Ngày hai mươi ba tháng mười, Chính phủ Nam Kinh tổ chức hội nghị chỉnh biên quân sự toàn quốc. Ngô Thiệu Đình công bố phương án chỉnh biên quân đội các tỉnh do Bộ Quốc phòng hoàn thành trong hai tháng qua. Hội nghị đi đầu công bố quân hàm và chức vụ mới nhất của quân đội Trung Hoa Dân Quốc. Chế độ quân hàm mới tham khảo biên chế quân đội phương Tây, trên cơ sở ba đẳng chín cấp hiện có, mở rộng thành năm đẳng mười bảy cấp, tức là ngoài cấp Tướng, cấp Tá, cấp Úy còn có cấp Sĩ quan và cấp Binh sĩ.
Sĩ quan từ thấp đến cao chia thành Hạ sĩ, Trung sĩ, Thượng sĩ và Sĩ quan trưởng. Binh sĩ từ thấp đến cao chia thành Binh nhì, Binh nhất. Đồng thời, giữa cấp Úy và cấp Sĩ quan, tăng thêm quân hàm Chuẩn úy. Những người thông qua xét duyệt thi vào các trường sĩ quan trực thuộc trung ương chính phủ đều được cấp quân hàm này, dùng làm căn cứ để thăng cấp và điều chuyển. Ngoài ra, trong quân đội, quân hàm cao nhất của sĩ quan cấp Tướng là Thượng tướng cấp một, tiếp theo là Thượng tướng cấp hai.
Thượng tướng cấp một tương đương với cấp bậc Đại tướng trong chế độ quân sự phương Tây. Trong chế độ quân hàm mới ban bố, Bộ Quốc phòng còn cố ý giữ lại một phần thói quen của chế độ quân sự truyền thống Bắc Dương, quy định các quân chủng vinh thăng Thượng tướng một cấp được giữ lại nghi thức khai phủ và ban tặng danh hiệu tướng quân đặc biệt. Tức là, nhà nước sẽ trao tặng Thượng tướng cấp một bảng hiệu phủ tướng quân, cho phép Thượng tướng cấp một thành lập phủ tướng quân của riêng mình, nhưng nghiêm ngặt quy định phủ tướng quân chỉ dùng làm nơi ở, hạn chế diện tích tối đa của phủ tướng quân, đồng thời nhà nước không chi trả các chi phí về đất đai, xây dựng, nhân lực, tất cả chi phí này do tướng quân tự gánh vác.
Bảng hiệu phủ tướng quân và danh hiệu tướng quân đại diện cho vinh dự chính thức, quy định hai hạng mục này vĩnh viễn không được truyền lại theo thế hệ. Thượng tướng cấp một nếu vì tử vong, bị giáng chức hoặc các nguyên nhân khác mà mất đi tư cách vinh dự, nhà nước sẽ thu hồi bảng hiệu và danh hiệu tướng quân.
Đương nhiên, trên danh nghĩa, nhà nước còn đặt ra quân hàm “Đại nguyên soái”, tên đầy đủ là “Trung Hoa Dân Quốc Hải Lục Không Tam Quân Đại Nguyên Soái Nghi Trượng”, là người thống soái tối cao của lực lượng vũ trang Trung Hoa Dân Quốc. Tuy nhiên, quân hàm “Đại nguyên soái” chỉ được trao cho Tổng thống Trung Hoa Dân Quốc. Quy định này không chỉ được liệt kê trong chương trình quân sự, mà trong tương lai gần còn được ghi vào hiến pháp.
Ngô Thiệu Đình sau khi công bố chế độ quân hàm mới, ngay lập tức tuyên bố danh sách các Tướng lĩnh đầu tiên.
Thái Ngạc, Vi Ngươi Thông, Phùng Quốc Chương được phong Thượng tướng Lục quân cấp một. Đường Kế Nghiêu, Tào Côn, Lư Vĩnh Tường, Mạc Cửu Vũ, Long Tế Quang, Hà Phúc Quang, Lý Tế Thâm, Đặng Khanh, Trần Long Lanh Minh, Hứa Sùng Trí, Cố Thành Phẩm Trân, Vương Văn Hoa, Lý Hán Chương và ba mươi chín người khác được phong Thượng tướng Lục quân cấp hai. Ngô Đeo Phu, Tôn Kế Thẳng, Lưu Chấn Hoàn, Dương Hi Mẫn, Lương Hồng Giai, Thái Thành Huân, Tưởng Bách Lý, Lý Hồng Tường, Lý Tuyển Đình, Mã Cẩm Xuân, Nghê Chiếu Điển và bảy mươi bốn người khác được phong Trung tướng. Về phần những người được phong Thiếu tướng thì có hơn một trăm hai mươi người.
