Để quản lý hiệu quả các địa phương, Hoa Hạ tạm thời vẫn duy trì cơ cấu hành chính ba cấp cơ bản là tỉnh, phủ, huyện.
Trong đó, với các tỉnh đã kiểm soát, trừ tỉnh Hà Bắc trực thuộc trung ương, còn lại đều giữ nguyên tên gọi và tiền lệ cũ.
Ở cấp phủ, dựa trên cơ sở hiện có mà tiến hành điều chỉnh thích hợp, cấp huyện cũng tương tự.
Ngoài ra, bãi bỏ các châu và sảnh trực thuộc, sáp nhập vào các phủ mới hoặc các phủ hiện có.
Sau khi Hoa Hạ thành lập, Lưỡng Giang phòng vệ quân được nâng cấp thành Hoa Hạ quốc phòng quân. Ngoài một số thay đổi tên gọi cần thiết, thể chế và biên chế so với trước kia không thay đổi nhiều.
Tuy nhiên, quân đội đã nhân cơ hội này tiến hành điều chỉnh lớn về cờ xí và quân phục.
Quốc kỳ mới được định là cờ tam sắc hình chữ nhật, trên đỏ, dưới lam, ở giữa có hình chữ nhật màu vàng, tỷ lệ chiều dài và chiều rộng là 3:2.

Quân kỳ lục quân chính quy cũng có tỷ lệ chiều dài và chiều rộng tương tự, kiểu dáng là nền cờ màu vàng, ở giữa thêu một ngôi sao năm cánh lớn màu đỏ.

Quân kỳ hải quân cũng tương tự, chỉ đổi màu ngôi sao năm cánh thành màu lam.

