Cái gọi là "Hiệp định Dây Đỏ" bắt nguồn từ việc Calouste Gulbenkian, một người Armenia đặc biệt, dùng bút chì đỏ vạch ra khu vực khai thác tài nguyên dầu hỏa chung của các bên liên quan trên bản đồ Trung Đông.
Calouste Gulbenkian, một người Armenia gốc Anh cực kỳ khéo léo, vừa là thương nhân dầu hỏa, vừa là nhà đầu cơ, nhà sưu tầm, lại kiêm cả nhà từ thiện.
Dưới sự thúc đẩy của hắn, năm 1912, một công ty độc quyền tài nguyên dầu mỏ ở khu vực Tây Á thuộc Đế chế Ottoman ra đời, mang tên "Công ty Dầu mỏ Thổ Nhĩ Kỳ".
Một công ty có giá trị chiến lược như vậy, ngay từ khi mới thành lập đã bị nước Anh nhòm ngó, và lập tức bắt đầu hành động mạnh mẽ để nắm quyền kiểm soát.
Kết quả là, vào tháng 3 năm 1914, tại Luân Đôn, một thỏa thuận tái cơ cấu cổ phần của công ty đã được hình thành, mang tên "Hiệp định Bộ Ngoại giao".
Người Anh từ đó được chia một nửa cổ phần của Công ty Dầu mỏ Thổ Nhĩ Kỳ, nhờ vậy nắm quyền chi phối công ty, nửa còn lại do các công ty của Đức và Hà Lan chia nhau.
Nhờ sự vận động của Gulbenkian, cả Anh và Hà Lan đều nhường lại 2,5% "cổ phần hưởng lợi" từ phần cổ phần của mình cho ông, và ông nhờ đó mà có được biệt danh "Ngài Năm Phần Trăm".
Thực tế, từ đầu thế kỷ 20, nước Anh đã thông qua việc thành lập "Công ty Dầu mỏ Anglo-Ba Tư" để kiểm soát quyền khai thác dầu mỏ trong vương quốc Ba Tư.
Sau khi nắm trong tay quyền chủ đạo của Công ty Dầu mỏ Thổ Nhĩ Kỳ, người Anh càng chiếm được lợi thế trong cuộc tranh giành tài nguyên dầu mỏ ở Trung Đông.
Vài năm sau, khi Thế chiến kết thúc, hai đế quốc Đức và Ottoman sụp đổ, các quốc gia thắng trận tiến vào Tây Á, và nước Mỹ, với sức mạnh gia tăng vượt bậc, cũng khao khát có được một vị trí lý tưởng ở Trung Đông.
Cục diện Trung Đông do đó phải trải qua một cuộc tái cấu trúc sau chiến tranh, và tài nguyên dầu mỏ cực kỳ quan trọng ở đó cũng sắp được các cường quốc phân chia lại.
Tuy nhiên, người Anh không hề muốn chấp nhận sự tham gia của nước Mỹ, nên trong "Hiệp định San Remo" năm 1920, họ đã sắp xếp phần cổ phần của Công ty Dầu mỏ Thổ Nhĩ Kỳ vốn thuộc về Đức cho một công ty của Pháp, với ý đồ hoàn toàn gạt người Mỹ ra khỏi Trung Đông.
Cách làm này đương nhiên gây ra sự bất mãn lớn từ phía Mỹ, và nước Mỹ cũng đáp trả bằng thái độ cứng rắn, kiên quyết yêu cầu tham gia vào việc khai thác dầu mỏ ở Trung Đông. Hai bên từ đó đối đầu gay gắt, và bắt đầu một cuộc đàm phán gian khổ kéo dài sáu năm từ năm 1922.
Trong cuộc đấu tranh giành cổ phần của Công ty Dầu mỏ Thổ Nhĩ Kỳ này, nước Mỹ cảm thấy khá đơn độc khi đối mặt với Anh và Pháp, vì vậy để giành thế chủ động, họ đã lôi kéo Hoa Hạ, quốc gia có quan hệ khá tốt, vào cuộc.