Lúc này, chỉ công bố quân hàm Lục quân tạm thời, sau đó Bộ Quốc phòng sẽ công bố quân hàm Hải quân.
Hạng mục thứ hai của hội nghị là ban bố chế độ công trạng huân chương. Ngô Thiệu Đình tuyên bố bãi bỏ các huân chương lớn, Gia Hòa huân chương, Bạch Ưng huân chương, Văn Hổ huân chương, Bảo Quang Gia Hòa huân chương và các chế độ vinh dự khác của chính phủ Bắc Dương, nhưng giữ lại hình dáng của Văn Hổ và Bảo Quang Gia Hòa huân chương, giảm từ chín cấp xuống còn bốn cấp, đồng thời quy định hai loại huân chương này chuyên dùng cho vinh danh trong quân đội. Trong đó, Văn Hổ huân chương là vinh dự về phẩm đức của quân nhân, Bảo Quang Gia Hòa huân chương là vinh dự về chiến công của quân nhân.
Ngoài hai loại huân chương này, huân chương Ưng tam đẳng chế của quân đội Quảng Đông trước đây cũng được giữ lại, dùng để tiếp tục sử dụng cho công trạng của sĩ quan và binh sĩ cấp thấp. Ngô Thiệu Đình còn đặc biệt giao phó, huân chương Ưng là căn cứ để sĩ quan, binh sĩ thăng cấp, đồng thời trao tặng Ưng cho những người bị thương trong chiến tranh và có biểu hiện xuất sắc ngoài chiến tranh, trao tặng Kim Ưng cho những người bị thương nặng trong chiến tranh hoặc lập chiến công xuất sắc, trao tặng Kim Ưng cho những người hy sinh vì đất nước hoặc lập kỳ công xuất sắc.
Về phần huân chương văn công, sẽ do các bộ trong nội các quyết định, sau đó giao cho tổng thống ký phát có hiệu lực, đến lúc đó sẽ công bố sau.
Hạng mục thứ ba của hội nghị cũng là hạng mục quan trọng nhất, nội dung trước đó chỉ là hình thức, hành động quyết đoán thực sự đều tập trung vào phần này. Theo quy định của « Toàn sự tình chỉnh biên kế hoạch định án », quân sự biên chế hiện tại của Trung Hoa Dân Quốc được chia thành ba cấp chiến dịch chiến lược lớn là Tập đoàn quân, Binh đoàn (Quân), Sư đoàn (Chỉnh biên sư), còn lại Lữ, Đoàn, Doanh, được quy nạp vào cấp chiến thuật. Lực lượng vũ trang Trung Hoa Dân Quốc được chia thành ba hàng ngũ chiến đấu chính là Đội Vệ Quốc Cộng Hòa, Sư đoàn Tinh Anh Cộng Hòa và quân đội chính quy.
Đội Vệ Quốc Cộng Hòa thuộc về lực lượng phòng thủ khu vực, theo kế hoạch của Ngô Thiệu Đình, thậm chí không thuộc về quân đội thông thường. Cả nước lấy các tỉnh làm đơn vị, thành lập Bộ Tư lệnh Vệ Quốc Cộng Hòa, lấy tên tỉnh làm tên bộ tư lệnh, như “Bộ Tư lệnh Vệ Quốc Cộng Hòa Vân Nam”, “Bộ Tư lệnh Vệ Quốc Cộng Hòa Sơn Đông”. Mỗi bộ tư lệnh trực thuộc một binh đoàn biên chế, số lượng binh lực cụ thể tùy theo tình hình của các tỉnh mà quyết định, trung ương chính phủ sẽ tiến hành điều chỉnh từng bước trong vòng năm năm tới, lần lượt giảm bớt binh lực của các đội vệ quốc các tỉnh.
