Sau khi chiến sự ở đảo Tế Châu kết thúc, mục tiêu tiếp theo của quân đội chính quy dĩ nhiên là đảo Trâu.
Thời điểm này đã là giữa tháng 11 năm 1931. Nhìn lại các chiến trường trong cuộc chiến Hoa - Nhật, trên bán đảo Triều Tiên, lục quân hai bên đã bắt đầu chiến dịch tấn công mùa đông.
Trong khi đó, tại vùng biển Nhật Bản và khu vực biển xa hơn về phía bắc, do các cảng do Hoa Hạ kiểm soát đều đã bước vào kỷ băng hà, khiến cho hoạt động của các chiến hạm mặt nước thuộc phân hạm đội số bảy của quân đội chính quy bị hạn chế rất nhiều.
Vì vậy, hoạt động của quân đội chính quy ở khu vực này chủ yếu dựa vào tàu ngầm phá hoại và không kích, tiếp tục gây uy hiếp cho việc vận chuyển trên biển và các cảng ven biển của Nhật Bản.
Về phía Nhật Bản, sau khi kế hoạch đánh chiếm đảo Tế Châu hoàn toàn thất bại, đảo Trâu lẽ ra phải trở thành điểm tựa chiến lược quan trọng nhất ở phía tây nam.
Bởi lẽ, nếu mất đảo Trâu, quân đội chính quy ở hướng Tế Châu có thể tự do uy hiếp Cửu Châu và vùng ven eo biển Triều Tiên mà không gặp bất kỳ cản trở nào.
Khi đó, phân hạm đội số năm của quân đội chính quy có thể hợp lực với phân hạm đội số bảy, khiến cho tuyến đường biển giữa Nhật Bản và bán đảo Triều Tiên đứng trước nguy cơ bị cắt đứt hoàn toàn, đường lui của lục quân Nhật Bản trên bán đảo cũng sẽ bị đe dọa trực tiếp.
Nếu người Nhật Bản suy nghĩ xa hơn, việc quân đội chính quy từ đảo Tế Châu đổ bộ lên lãnh thổ Tây Nam Nhật Bản sẽ càng giống như cái gai sau lưng, khả năng thành công chắc chắn cao hơn nhiều so với chiến dịch đông chinh Nhật Bản của Hốt Tất Liệt năm xưa.
Cho nên, tử thủ đảo Trâu dường như là việc tất yếu phải làm của quân Nhật trước mắt, nhưng để thực sự làm được lại tồn tại vô vàn khó khăn.
Đảo Trâu nằm liền kề đảo Tế Châu, chỉ là một hòn đảo nhỏ phụ thuộc với diện tích vỏn vẹn 6 km vuông.
Điều này có nghĩa là đảo Trâu thiếu chiều sâu phòng ngự, lại không có tài nguyên để nuôi quân đồn trú trên đảo. Nơi này chỉ có thể miễn cưỡng coi là bàn đạp tiến vào đảo Tế Châu, căn bản không đủ điều kiện phòng thủ độc lập. Nếu không có tiếp tế thường xuyên trên biển, ngay cả việc sinh tồn của liên đội 46 quân Nhật trên đảo cũng khó mà đảm bảo.
Huống hồ, trong chiến tranh công phòng trên biển, hạm đội hải quân đóng vai trò quyết định. Mà hải quân Nhật Bản, sau thất bại ở "Hải chiến Tế Châu", đã suy giảm đáng kể thực lực, khó lòng gánh vác trọng trách này.
Vì vậy, khi đối mặt với phân hạm đội số năm của quân đội chính quy đã được điều chỉnh và trang bị tàu chiến đấu cấp "Bạch Câu II", hải quân Nhật Bản rõ ràng chột dạ và rục rịch ý định rút quân khỏi đảo Trâu.
Đảo Trâu không còn là bàn đạp tấn công, việc phòng thủ lại vô cùng khó khăn. Sau khi cân nhắc lợi hại, đại bản doanh quân Nhật cuối cùng quyết định bỏ đảo Trâu như bỏ một thứ bỏ đi, dồn trọng tâm phòng ngự vào eo biển Triều Tiên và bờ biển Tây Nam Nhật Bản.
Tuy nhiên, mấy ngàn quân nhân lục quân Nhật Bản trên đảo không thể mặc kệ sống chết, cần phải tìm cách rút lui an toàn. Nhiệm vụ này vẫn phải do hải quân Nhật Bản đảm nhận.
Sau khi cân đối bàn bạc giữa lục quân và hải quân, cuối cùng quyết định hải quân sẽ sử dụng tuần dương hạm nhị đẳng, khu trục hạm và tàu ngầm để bí mật vận chuyển quân Nhật trên đảo Trâu theo từng đợt.
Để thực hiện việc này, quân Nhật đã lên một kế hoạch kín đáo, bao gồm vận chuyển lén lút vào ban đêm, hạm đội yểm trợ và các hoạt động đánh lạc hướng. Tất cả những điều này đều phải được giữ bí mật tuyệt đối.
Hành động rút quân bắt đầu sau khi quân đội chính quy tiêu diệt quân Nhật trên đảo Tế Châu ba ngày, dự kiến mất khoảng một tuần. Trước và trong quá trình rút quân, quân Nhật vẫn phải liên tục chuyển vận tiếp tế cho đảo Trâu, để duy trì sự sống và khả năng phòng ngự của quân Nhật còn lại trên đảo.
