thuận.
Đối mặt với tình thế này, ông phải đối diện với ba vấn đề hóc búa.
Thứ nhất, do tổn thất trong trận hải chiến hơn một tháng trước, thực lực tổng hợp của phân hạm đội Lữ Thuận đã suy giảm đáng kể, hơn nữa còn nhiều tàu bị thương chưa được sửa chữa hoàn toàn, liệu có nên tiếp tục chờ đợi hay không.
Thứ hai, nếu rời khỏi Lữ Thuận để di chuyển đến nơi khác, thì nên đi đâu.
Thứ ba, làm thế nào để đột phá phong tỏa của Hải quân Hoa Hạ một cách hiệu quả, đồng thời bảo toàn lực lượng chiến đấu.
Thực ra, hai vấn đề đầu tiên tương đối dễ dàng tìm ra đáp án.
Việc có thể rời đi hay không đối với những chiến hạm bị thương phụ thuộc vào tiến độ sửa chữa và thời hạn chót mà hạm đội buộc phải xuất phát.
Còn về hướng di chuyển của hạm đội, dường như chỉ có thể chọn Vladivostok.
Về vấn đề nan giải thứ ba, chỉ có thể dựa vào năng lực cá nhân của Makarov, người lãnh đạo hạm đội cô lập này, đồng thời là trụ cột tinh thần của các thủy binh.
Thực tế, Makarov đã bắt đầu suy nghĩ về kế hoạch phá vây rời khỏi Lữ Thuận kể từ sau trận hải chiến Lữ Thuận, đồng thời chỉ đạo các tham mưu dưới quyền lập phương án cụ thể.
Và khi những viên đạn pháo chính quy đầu tiên rơi xuống cảng Lữ Thuận, cũng cho thấy thời gian phá vòng vây đã không còn xa.
Sau khi suy đi tính lại nhiều lần, Makarov quyết định thời điểm hành động là trước cuối tháng, đồng thời yêu cầu bộ hạ và các ngành liên quan của căn cứ dốc toàn lực chuẩn bị cuối cùng cho việc này.
Khi thời gian đã định không ngừng đến gần, từ trên xuống dưới phân hạm đội Lữ Thuận, đặc biệt là các thủy thủ, đều đang khẩn trương bận rộn, tranh thủ sửa chữa càng nhiều chiến hạm càng tốt để cùng hạm đội xuất cảng.
Đến cái ngày này thật sự tới, đám quan binh của hải quân Sa Hoàng đã chuẩn bị sẵn sàng cũng lên chiến hạm của mình, theo Makarov cùng nhau ra khơi cho một hành trình không định trước.
Kiểm tra tình trạng chiến hạm của phân hạm đội Lữ Thuận lúc này, sau gần nửa tháng dốc sức sửa chữa, các tàu chiến đấu và tàu chiến bọc thép bị thương trong hải chiến Lữ Thuận cơ bản đã được chữa trị.
Tuần dương hạm bọc thép "Ba Dương" và tuần dương hạm phòng hộ "A Tư Khoa Nhĩ Đức" được ưu tiên nên tình trạng khôi phục khá tốt.
Hai chiếc tuần dương hạm phòng hộ còn lại là "Tàu Aurora" và "Dianna" thì kém hơn một chút, chỉ có thể đạt tốc độ tối đa 18 hải lý, nhưng cũng miễn cưỡng theo kịp đội hình.
Trong số 9 khu trục hạm còn lại ở cảng Lữ Thuận, chỉ có 6 chiếc đủ khả năng ra khơi.
Thêm vào đó là tuần dương hạm rải mìn "Amour", tổng cộng có 20 chiến hạm tham gia vào chiến dịch phá vây.
Mang theo những tâm tình phức tạp, mọi người cuối cùng cũng chờ đến ngày xuất phát. Theo mệnh lệnh trước đó của Makarov, hạm đội sẽ bắt đầu rời cảng vào lúc 4 giờ sáng.
Từ khi trời nhá nhem tối hôm trước, cảng Lữ Thuận đã duy trì trạng thái đèn đuốc sáng trưng. Sau 0 giờ không lâu, đội quân nhạc bắt đầu liên tục diễn tấu các khúc quân hành để cổ vũ sĩ khí.
Khi tín hiệu cờ "xuất cảng theo thứ tự" đúng giờ được kéo lên trên cột buồm của kỳ hạm, các hạm đã nhóm lửa và tích đủ áp suất hơi nước cần thiết lần lượt thu neo, có trật tự hướng về phía Lữ Thuận Khẩu, nơi đuôi lão hổ chỉ hướng, chậm rãi tiến tới.
Cùng lúc đó, các thuyền công vụ ở cảng nhanh chóng tiến hành tháo dỡ xiềng xích trên luồng xuất nhập cảng, các thuyền rà mìn dẫn đầu rời cảng, đi quét sạch thủy lôi có thể xuất hiện trên đường hàng hải bên ngoài cảng.
Dưới sự chỉ huy của Makarov, trình độ tác nghiệp xuất cảng của phân hạm đội Lữ Thuận đã đạt đến mức cao chưa từng có.
Ngoại trừ các chiến hạm cỡ lớn cần tàu kéo hỗ trợ quay đầu hướng ra luồng, các chiến hạm cỡ trung và nhỏ đều dựa vào động cơ tự thân để hoàn thành toàn bộ quá trình xuất cảng.
Vì vậy, chưa đầy 4 tiếng sau, các hạm đã hoàn thành đội hình bên ngoài cảng.
Makarov chia 20 tàu chiến thành ba đội hình dọc: đội chủ lực, đội tuần dương hạm và đội khu trục hạm.
Trong đó, đội chủ lực đi đầu toàn bộ đội hình, các hạm xếp theo số hiệu từ trước ra sau như sau:
"Tsesarevich", "Retvizan", "Tàu OslyaBayard", "Thắng Lợi", "Tàu Petropavlovsk", "Tàu Sevastopol", "Tàu Peresvet", "Tàu Navarin" và "Nicola Một Thế".
Cách đội chủ lực nửa hải lý, đội tuần dương hạm theo sau, các hạm theo thứ tự là "Ba Dương", "A Tư Khoa Nhĩ Đức", "Tàu Aurora", "Dianna" và "Amour".
Đội hình 6 khu trục hạm song song với đội tuần dương hạm ở một bên.
Trung tướng hải quân Makarov, tổng chỉ huy hạm đội Sa Hoàng, ngồi trên kỳ hạm dẫn đầu "Tsesarevich", Thiếu tướng hải quân Witt Nhanh Phu Đặc Biệt được chỉ định là chỉ huy thứ hai, ngồi trên hạm số 2 "Retvizan".
Thiếu tướng hải quân Ô Hách Tomes Cơ là chỉ huy đội chủ lực, lấy "Tàu Petropavlovsk" làm soái hạm của mình.
Thiếu tướng hải quân Lôi Sầm Stein phụ trách chỉ huy đội tuần dương hạm, kỳ hạm là "Ba Dương".
Sau khi hoàn thành đội hình, Makarov dẫn đầu biên đội chiến hạm của mình cáo biệt mẫu cảng.
Họ đón ánh bình minh, chậm rãi tiến về hướng chính đông với tốc độ hành quân, bắt đầu một hành trình lành ít dữ nhiều.