Khai Thiên Kích Chiến 1860

Lượt đọc: 3796 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 349
Cường quốc chiến đấu hạm

❊ ❊ ❊

Tựa như khi tàu chiến "không sợ" ra đời, việc Anh quốc bắt đầu xây dựng chiến hạm "siêu cấp không sợ hạm" lại một lần nữa gây xôn xao giới hải quân thế giới.

Có điều, so với ba năm trước, lần này tiếng vang tuy lớn, nhưng tiến độ lại chậm hơn nhiều, có cảm giác "sấm to mưa nhỏ".

Nguyên nhân của hiện tượng này rất nhiều, chủ yếu là do hạn chế kinh tế và tình hình nội bộ của mỗi quốc gia.

Thật vậy, tàu chiến đấu, đặc biệt là chiến hạm, là một "cự thú nuốt vàng". Vào những năm giao thời giữa hai thế kỷ, chi phí chiến hạm của các quốc gia đã vượt quá ngưỡng một triệu bảng Anh.

Bước vào thời đại "không sợ", xu hướng này càng tăng. Các lý thuyết và kỹ thuật mới, trong khi nâng cao hiệu năng tác chiến của chiến hạm, cũng đồng thời tạo ra chi phí leo thang chóng mặt.

Tình huống này khiến ngay cả các cường quốc cũng cảm thấy "lực bất tòng tâm" trong cuộc đua đóng tàu.

So với các quốc gia lục địa, Anh quốc nằm trên đảo có lợi thế lớn hơn.

Do không cần lo lắng đến lục quân, quyền lợi trên biển chiếm vị trí chủ đạo trong tính toán tổng thể của quốc gia, từ đó có thể tập trung quốc lực vào phát triển lực lượng trên biển.

Đây cũng là một trong những lý do Anh quốc thường xuyên xây dựng hạm đội khổng lồ để áp chế đối thủ. Bởi vì chỉ cần đối thủ không thể chuyên tâm vào biển, sẽ khó tránh khỏi nguy cơ kinh tế suy sụp nếu cố duy trì một hải quân ngang ngửa Anh quốc.

Chiêu này của người Anh luôn hiệu quả, và Hải quân Hoàng gia đã trở thành nền tảng quan trọng cho sự huy hoàng "mặt trời không lặn" kéo dài hơn một trăm năm.

Dù hiện tại nước Anh đang "mặt trời sắp lặn", nhưng vẫn giữ vị thế bá chủ thế giới. Để gây áp lực lớn hơn lên đối thủ cạnh tranh, họ lại dùng mánh khóe quen thuộc này. Đồng thời, hạm đội cũng là "bức bình phong" cuối cùng bảo vệ an toàn cho lãnh thổ, nên nhất định phải toàn lực ứng phó.

Ngược lại, đối thủ chính của Anh quốc là Đức, vốn là một quốc gia lục địa truyền thống, lại không có nhiều thuộc địa hải ngoại cần bảo vệ, nên lý do phát triển hải quân hùng mạnh không mấy thuyết phục.

Chỉ vì hoàng đế William II thích "việc lớn, háo công to", Đức mới bắt đầu tiến trình xây dựng hạm đội khổng lồ, và trở thành nguyên nhân quan trọng khiến Anh - Đức đi đến đối đầu.

Người đứng đầu Hải quân Đức là Alfred von Tirpitz. Ông ta thông qua việc chủ trì "Luật Hạm đội", cùng với các dự luật và sửa đổi án hải quân tiếp theo, để thúc đẩy việc xây dựng lại hạm đội Đức, mưu đồ thành lập một hạm đội viễn dương hàng đầu thế giới.

Việc Hải quân Đức mở rộng nhanh chóng, như Churchill đánh giá, là "cường quốc quân sự lớn nhất trên lục địa quyết tâm đồng thời trở thành ít nhất là cường quốc hải quân thứ hai, đây là một sự kiện có ý nghĩa trọng đại trong các vấn đề thế giới."

Fisher thậm chí từng kêu gọi "đả kích kiểu Copenhagen" vào hạm đội Đức.

Có điều, dù sao thì Đức vẫn là một cường quốc lục quân, so với Anh quốc, kinh phí hải quân của Đức luôn hạn chế.

Trước khi "không sợ hạm" xuất hiện, kinh phí hải quân Đức thường thấp hơn Anh quốc một phần ba. Khi bước vào thời đại "không sợ", dự toán hải quân của cả hai nước đều tăng nhanh, nhưng Đức tăng ít hơn.

Lấy năm tài chính 1909-1910 làm ví dụ, dự toán hải quân Anh là hơn 35,3 triệu bảng Anh, còn Đức ước tính khoảng 20,13 triệu bảng Anh.

Đây cũng là năm hai bên gần nhau nhất về số liệu này. Sau đó, tình hình tăng trưởng của Anh càng mạnh mẽ hơn, dự toán hải quân Đức dần bị kéo xuống dưới một nửa so với Anh, cho đến khi cả hai bên tiến tới chiến tranh.

Bởi lý niệm và chiến lược khác biệt, so với Anh quốc, Đức chú trọng khả năng sống sót của chiến hạm hơn, do đó tốc độ và cỡ nòng pháo chính có phần thua kém.

Những chiếc "thiết giáp hạm" đầu tiên của Đức đều sử dụng pháo 280 ly 45 lần kính, quả thực quá bảo thủ.

Mãi đến khi chiếc "Geel Grant" cấp được khởi đóng năm 1908, các chiến hạm tân tạo của Đức mới trang bị pháo 305 ly 50 lần kính và duy trì tiêu chuẩn này trong nhiều năm.