Dự kiến ban đầu, Đội Vệ Quốc Cộng Hòa sẽ biên chế thành mười bảy binh đoàn, quản lý bốn mươi chín sư và sáu mươi lăm lữ. Nhưng trong tương lai, trong vòng năm năm, sẽ giảm xuống còn mười ba binh đoàn, quản lý ba mươi mốt sư và hai mươi bảy lữ. Sau khi mệnh lệnh chính thức được ban hành, Bộ Quốc phòng sẽ lần lượt thống kê binh lực cả nước, tiến hành điều chỉnh và cải biên thích hợp.
Huy hiệu của Đội Vệ Quốc Cộng Hòa là khiên sắt mười tám sao, phía sau là một khẩu súng trường kiểu Hán và một con dao quân dụng giao nhau, ngụ ý phòng vệ là trước, tấn công là sau. Quân phục là màu Thiên Lam làm chủ đạo, nhưng xét đến vấn đề tài chính quốc gia và việc sử dụng quân phục tại chỗ quen thuộc, quân phục chỉ là thiết kế dự kiến, tạm thời chưa thi hành.
Dưới sự thiết kế của Ngô Thiệu Đình, Sư đoàn Tinh Anh Cộng Hòa mới là quân đội thông thường của Trung Hoa Dân Quốc.
Sau khi thông qua quy hoạch "Kế hoạch chỉnh biên sự tình toàn bộ", Bộ Quốc phòng quyết định, hai cấp sư tinh anh của nước cộng hòa đều là sư chỉnh biên. Giai đoạn một dự kiến thành lập bảy tập đoàn quân. Ngoài tập đoàn quân Đường Sắt gần kề, cùng Tập đoàn quân 1 phương Nam đang biên chế, và Tập đoàn quân 1 phương Bắc, còn thành lập phân hiệu tập đoàn quân trung ương.
Trong hội nghị, Ngô Thiệu Đình trực tiếp ra lệnh, chỉnh biên cảnh vệ quân Quảng Đông thành hai sư, phân hiệu là sư tinh anh số 5 và số 6 của nước cộng hòa. Đồng thời, chỉnh biên năm sư Quảng Tây thành hai sư, phân hiệu là sư tinh anh số 7 và số 8, hợp lại thành Tập đoàn quân 1 phương Nam. Tổng tư lệnh là Trần Lăng Minh, tổng tham mưu trưởng là Lý Hán Chương, bộ tư lệnh đặt tại Quảng Châu.
Tập đoàn quân 1 phương Nam, ngoài việc quản lý bốn sư tinh anh, còn được phân phối một lữ pháo binh chiến lược, một lữ phòng vệ bờ biển (gồm một tuần dương hạm hạng nhẹ và tám ngư lôi đĩnh), một lữ hải quân lục chiến (tức đội bảo vệ biển Phúc Châu tham gia Hội chiến Hàng Châu), cùng với một đoàn thông tin, một đoàn hậu cần vận chuyển, một đoàn phòng vệ đường sắt. Đồng thời, bộ tư lệnh tập đoàn quân trực thuộc ba công sự phòng thủ biển Hổ Môn, Kim Môn và Phúc Châu. Tổng biên chế là bảy mươi tám ngàn người.
Tập đoàn quân 1 phương Bắc, do yếu tố chính trị, trong thời gian ngắn không thể hoàn thành kiến thiết, chỉ giữ lại phân hiệu tại đại bản doanh Bắc Kinh.
Sư đoàn 1 liên quân phương Nam trước đây được cải tổ thành tập đoàn quân 2 trung ương, bộ tư lệnh đặt tại Trường Sa, Chớ Giơ Cao Vũ làm tổng tư lệnh, Tiêu Diệu Nam làm tham mưu trưởng.
Trước đó, ba mươi bảy sư, ba mươi tám sư và ba mươi chín sư Quảng Đông vốn là sư biên chế cỡ lớn, hiện tại trực tiếp sửa đổi phân hiệu là sư tinh anh số 1, số 2 và số 3 của nước cộng hòa. Trước đó, kỵ binh sư Quảng Đông và sư 5 liên quân phương Nam hợp lại thành sư tinh anh số 4, Lý Tế Thâm làm sư trưởng, Lương Hồng Giai làm phó sư trưởng, Tưởng Quang Nãi làm tham mưu trưởng sư bộ, Tôn Kế Thẳng điều nhiệm quân đội chính quy nhậm chức.