Về phía Hoa Hạ, họ cũng có mong muốn mạnh mẽ trong việc mở rộng nguồn cung dầu mỏ nhập khẩu. Khu vực dầu mỏ mới nổi ở Trung Đông với trữ lượng lớn chính là mục tiêu lý tưởng nhất, và khi có cơ hội này, họ đương nhiên muốn tích cực tham gia.
Để gây áp lực cho đối thủ cạnh tranh, đồng thời do mối quan hệ rạn nứt giữa Hoa Anh vì vấn đề trả lại Hồng Kông, hải quân chính quy của Hoa Hạ đã phái hạm đội chủ lực phương Nam tiến vào Ấn Độ Dương vào năm 1923, triển khai một cuộc tuần tra kéo dài.
Trong thời gian hạm đội Hoa Hạ hoạt động, hải quân Mỹ cũng phái tàu chiến phối hợp, trong khi hạm đội Hoàng gia Anh đáp trả bằng cách theo sát.
Trạng thái giằng co giữa hai bên đã khiến tình hình khu vực trở nên vô cùng căng thẳng, may mắn là cả hai bên đều giữ thái độ kiềm chế, nên tình hình không trở nên tồi tệ hơn.
Đến năm 1927, việc khảo sát dầu mỏ ở Iraq đã đạt được thành tựu to lớn, mỏ dầu lớn Kirkuk gần Mosul đã được phát hiện.
Do trữ lượng kinh người, sản lượng dầu thô mỗi ngày của một giếng lên tới 95.000 thùng, thậm chí còn xuất hiện hiện tượng giếng phun liên tục tám ngày như núi lửa phun trào.
Lợi ích kinh người như vậy dường như đủ để tất cả những người tranh giành cùng nhau chia sẻ, và cuộc đàm phán kéo dài cũng nhờ vậy mà có kết quả. Các bên đã đạt được "Hiệp định Dây Đỏ" cuối cùng tại Ostend, Tại hạ.
Căn cứ theo hiệp định này, công ty dầu mỏ Thổ Nhĩ Kỳ trước đây được đổi tên thành "Công ty dầu mỏ Iraq". Để có được 5% cổ phần của công ty, Cổ Nhĩ Bản Cơ An đã phải ra sức lôi kéo các thế lực khắp nơi.
Số cổ phần còn lại được chia đều cho Công ty dầu mỏ Anglo-Ba Tư, Công ty dầu mỏ Royal Dutch Shell, Công ty dầu mỏ Pháp, Liên minh xí nghiệp dầu mỏ Mỹ và Liên doanh công ty dầu mỏ Hoa Hạ.
Cũng chính tại giai đoạn cuối cùng của hội nghị Aus Đình này, Cổ Nhĩ Bản Cơ An đã tiếp cận được "dây đỏ" khét tiếng kia.
(Hình ảnh: Sơ đồ "dây đỏ", lấy từ internet)
"Hiệp định Dây Đỏ" đánh dấu sự kiện hai cường quốc mới nổi là Hoa Hạ và Mỹ chính thức có được chỗ đứng trong khu vực sản xuất dầu mỏ Trung Đông. Nó cũng phá vỡ thế độc quyền của Anh tại Trung Đông, đồng thời đưa tầm ảnh hưởng của Hoa Hạ và Mỹ vào khu vực đầy rẫy thị phi này.
Nếu nói thế giới song song những năm 1920 vẫn đang trong giai đoạn khôi phục và tái thiết sau chiến tranh.
Thì dù cho mọi người có cố gắng đến đâu, kinh tế của phần lớn các quốc gia sau chiến tranh vẫn luôn trì trệ, chìm nổi trong suốt mười năm mà khó có thể khởi sắc rõ rệt.
Tình hình này cuối cùng cũng xuất hiện biến chuyển mới khi thập niên này sắp khép lại, chỉ tiếc phương hướng lại càng khiến người ta tan nát cõi lòng.
