Hải quân Lưỡng Giang phòng vệ quân, trong quá trình hoàn thành "Nghị trình mười lăm năm chỉnh quân phòng vệ quân", vừa vặn gặp phải một cuộc đại cách mạng kỹ thuật hải quân.
Nhờ đó, họ kịp thời điều chỉnh kế hoạch, đặt hàng những tàu chiến tân tiến nhất, thay thế cho những tàu chiến bọc thép dự kiến đóng trước đây.
Thật kỳ lạ, nhân loại luôn có thể đem những kỹ thuật tinh túy nhất ứng dụng vào việc tàn sát lẫn nhau, và hầu như luôn nảy sinh những ý tưởng kỳ diệu vô tận trong lĩnh vực này.
Chẳng hạn như, vào cuối năm 1884, một phát minh cực kỳ quan trọng trong ngành công nghiệp quân sự đã lặng lẽ ra đời.
Năm đó, người Pháp là Vieille đã chế tạo ra loại thuốc súng không khói đầu tiên trên thế giới, một loại "thuốc súng đơn chất" chỉ chứa thành phần ni-trát hóa sợi.
Uy lực của thuốc súng không khói lớn hơn nhiều so với thuốc súng đen truyền thống, do đó có thể tăng tầm bắn của viên đạn, cải thiện độ chính xác và đường đạn.
Đồng thời, thuốc súng không khói khi cháy không để lại cặn bã, chỉ sinh ra một ít khói, là một loại thuốc phóng lý tưởng.
Với những ưu điểm rõ rệt như vậy, thuốc súng không khói nhanh chóng được chú ý và ứng dụng rộng rãi vào các loại đạn dược, hỏa pháo và súng ống.
Sự phát triển của các loại vũ khí, nhờ phát minh ra thuốc súng không khói, lại bắt đầu một vòng đổi mới long trời lở đất, chắc chắn sẽ thay đổi mô hình chiến tranh trong tương lai, đặc biệt là ở lục quân.
Năm 1886, khẩu súng trường nạp thuốc súng không khói cỡ nhỏ, dùng đạn kim loại toàn vỏ đầu tiên trên thế giới, súng trường Lebel M1886, ra mắt tại Pháp.
Loại súng trường mới được nghiên cứu dựa trên kỹ thuật mới này, vượt trội rõ rệt so với súng trường cỡ lớn dùng thuốc súng đen truyền thống về mọi mặt, do đó mang ý nghĩa vượt thời đại, được các nước bắt chước rầm rộ.
Về mặt trang bị tiêu chuẩn cho lục quân, Lưỡng Giang từ lâu đã thực hiện tự chủ, đồng thời có năng lực nghiên cứu phát minh và sản xuất tương đối.
Do đó, khi cuộc đại cách mạng trang bị lục quân này xuất hiện, Lưỡng Giang ngay lập tức chú ý đến nó, đồng thời bắt đầu nghiên cứu phát minh súng trường kiểu mới của riêng mình.
Đến năm 1893, loại súng này chính thức được định hình, được gọi là súng trường Quang Tự năm thứ mười chín, cỡ nòng 7.62 ly, tức là cỡ nòng ba ly.
Loại súng này dài 1,255 ly, nòng súng dài 770 ly, nặng 4.1 kg, tầm sát thương hiệu quả là 550 mét, thước ngắm bắn xa 2,200 mét.
Súng sử dụng cơ cấu xoay tròn kéo về phía sau bằng tay, hộp tiếp đạn 5 viên, có thể bắn liên tục, và được trang bị lưỡi lê hình kiếm dài 370 ly.
Súng trường Quang Tự năm thứ mười chín sử dụng đạn kim loại toàn vỏ thuốc súng không khói. Tính năng đáng tin cậy và ưu việt, sau khi được đưa vào trang bị, nó nhanh chóng được sản xuất hàng loạt, trở thành súng trường tiêu chuẩn của phòng vệ quân.
Phát minh ra thuốc súng không khói, ngoài việc ảnh hưởng đến sự phát triển của súng trường cá nhân trong lục quân, còn tạo ra một loại vũ khí hỗ trợ hoàn toàn mới. Đó chính là súng máy Maxim, được cấp bằng sáng chế vào năm 1884.
Súng sử dụng cơ cấu nạp đạn tự động giật ngắn, làm mát bằng nước, nặng 18.2 kg, sử dụng đạn 7.7 mm, băng đạn vải, tầm bắn 2,000 mét, tốc độ bắn đạt 600 phát mỗi phút!
Loại vũ khí ảnh hưởng đến cục diện lục chiến trong tương lai này, nhanh chóng thu hút sự chú ý của Lưỡng Giang. Phòng vệ quân mua số lượng lớn, đồng thời mua cả bằng sáng chế, tiến hành cải tiến và sản xuất hàng loạt.
Sau đó, lục quân phòng vệ quân từng bước thay thế các loại súng máy Gatling và Hotchkiss trước đây bằng súng máy Maxim.
Pháo binh súng máy trong phòng vệ quân cũng dần được thay thế bằng các đơn vị súng máy, đồng thời dần dần được bố trí xuống các doanh trại.