Nơi đóng quân của tập đoàn quân 2 trung ương là toàn tỉnh Hồ Nam, Cán Châu Giang Tây, Thiều Quan Quảng Đông và các vùng Kiềm Nam Quý Châu, ngoài bốn sư tinh anh còn có các lữ chiến đấu, đoàn trực thuộc, toàn quân có bảy mươi hai ngàn quân.
Mặc dù tập đoàn quân 2 trung ương là đội quân chính quy của Ngô Thiệu Đình, nhưng quân số lại ít nhất trong số các tập đoàn quân hiện tại. Điều này là do trong quá trình huấn luyện quân đội chính quy, đã tuyển mộ không ít binh sĩ tại ngũ từ các đội quân này.
Nói Ngô Thiệu Đình không muốn tăng cường đội quân chính quy của mình là nói dối. Xét về quân đội địa phương hiện tại của Trung Quốc, quân Quảng Đông có sức chiến đấu, trang bị và chất lượng nhân sự hàng đầu. Chỉ tiếc là bị hạn chế về địa vực. Quân Quảng Đông tác chiến lâu dài ở phương Nam, chín mươi phần trăm quân lính đều là người phương Nam. Một khi đến phương Bắc, chắc chắn sẽ không chịu nổi khí hậu và môi trường, sức chiến đấu chắc chắn sẽ giảm đi nhiều. Về vấn đề này, chỉ có thể từng bước cải thiện khả năng thích ứng của binh sĩ, không thể nóng vội cầu thành.
Sư đoàn 7 liên quân phương Nam đóng quân ở Vũ Hán được cải tổ thành tập đoàn quân 3 trung ương, Dương Hi Mẫn, Lưu Chấn Hoàn, Mang Khám ba sư cộng thêm quân Ngạc hợp nhất bốn sư, cùng với quân cũ của sư 13 trung ương mới từ cây tranh, ngoài ra còn bao gồm một bộ phận quân Xuyên, quân Điền, cùng nhau chỉnh biên thành sáu sư tinh anh. Phân hiệu là sư 14, 15, 16, 17, 18 và 19, khu vực phòng thủ là toàn bộ khu vực Hoa Trung, cũng liên quan đến một phần khu vực Hà Nam, An Huy, đồng thời phụ trách công tác bảo vệ tuyến đường sắt Kinh Hán. Tổng tư lệnh tùy ý về nước trở về Thái Ngạc đảm nhiệm, còn Ngươi Thông thì đảm nhiệm tổng tham mưu trưởng.
Sau khi tập đoàn quân 3 trung ương được thành lập, quy mô biên chế thậm chí sẽ vượt qua tập đoàn quân Đường Sắt gần kề, toàn bộ binh lực sẽ đạt tới một trăm mười ngàn người, là đội quân lớn nhất thực sự của Trung Hoa Dân Quốc.
Ngô Thiệu Đình sở dĩ cho phép tập đoàn quân 3 trung ương có quy mô lớn như vậy, là vì ông ta đặt rất nhiều kỳ vọng vào đội quân này. Năm đó, trong bảy sư đoàn phương Nam, ngoài đội quân Quảng Đông, sư đoàn 7 dưới sự lãnh đạo của Thái Ngạc có thể nói là đội quân thiện chiến nhất, lần lượt trải qua đại chiến Tứ Xuyên và đại chiến Hồ Bắc, đủ để mang danh hiệu đội quân mạnh. Hơn nữa, quân lính sư đoàn 7 đến từ nhiều tỉnh, không có bất kỳ thành kiến địa vực nào, hiện nay dung nhập binh sĩ quân Ngạc, khả năng thích ứng với khí hậu và môi trường nam bắc càng nhanh hơn.
Về mặt phòng thủ, Hồ Bắc là nơi giao thông trọng yếu, kết nối Đông Nam Tây Bắc, tự nhiên cần một đội quân trọng trang đóng giữ. Mà về mặt xuất binh tiến công, Ngô Thiệu Đình thậm chí dự định từ tập đoàn quân 3 trung ương hoàn thành việc trấn giữ đại bản doanh Bắc Kinh, trực tiếp uy hiếp quân Quan Đông Nhật Bản đóng quân ở ba tỉnh Đông Bắc.