Trong đợt rút quân đầu tiên, để phân tán sự chú ý của quân đội chính quy, hải quân Nhật Bản còn đặc biệt tổ chức một chiến dịch kiềm chế.
Đêm đó, hạm đội Nhật chia lực lượng kiềm chế thành hai biên đội. Một biên đội do kỳ hạm "Long Điền" thuộc biên đội khu trục lôi thứ ba, một chiếc tuần dương hạm nhị đẳng, dẫn đầu bốn chiếc khu trục hạm kiểu "Hòa Thuận Nguyệt", từ eo biển Tế Châu, hướng đông bắc, chế tạo giả tượng tập kích cảng Tế Châu.
Biên đội còn lại do kỳ hạm "Bắc Thượng" thuộc biên đội khu trục lôi thứ hai, một chiếc tuần dương hạm nhị đẳng, cùng bốn chiếc khu trục hạm kiểu "Thần Phong" tiến sát bờ biển phía tây nam đảo Tế Châu.
Hai biên đội kiềm chế của quân Nhật có ý đồ thu hút sự chú ý của hạm đội chủ lực ở phía bắc và nam đảo Tế Châu, đồng thời đảm bảo an toàn cho bản thân.
Trong khi đó, bốn chiếc khu trục hạm kiểu "Phong Gió" thuộc biên đội khu trục lôi thứ tư, dưới sự chỉ huy của soái hạm mới là chiếc tuần dương hạm nhị đẳng "Đại Giếng", thừa cơ tiến về bờ tây đảo Trâu, sau khi tiếp tế cho đảo thì sẽ rút lui khoảng 1,200 lục quân binh sĩ.
Chiến dịch này của quân Nhật thu được thành công lớn, mọi khâu đều diễn ra theo đúng kế hoạch, và tất cả các chiến hạm đều an toàn trở về điểm xuất phát.
Do lo ngại việc điều động quân số lớn sẽ thu hút sự chú ý của hạm đội chủ lực, quân Nhật không dám triển khai các hoạt động quy mô lớn tương tự nữa.
Thay vào đó, trong những đêm tiếp theo, họ sử dụng số lượng nhỏ khu trục hạm, thậm chí cả tàu ngầm để bí mật vận chuyển lén lút. Phần lớn các nhiệm vụ đều hoàn thành suôn sẻ, giúp rút được thêm 1,500 quân Nhật khỏi đảo Trâu.
Đến lúc này, trên đảo chỉ còn lại hơn một ngàn quân Nhật, và Hải quân Nhật quyết định thực hiện một chiến dịch rút quân quy mô lớn cuối cùng, để đưa toàn bộ số quân còn lại về.
Thực tế, hạm đội chủ lực đã nghi ngờ hành động của quân Nhật ngay sau chiến dịch đầu tiên. Sau khi trời sáng, họ phái chiến hạm và máy bay trinh sát đảo Trâu nhiều lần, đồng thời tiến hành pháo kích.
Tuy nhiên, quân Nhật trên đảo ngụy trang rất kỹ lưỡng, hỏa lực phản kích cũng không có gì khác biệt so với ngày thường, khiến hạm đội chủ lực dù vẫn còn nghi ngờ nhưng không thể phát hiện ra sơ hở nào.
Mặc dù vậy, phân hạm đội số năm vẫn tăng cường tuần tra ban đêm, và trong những đêm sau đó đã đánh chìm khu trục hạm "Nam" và "Sam" cùng tàu ngầm "Ro-52" lớp L1 của quân Nhật, vốn được giao nhiệm vụ vận chuyển.
Do hành động của đối phương rất phân tán và bí mật, hạm đội chủ lực lầm tưởng rằng những chiến hạm này chỉ làm nhiệm vụ trinh sát hoặc vận chuyển tiếp tế cho đảo Trâu, cho đến khi quân Nhật chuẩn bị thực hiện đợt rút quân cuối cùng.
Trong chiến dịch rút quân cuối cùng khỏi đảo Trâu, Hải quân Nhật vẫn sử dụng chiến lược kiềm chế nam bắc tương tự như lần trước, thậm chí biên chế của hai biên đội kiềm chế cũng được bố trí giống hệt.
Quân Nhật chỉ thay đổi các chiến hạm phụ trách tiếp vận lục quân quan binh trên đảo thành sáu chiếc khu trục hạm kiểu "Phong Gió", lần lượt là "Phong Gió" , "Trạch Gió", "Xông Gió", "Đảo Gió", "Vũ Gió" và "Thái Đao Gió".
Đồng thời, họ cũng phái bốn chiếc khu trục hạm kiểu "Xuy Tuyết" thuộc biên đội khu trục lôi số 1, bao gồm "Hướng Sương Mù", "Tịch Sương Mù", "Thiên Sương Mù" và "Hẹp Sương Mù", để cung cấp cảnh giới và yểm hộ cho biên đội tiếp vận lục quân.
Đến chiều ngày hành động, các biên đội quân Nhật đều nhanh chóng tiến vào vùng biển mục tiêu theo kế hoạch. Dựa trên tình hình những ngày trước đó, họ tràn đầy tin tưởng rằng chiến dịch này cũng sẽ thành công suôn sẻ.
Tuy nhiên, ngay khi biên đội hạm đội Nhật Bản tiếp cận đảo Trâu, hạm đội chủ lực vừa mới điều chỉnh bố trí binh lực ở đó, khiến cho tiền cảnh của chiến dịch này trở nên khó đoán.