Tháng 10 năm 1929, tại nước Mỹ vốn có tình hình kinh tế khá ổn, đột nhiên xảy ra sự cố cổ phiếu sụt giảm, dẫn đến thị trường chứng khoán hoàn toàn sụp đổ. Hàng chục tỷ đô la tài sản bốc hơi trong chớp mắt, các ngân hàng đồng loạt đóng cửa.
Rất nhanh, cuộc khủng hoảng này lan sang lĩnh vực kinh tế thực tế, khiến kinh tế Mỹ lập tức rơi vào tình trạng suy thoái nghiêm trọng. Phản ứng dây chuyền đáng sợ liên tiếp xảy ra, từ đó mở ra một cuộc Đại Suy Thoái kéo dài vài năm với những hậu quả to lớn.
Cuộc Đại Suy Thoái này không chỉ giới hạn ở nước Mỹ mà nhanh chóng lan rộng ra gần như toàn bộ thế giới. Trong khi nhấn chìm phần lớn các quốc gia vào làn sóng sụp đổ kinh tế, nó cũng tạo ra những ảnh hưởng sâu sắc đến cục diện và diện mạo của thế giới song song này.
Trong cơn bão kinh tế chưa từng có này, Hoa Hạ cũng bị cuốn vào vòng xoáy, không thể tránh khỏi.
Kinh tế Hoa Hạ bắt đầu suy thoái từ cuối năm 1929, và từ năm thứ hai trở đi, nó đã kết thúc giai đoạn tăng trưởng ổn định kéo dài nhiều năm, rơi vào trạng thái trì trệ.
Có điều, so với phần lớn các quốc gia trên thế giới, Hoa Hạ với lãnh thổ rộng lớn và vẫn đang trong giai đoạn phát triển xây dựng, có khả năng phục hồi kinh tế và chống chịu khủng hoảng rất mạnh. Ngay cả trong thời kỳ khó khăn nhất, tốc độ tăng trưởng kinh tế tổng thể vẫn miễn cưỡng duy trì ở mức dương, dù đã là tình thế ngàn cân treo sợi tóc.
Đối mặt với cuộc khủng hoảng chưa từng có này, chính quyền Hoa Hạ đã thực hiện một loạt các biện pháp tích cực, giúp kinh tế Hoa Hạ sau hai năm khốn đốn, bắt đầu khởi sắc từ năm 1932. Đồng thời, nhờ vào việc đẩy mạnh khai thác và xây dựng quy mô lớn trong nước, Hoa Hạ đã một lần nữa trở lại con đường phát triển nhanh chóng.
Cuộc Đại Suy Thoái này cũng mang đến những thay đổi vô cùng quan trọng cho vị thế của Hoa Hạ trong nền kinh tế thế giới.
Vào năm 1929, năm khủng hoảng bùng nổ, tổng giá trị sản xuất trong nước của Hoa Hạ là 995,8 ức Hoa Nguyên, tương đương khoảng 189,68 ức Bảng Anh, đứng thứ hai trên thế giới.
Trong năm này, nước Mỹ vẫn là cường quốc kinh tế số một thế giới, với con số tương ứng là 1,036 ức đô la, chuyển đổi thành Bảng Anh là 213,17 ức.
Nhưng đến năm 1930, tổng giá trị sản xuất trong nước của Hoa Hạ, dù tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm chạp, vẫn đạt 1.007,75 ức Hoa Nguyên, tương đương khoảng 191,95 ức Bảng Anh.
Trong khi đó, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Mỹ trong năm này lại xuất hiện giá trị âm hai chữ số, và tình trạng này còn kéo dài trong vài năm nữa mới có thể thay đổi.
Thế là vào năm 1930, tổng giá trị sản xuất của nước Mỹ giảm xuống còn 912 ức đô la, tương đương 187,65 ức Bảng Anh, và như vậy đã bị Hoa Hạ vượt qua, mất đi vị trí số một.
Sự thay đổi về vị thế kinh tế tất yếu sẽ mang đến những ảnh hưởng đến quan hệ quốc tế, có điều trước khi những hiệu ứng thực sự phát sinh, cục diện vốn có vẫn sẽ tiếp tục, và những sự kiện tiếp theo sẽ liên tiếp xảy ra.