Ngoài ra, hỏa pháo bắn nhanh đã được phổ biến trong hải quân. Lục quân phòng vệ, ngoài việc đổi mới súng ống, cũng đang tích cực nghiên cứu và phát triển pháo dã chiến bắn nhanh. Nghiên cứu này đã đạt được những tiến triển đáng kể, việc trang bị cho bộ đội chỉ còn là vấn đề thời gian.
Trong giai đoạn này, Lưỡng Giang không chỉ phổ biến các hạng mục cải cách quân sự mà còn có những động thái mới trong thể chế chính phủ.
Sau nhiều năm chuẩn bị, cuối năm 1893, Lưỡng Giang cuối cùng cũng công khai chế độ Tham nghị viện hoàn toàn mới và quyết định chính thức thực thi từ năm sau.
Đây là một bước chuẩn bị quan trọng của Lưỡng Giang cho công cuộc kiến thiết đất nước theo hướng dân chủ sau này. Trong đó, Lâm Đông Phương, người luôn tràn đầy nhiệt huyết và toàn lực thúc đẩy việc này, có công lao không nhỏ.
Từ lâu, Lâm Đông Phương đã kỳ vọng Lưỡng Giang có thể xây dựng một chính thể dân chủ. Điều này xuất phát từ những tư tưởng tiến bộ phương Tây mà hắn học được, cũng như từ sự suy tính của hắn về con đường tương lai của Lưỡng Giang, thậm chí là cả Hoa Hạ.
Các tinh anh của Lưỡng Giang đều đã quyết tâm thay đổi toàn bộ Hoa Hạ. Vậy sau khi thay đổi, nên làm như thế nào? Đây là điều đương nhiên phải được đưa vào phạm vi trù bị.
Dù sao, sau khi thành công, không thể đi lại con đường cũ, nếu không chẳng phải là lặp lại vòng tuần hoàn có từ lâu, lại lần nữa bước vào vòng luân hồi số mệnh hay sao?
Bởi vậy, để tránh khỏi sự mờ mịt khi đó, ngay từ bây giờ cần phải định hướng rõ ràng và bắt đầu thúc đẩy.
Nhưng chính trong vấn đề lựa chọn phương hướng này, nội bộ Lưỡng Giang lại tồn tại những bất đồng nhất định, cơ bản chia thành hai loại ý kiến.
Một số người, mà đại diện là Lâm Đông Phương, có thể được coi là "phái dân chủ".
Bọn họ chủ trương tham khảo tư tưởng "tam quyền phân lập" và "chủ quyền tại dân" của phương Tây, phổ biến thể chế dân chủ thuần túy, thành lập chính thể lấy nghị viện làm trung tâm.
Trong khuôn khổ này, họ cho rằng nên dùng nghị viện do bầu cử tạo ra làm cơ quan quyền lực cao nhất, giao toàn bộ quyền lực chính phủ cho đại biểu do dân bầu ra, để họ quyết định tất cả các chính sách lớn nhỏ.
Bằng cách đó, thay đổi hoàn toàn diện mạo có từ lâu của Hoa Hạ, thành lập một nước cộng hòa hoàn toàn mới.
Những nhân vật nắm giữ ý kiến khác thì được gọi là "phái tập quyền".
Họ không đồng ý với quan điểm của "phái dân chủ", cho rằng ý tưởng của đối phương quá lý tưởng hóa. Những phương thức dân chủ đơn giản phù hợp với người phương Tây chưa chắc đã có thể áp dụng được ở phương Đông.
Họ chỉ ra rằng Hoa Hạ có diện tích lãnh thổ rộng lớn, dân số và dân tộc đông đảo. Nếu đem mọi thứ giao cho dân họ quyết định, sẽ rất khó để thống nhất ý kiến, thậm chí có thể dẫn đến phân liệt quốc gia.
Họ không phản đối dân chủ, nhưng chủ trương dân chủ phải dựa trên cơ sở tập quyền. Chính phủ nên lấy chế độ tập quyền làm chủ thể, dân chủ chỉ là phụ trợ, đồng thời giám sát hoạt động của chính phủ.
Trong việc lựa chọn chính thể, "phái tập quyền" đề xướng chế độ quân chủ lập hiến giống như nước Đức. Ít nhất là trong tình hình hiện tại, khi đại đa số dân họ Hoa Hạ vẫn chưa hiểu rõ dân chủ là gì, họ cho rằng quân chủ lập hiến là phù hợp hơn.
Giữa "phái dân chủ" và "phái tập quyền" ở Lưỡng Giang không hề có xung đột. Họ chỉ là có những khuynh hướng khác nhau khi thảo luận vấn đề, và đều xuất phát từ điểm chung là vì sự phát triển lâu dài của Hoa Hạ.
Dù thế nào đi nữa, việc Lưỡng Giang thành lập chế độ Tham nghị viện là một bước tiến quan trọng trong hành trình phát triển, đồng thời đặt nền móng vững chắc cho những cải cách thể chế sâu rộng hơn về sau.
Đương nhiên, chế độ Tham nghị viện hiện tại vẫn chưa thể nói là hoàn thiện, mà chỉ được thiết lập dựa trên tình hình hiện có của Lưỡng Giang.