Khai Thiên Kích Chiến 1860

Lượt đọc: 3896 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 396
Tuyển lớn hay tuyển nhỏ

❊ ❊ ❊

Chiếc hàng không mẫu hạm "Yên Sơn" mới toanh của Hoa Hạ mang đậm tính thử nghiệm, kích thước không quá lớn, chi phí ước tính 820,4 vạn Hoa Nguyên.

"Yên Sơn" có chiều dài toàn thân 188,3 mét, rộng 21,3 mét, mớn nước 7,1 mét, trọng tải tiêu chuẩn 10.700 tấn.

Trên tầng cao nhất của thân hạm là boong tàu bằng gỗ dài 176,5 mét, rộng nhất 23,7 mét, thông suốt từ đầu đến cuối.

Hạm được trang bị hệ thống hỗ trợ cất cánh máy bay thế hệ đầu do Hoa Hạ tự nghiên cứu, cùng mười hai dây hãm đà ngang để phanh máy bay.

Phía bên phải boong tàu, gần mạn thuyền, bố trí một kiến trúc dạng đảo nhỏ, phía sau là hai ống khói đặt dọc hàng.

Dưới boong tàu là khoang chứa máy bay kiểu mở, dài khoảng tám phần mười chiều dài boong tàu. Ở hai đầu khoang chứa máy bay, dọc theo trục giữa boong tàu, có hai thang máy để vận chuyển máy bay giữa boong tàu và khoang chứa.

So với khoang chứa máy bay kín, khoang chứa máy bay kiểu mở bất lợi cho việc bảo dưỡng máy bay, dễ bị sóng biển tràn vào khi biển động.

Tuy nhiên, khoang chứa máy bay kiểu mở có kết cấu nhẹ hơn, dễ xây dựng hơn. Khi xảy ra nổ, năng lượng có thể thoát ra ngoài, đồng thời thuận tiện cho việc sửa chữa hư hỏng. Ngoài ra, còn có thể sưởi ấm máy bay trong khoang, thậm chí phóng máy bay trực tiếp từ khoang chứa.

Mũi tàu "Yên Sơn" cũng được thiết kế kiểu mở, có thể thấy rõ các trụ đỡ boong tàu từ bên ngoài.

Về hệ thống động lực, tàu sử dụng hai bộ động cơ hơi nước bánh răng giảm tốc, tám lò hơi đốt dầu nặng, hai trục đẩy.

Tổng công suất là 70.000 mã lực, tốc độ thiết kế 29,5 hải lý/giờ, tầm hoạt động tối đa 7.000 hải lý ở tốc độ 15 hải lý/giờ.

"Yên Sơn" dự kiến chở 30 máy bay cánh cố định, cùng 6 máy bay dự bị, trong đó có 20 máy bay chiến đấu, 4 máy bay dự bị, 10 máy bay ném ngư lôi, 2 máy bay dự bị.

Hạm được trang bị vũ khí tự vệ gồm tám pháo cao xạ 100 ly 40 caliber kiểu 1917 và tám pháo cao xạ 37 ly 70 caliber nòng đôi kiểu 1925. Tổng số thủy thủ trên tàu là 1.082 người.

Theo quy định của "Hiệp ước hạn chế quân bị hải quân", các cường quốc hải quân có thể chọn hai tàu chiến đang đóng để cải tạo thành hàng không mẫu hạm, miễn là không vượt quá tổng trọng tải hàng không mẫu hạm cho phép. Mức trọng tải tối đa cho mỗi tàu cải tạo cũng được nâng lên 33.000 tấn.

Do máy bay trên hàng không mẫu hạm cần tốc độ cao khi cất cánh, các tàu tuần dương đang đóng dở trở thành mục tiêu lý tưởng để cải tạo. Những tàu đã hoàn thành một phần nhưng chưa hạ thủy lại càng là lựa chọn tốt nhất.

Hải quân Mỹ đã chọn hai chiếc "Lexington" từ lớp tàu tuần dương chiến đấu bị loại bỏ để cải tạo thành hàng không mẫu hạm, đó là chiếc "Lexington" hoàn thành khoảng 25% và chiếc "Saratoga" hoàn thành khoảng 35%.

Điều đáng nói là, sau khi hoàn thành cải tạo, trọng tải của cả hai chiếc hàng không mẫu hạm lớp "Lexington" của Mỹ đều vượt quá giới hạn tối đa cho mỗi tàu theo hiệp ước.

Tuy nhiên, người Mỹ đã phát huy hết khả năng "lách luật", tìm ra lỗ hổng trong văn bản hiệp ước, cho phép tàu chiến được trang bị thêm tối đa 3.000 tấn công trình chống ngư lôi và giáp boong chống không.

Người Mỹ cho rằng hàng không mẫu hạm cải tạo từ tàu chiến cũng nên được hưởng ưu đãi này, do đó họ có được "trọng tải tăng cường ngoài định mức" mà không tính vào tổng trọng tải hàng không mẫu hạm của quốc gia đó.

Tương tự như Mỹ, Nhật Bản cũng chọn loại tuần dương hạm "so duệ" cấp có tốc độ phù hợp nhất để cải tạo thành hàng không mẫu hạm.

Cụ thể, hai chiếc được chọn là "so duệ" hào và "trăn tên" hào, cả hai đều đã hoàn thành gần bốn thành.