Vì vậy, khi kỷ nguyên siêu thiết giáp hạm đến, Đức - vốn chuộng pháo nhỏ bắn nhanh - đã cân nhắc nhiều mặt trước khi quyết định, chứ không mù quáng chạy theo xu hướng.

Chỉ vì lo ngại chiến hạm mới của Pháp, Đức mới đưa pháo 380 ly 45 lần kính vào thiết kế của "Bavaria" cấp, nhưng đến khi lớp tàu này khởi công thì đã là năm 1914.

Tại châu Âu, một cường quốc khác coi trọng cả lục quân lẫn hải quân là Pháp, lại có một cục diện khác trong phát triển thiết giáp hạm.

Đã từng, Pháp là cường quốc hải quân hàng đầu thế giới, thậm chí tranh bá trên biển với Anh trong một thời gian dài.

Nhưng do khó lòng vẹn toàn cả lục lẫn hải, cộng thêm việc hải quân Pháp đi chệch hướng trong phát triển chiến hạm, cuối cùng họ bị tụt lại phía sau trong việc xây dựng thiết giáp hạm và dần mất đi vị thế vốn có.

Trong bối cảnh đó, Pháp khởi đầu muộn trong lĩnh vực thiết giáp hạm, chiếc "Kolbe" cấp đầu tiên chỉ mới bắt đầu được xây dựng từ năm 1910.

Để xoay chuyển tình thế, chính phủ Pháp thông qua « Dự luật về vị thế hải quân » năm 1912, cho phép hải quân xây dựng một hạm đội hùng mạnh gồm hai mươi tám chiến hạm.

Nhờ gió đông đó, Pháp khởi công chiếc thiết giáp hạm thứ hai ngay trong năm đó, tức "Brittany" cấp.

Trong khi đó, những chiếc siêu thiết giáp hạm đầu tiên của Anh đã lần lượt nhập biên chế.

Bị bỏ lại phía sau, Pháp chỉ có thể cố gắng vươn lên, trang bị pháo 340 ly 45 lần kính cho "Brittany" cấp. Nhờ nỗ lực đó, Pháp cuối cùng cũng gia nhập "câu lạc bộ siêu thiết giáp hạm".

Dù chậm chân, may mắn là Pháp đã đạt được hiệp ước với Anh, theo đó Anh sẽ chịu trách nhiệm đối phó hạm đội Đức, còn hải quân Pháp chủ yếu phụ trách khu vực Địa Trung Hải, giúp họ giảm bớt gánh nặng.

Tại Địa Trung Hải, đối thủ chính của hạm đội Pháp là hải quân Ý và Áo-Hung thuộc phe Liên minh.

Ý, Áo và Nga hoàng tuy thuộc hàng cường quốc nhì châu Âu, nhưng đều có dã tâm về quyền lực trên biển.

Chỉ vì quốc lực có hạn, việc phát triển thiết giáp hạm của ba nước này đều chậm trễ, tương đương Pháp, và đều không đủ sức theo kịp trào lưu siêu thiết giáp hạm.

Số lượng thiết giáp hạm của ba nước này cũng khá hạn chế, trong đó chỉ có Ý là luôn duy trì lực lượng ngang bằng với Pháp để đối phó.

Tại châu Âu và Nam Mỹ, một số quốc gia khác cũng có nhu cầu phát triển thiết giáp hạm vì những lý do riêng.

Nhưng quốc lực của những nước này có hạn, nên việc đóng tàu hoặc là dựa vào nước khác, hoặc chỉ dừng lại trên giấy tờ, không thể sánh bằng một vài quốc gia khác ở những khu vực khác.

Một trong những quốc gia nổi bật đó chính là Mỹ.

Với nền kinh tế mạnh nhất thế giới làm hậu thuẫn, hải quân Mỹ trỗi dậy mạnh mẽ từ yếu thành mạnh.

Hơn nữa, Mỹ cũng như Anh, không có cường địch trên bộ cần phải đề phòng, đúng như những gì Mahan đã luận thuật trong « Bàn về quyền lực trên biển », là quốc gia có lợi thế nhất để phát triển quyền lực trên biển.

Nguyên nhân chính là như vậy. Nước Anh, khi phải đối mặt với sự trỗi dậy đồng thời của hai cường quốc biển là Mỹ và Đức, sau khi cân nhắc kỹ lưỡng các yếu tố như kinh tế, văn hóa, cuối cùng đã chọn bỏ mặc nước Mỹ, dồn sức ngăn chặn Đức.

Nước Mỹ phát triển chiến hạm "không sợ thức" có phần sớm, về thời gian chỉ đứng sau Anh, cùng với Hoa Hạ và Đức thuộc cùng một nhóm, hơn nữa kế hoạch và quy mô đều rất hợp lý.

Sau khi chiến hạm "siêu không sợ thức" xuất hiện, nước Mỹ tuy có chút tụt hậu, nhưng vẫn là một trong những quốc gia sớm nhất bắt đầu theo kịp.

Năm 1911, lớp tàu chiến "New York" trang bị pháo chính 14 inch 45 caliber bắt đầu được xây dựng. Từ đây, nước Mỹ bước qua ngưỡng cửa thời đại siêu không sợ, đồng thời vững bước tiến lên theo lý niệm thiết kế riêng của mình.

Một quốc gia khác có điểm tương đồng với Anh và Mỹ, vốn không cần bận tâm đến lục địa mà có thể chuyên tâm phát triển hải quân, là đảo quốc Nhật Bản.

Chỉ là, do dã tâm của mình, việc xây dựng chiến hạm của Nhật Bản lại đi theo một con đường đặc sắc khác.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 29 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.