Về quân phục, kiểu dáng của Lục quân và Hải quân cơ bản giống nhau, khác biệt chủ yếu là ở màu sắc.
Áo quân phục là kiểu không cổ, trên cổ áo có phù hiệu, hai bên vai có quân hàm, có thể phân biệt qua phù hiệu, quân hàm và dấu hiệu trên ống tay áo.
Mặt trước áo có bốn túi hình chữ nhật ở ngực và vạt áo, tay áo trái có băng tay để đánh dấu binh chủng và đơn vị.
Quần quân phục là quần dài, khi làm nhiệm vụ thường quấn thêm xà cạp.
Ngoài ra, để ứng phó với các mùa và khí hậu khác nhau, quân đội còn được trang bị áo khoác dài có mũ, áo mưa, áo khoác và áo bông quần các loại.
Bất kể là Lục quân hay Hải quân, mũ lính đều có hai loại: mũ có mái hiên cứng và mũ mềm. Mũ cứng thường dùng trong các dịp chính thức, mũ mềm được sử dụng rộng rãi hơn trong huấn luyện và thực chiến.
Màu sắc mũ lính thống nhất với màu quân phục tương ứng. Đặc biệt, mũ của thủy binh Hải quân còn có hai dải băng rua màu đen dài.
Về màu sắc quân phục, Lục quân dựa trên kinh nghiệm thực chiến nhiều năm, sau khi nghiên cứu và cân nhắc kỹ lưỡng, quyết định thống nhất điều chỉnh thành màu xanh lục hạt dẻ, đồng nhất từ trên xuống dưới.
Hải quân vẫn giữ truyền thống, tiếp tục sử dụng hai màu đen trắng. Trang phục mùa đông toàn thân màu đen, trang phục mùa hè màu trắng.
Hải quân lục chiến đội có phần đặc biệt hơn. Ngoài việc tiếp tục sử dụng quân phục hải quân, khi tác chiến trên bộ, họ thường sử dụng quân phục lục quân tùy theo yêu cầu.
Để chấn hưng khí thế quốc gia, cổ vũ lòng dân, thể hiện quân uy, tháng 10 năm 1900, theo yêu cầu của vị tổng thống dân cử đầu tiên Trần Tế Nghi (đã bỏ từ "tạm thời"), quân đội chính quy đã lần lượt tổ chức hai cuộc duyệt binh lớn của Lục quân và Hải quân.
Cuộc duyệt binh trên bộ được tổ chức tại Nam Kinh. Hơn vạn tướng sĩ Lục quân và Hải quân lục chiến đội mặc quân phục kiểu mới, mang theo trang bị chỉnh tề diễu hành, khiến người dân và đại biểu các tỉnh vô cùng phấn khởi, đồng thời phô trương uy nghi trước các vị khách quý từ các nước.
Cuộc duyệt binh trên biển được tổ chức tại vịnh Giao Châu. Hải quân huy động tất cả chiến hạm có thể sử dụng. Anh, Mỹ, Nhật, Pháp và Xiêm La cũng phái tàu tham gia, tạo nên một buổi lễ long trọng trên biển với quy mô không nhỏ.
Nay quốc gia mới thành lập, mọi việc còn dang dở, nhưng áp lực và nhiệm vụ mà Hoa Hạ phải đối mặt vẫn vô cùng gian nan.
Trong khi xử lý tốt các công việc ngoại giao và nội chính, để chuẩn bị cho những nhiệm vụ tiếp theo, quân đội chính quy cần phải tranh thủ thời gian, tiến hành chỉnh quân và chuẩn bị chiến đấu trong giai đoạn nước rút này.
Trong đó, về mặt lục quân, đơn giản mà nói, chủ yếu là mở rộng quân số, huấn luyện nghiêm ngặt và điều chỉnh kế hoạch tác chiến.
So với một năm trước, lục quân đã có số lượng tân binh gấp mười lần.
Với điều kiện thuận lợi này, đương nhiên phải tận dụng, mở rộng quân đội thường trực lên ba mươi lăm sư đoàn, tổng cộng hơn sáu mươi vạn quân.
Số lượng sư đoàn dự bị cũng phải tăng lên hai mươi, mỗi sư đoàn thường có chín vạn người, khi cần có thể vượt quá ba mươi vạn.
Điều quan trọng nhất là phải chấn chỉnh hệ thống nghĩa vụ quân sự trên cả nước, để khi chiến tranh nổ ra, có thể nhanh chóng tập hợp lực lượng, tận dụng tối đa nguồn nhân lực khổng lồ này.
Đối với hải quân, nhiệm vụ quan trọng nhất đương nhiên vẫn là lên kế hoạch tác chiến, ngoài ra còn phải đẩy nhanh tiến độ đóng tàu theo kế hoạch.
Tháng 7 năm 1900 và tháng 1 năm sau, những chiếc chiến hạm kiểu mới đầu tiên sau khi nước cộng hòa thành lập đã lần lượt được khởi công.
Đây là hai chiếc chiến hạm cuối cùng trong kế hoạch hạm đội năm năm, lần lượt do xưởng đóng tàu Thông Châu phụ trách chiếc "Tư Tề" và xưởng đóng tàu Lôi Châu phụ trách chiếc "Thường Võ".
Hai chiếc hạm này hoàn thành vào tháng 7 và tháng 11 năm 1903, chi phí mỗi chiếc là 6.651 vạn Hoa Nguyên.
(Theo ghi chép: Sau khi nước Cộng hòa Hoa Hạ thành lập, Hoa Hạ Nguyên lấy hàm lượng vàng là 1,125 gram vàng nguyên chất, thay thế cho Lưỡng Giang Nguyên trước đây. Như vậy, 6,5 Hoa Nguyên tương đương khoảng 1 bảng Anh.)
Chiến hạm lớp "Tư Tề" được thiết kế dựa trên kinh nghiệm từ các lớp chiến hạm trước đó, đồng thời kết hợp nhiều ý tưởng mới, lần đầu tiên sử dụng kiểu dáng thân tàu dài, cao.
Thân tàu dài 137,8 mét, rộng 22,3 mét, mớn nước 8,1 mét, trọng tải tiêu chuẩn 14.210 tấn, trọng tải đầy tải 15.500 tấn. Mũi tàu thẳng đứng, bố trí hai cột buồm và hai ống khói.
Hệ thống động lực là hai máy hơi nước ba xi-lanh ba tầng giãn nở thẳng đứng, hai trục và hai chân vịt. Trang bị 24 nồi hơi ống nước kiểu Bear Neville, công suất tối đa 18.000 mã lực, tốc độ thiết kế 18,7 hải lý/giờ.
Với lượng than đá tối đa, tàu có thể di chuyển 5.500 hải lý ở tốc độ kinh tế 10 hải lý/giờ. Thường được biên chế khoảng 768 sĩ quan và thủy thủ.
Pháo chính là 4 khẩu pháo 305mm 40 caliber kiểu năm 1900, được đặt trong hai tháp pháo đôi ở đầu và đuôi tàu.
Tháp pháo chính có hình dáng đẹp mắt, lớp giáp dày nhất là 10 inch Anh, đỉnh tháp là 2 inch Anh, bệ pháo là 10 inch Anh.
Pháo phụ là 12 khẩu pháo 152mm 45 caliber kiểu năm 1900, cùng với 16 khẩu pháo 3 tấc Anh 40 caliber kiểu Quang Tự năm thứ hai mươi mốt.
Để cải thiện tầm bắn, pháo 152mm được bố trí trên boong tàu, bên trong các ụ pháo. Lớp giáp dày nhất của ụ pháo là 6 inch Anh.
Các vũ khí khác bao gồm 6 khẩu pháo cao tốc 47mm và 4 ống phóng ngư lôi 18 inch dưới nước ở hai bên mạn tàu.
Các bộ phận quan trọng của lớp "Tư Tề" đều sử dụng giáp Krupp.
Đai giáp chính kéo dài từ trước đến sau tháp pháo chính, mép trên ngang bằng với boong giữa, mép dưới kéo dài xuống dưới đường mớn nước, độ dày tối đa là 9 inch Anh.
Phía trước và sau đai giáp chính có đai giáp đầu và đuôi với chiều cao tương tự, độ dày tối đa là 3,5 inch Anh. Vách ngăn chống nước ngang ở hai đầu đai giáp chính dày 8 inch Anh.
Khả năng phòng thủ nằm ở lớp boong bọc thép kiểu khung giáp, nằm ở vị trí boong chính, phần nằm ngang dày 1,5 inch Anh, phần nghiêng dày 2 inch Anh.
Đài chỉ huy trước và sau đều được bố trí cầu vượt ngang thân tàu, trong đó đài chỉ huy trước có lớp giáp dày nhất là 12 inch Anh, ống thông thẳng đứng là 8 inch Anh. Đài chỉ huy sau đều dày 3 inch Anh. Thiết kế khoang kín nước cũng được hoàn thiện hơn.