Nhưng một trận động đất lớn Quan Đông kinh thiên động địa xảy ra vào ngày 1 tháng 9 năm 1923 đã biến phần lớn khu vực Đông Kinh thành phế tích, đồng thời gây ra thảm họa cho xưởng quân sự Hạ Hải.

Trận động đất tâm chấn xảy ra ngay khi nhà máy đang thi công, khiến nhiều chiến hạm, bao gồm cả "so duệ" hào, bị hư hại nghiêm trọng.

Trong đó, "so duệ" hào bị sóng địa chấn nhấc lên cao rồi rơi ầm xuống đài, hư hỏng nặng đến mức không thể sửa chữa.

Đường cùng, Hải quân Nhật Bản đành phải chọn "thêm chúc" hào, một tàu chiến đang được xây dựng lại sau khi bị bỏ hoang, để thay thế "so duệ" hào, tiếp nhận công trình cải tạo thành hàng không mẫu hạm.

Sau khi hoàn thành cải tạo, "trăn tên" hào và "thêm chúc" hào có kết cấu tương tự nhau, nhưng vì "thêm chúc" hào "kiếp trước" là tàu chiến nên tốc độ chỉ đạt 26,7 hải lý, thuộc hàng thấp nhất trong các hàng không mẫu hạm.

Trong khi đó, các quốc gia khác không mấy mặn mà với việc cải tạo chiến hạm thành hàng không mẫu hạm.

Về phía Anh, vì không muốn chiếm quá nhiều trọng tải, họ từ bỏ việc xây dựng chiến hạm tuần dương, thay vào đó đặt mục tiêu cải tiến lên các tàu tuần dương hạng nhẹ cỡ lớn lớp "dũng cảm".

Pháp chỉ chọn một chiếc để cải tiến, đó là tàu chiến "bối á ân" hào vừa mới xây đến boong tàu. Sau khi cải tạo thành hàng không mẫu hạm, tốc độ của nó chỉ đạt 21,5 hải lý, gần như không đủ khả năng tác chiến cùng hạm đội.

Còn Italy thì hoàn toàn không có hứng thú với hàng không mẫu hạm, do đó lĩnh vực này của họ trì trệ trong một thời gian dài.

Hải quân Hoa Hạ cũng rất coi trọng sự phát triển của hàng không mẫu hạm, nhưng lại không có chiến hạm phù hợp để cải tạo.

Hai chiếc tuần dương hạm lớp "Sơn Đông" bị bỏ dở do hiệp ước, chiếc số ba "Tây Tạng" hào và chiếc số bốn "sóc thà" hào đã hoàn thành hơn tám thành, không còn thích hợp để cải tạo nữa.

Vận mệnh cuối cùng của hai chiếc này là cùng với nhiều tàu cũ bị bỏ hoang khác trở thành bia tập bắn, sau khi cống hiến cho hải quân trong việc thử nghiệm và thu thập dữ liệu, họ sẽ chìm xuống đáy biển.

Thực tế, đối với hải quân chính quy, họ vốn đã cho rằng hàng không mẫu hạm cải tạo có nhiều vấn đề do thiết kế ban đầu thiếu sót, gây lãng phí trọng tải.

Vì vậy, dù có tàu phù hợp để cải tạo, Hoa Hạ cũng sẽ không làm, thậm chí còn phản đối chương trình nghị sự về cải tạo hàng không mẫu hạm tại hội nghị Washington, chỉ là không kiên trì đến cùng mà thôi.

Dù là cải tạo hay đóng mới hàng không mẫu hạm, hải quân chính quy cũng gặp phải lựa chọn giống như các nước khác, đó là nên phát triển loại cỡ lớn hay cỡ nhỏ.

Vào thời điểm đó, giới hải quân thế giới có một quan điểm phổ biến, đó là hàng không mẫu hạm công mạnh thủ yếu, một khi boong tàu trúng một quả bom thì rất có thể mất đi sức chiến đấu.

Nếu vậy, hàng không mẫu hạm cỡ lớn chẳng khác nào bỏ trứng vào một giỏ, thà phân tán xây dựng nhiều hàng không mẫu hạm cỡ nhỏ, vừa nâng cao khả năng sống sót vừa duy trì được sức chiến đấu.

Nhưng nếu nhìn xa hơn một chút, người ta sẽ nhận thấy một xu thế, đó là máy bay một cánh kim loại có kích thước và chất lượng lớn hơn, tốc độ cao hơn, sớm muộn cũng sẽ thay thế những chiếc máy bay hai cánh quen thuộc có yêu cầu cất cánh và hạ cánh thấp hơn.

Đến lúc đó, việc vận hành phi cơ trên các hàng không mẫu hạm cỡ nhỏ sẽ trở nên vô cùng khó khăn. Hơn nữa, số lượng máy bay mà một tàu có thể mang theo giảm xuống cũng sẽ khiến giá trị thực chiến giảm đi đáng kể.

Về những vấn đề này, Hải quân Hoa Hạ đã sớm nhận ra ngay sau khi đưa "Yên Sơn" vào sử dụng. Vì lẽ đó, hướng phát triển của các chiến hạm sau này cũng dần trở nên rõ ràng hơn.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 29 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.