Máu

Lượt đọc: 343 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 13. Monica

❊ ❊ ❊

6 giờ 30: Thức ăn đã được bày biện lên bàn - Tôi bắt một học sinh đang lang thang gần đó vào phụ giúp. Anthea buộc tội tôi “làm đổ thức ăn”, nhưng trong cảnh tranh tối tranh sáng ma mị này, làm sao chị ta biết được nhỉ?

“Vì Kelly gần như trượt ngã. Nếu không thì em nghĩ tại sao chị phải quỳ gối lau dọn?”

Tôi mở vài chai rượu nhưng trước giờ tôi uống nhiều nhất được bao nhiêu nhỉ? Chắc gần nửa đốt ngón tay? - Lần uống nhiều nhất của tôi là chừng hai hoặc ba ly.

6 giờ 40: Tôi đang muốn tự sát. “Không ai thèm đến cả, tôi nói. “Thức ăn đầy ra và không ai đến. Chẳng ai phúc đáp cho em. Tôi buồn tới mức lấy mấy cái răng giả ra.

Anthea nói: “Bây giờ chẳng còn ai phúc đáp lời mời đâu. Tất nhiên họ sẽ tới. Bạn bè chị ở London này. Hai ông sinh đôi đã mời phân nửa gia đình Marija này, rồi người nhà Marija lại mời tất cả người Latvia ở Thanet. Fairy sẽ dẫn bạn trai mới tới, còn chuyên gia chữa bệnh theo vi lượng đồng căn[1] của chị đã mời các bạn nhảy tập thể...” “Chúa ơi, tôi kêu lên. “Đừng có nhảy tập thể nhé...”

“... Các vũ công tập thể không phải tuyệt lắm sao? Chị cố theo kịp họ trong lớp nhảy mà không được đấy..”

“Vậy thì người Latvia đừng đến!”

“... Người Latvia cư xử rất tốt. À còn nữ cựu quân nhân quản lý nhà dưỡng lão mà mẹ ở nữa. Tên bà ta là gì nhỉ? Em nên lấy thêm nĩa thì hơn.

“Cả mụ đó nữa sao? Lỡ mụ ta đưa mẹ tới thì sao?”

Cha tôi mới là điều đáng lo hơn. Chúng tôi chưa nói chuyện lại kể từ sau lần to tiếng trên điện thoại.

6 giờ 55: Cặp sinh đôi đến. Trong tôi lại dâng lên niềm tự hào điên rồ quen thuộc. Hai anh tôi to lớn hơn hết thảy. Họ sánh vai nhau bước qua cửa như một cỗ xe tăng, trên người mặc bộ vest sọc nhã nhặn không chê vào đâu được. Cô Marija người Latvia đi giữa họ trông giống một tháp pháo. Marija đi đôi bốt gót nhọn màu xanh trứng vịt cao cỡ mười lăm phân, tóc cô ta búi ngược lên thành cái sừng kỳ lân màu trắng-vàng kỳ dị giữa đỉnh đầu. Boris nhìn quanh phòng rồi kêu lên: “Chúa ơi!” Chiếc sừng của Marija rung rung trong ánh sáng, tạo thành một vệt dài duyên dáng giữa không trung. Một phần nghìn giây sau, đến lượt Angus thốt lên “CHÚA ƠI” Vừa bước vào phòng, hai người đứng chôn chân, mặt nghệt ra cố hiểu phong cách trang trí trong phòng.

Tiếp đó là “Thích quá đi” Marija reo ầm ĩ và lôi cả hai vào phòng.

Đây là dịp để mọi người ôm lấy nhau và chúng tôi làm vậy một cách trang nghiêm. Chẳng hiểu sao Kelly cũng đứng vào hàng nhưng không một ai chú ý tới cô ta.

7 giờ 10: Anthea lên nhạc rồi cùng Kelly nhảy thử một điệu jive, khiến cặp sinh đôi tròn mắt nhìn. “Sao người phụ nữ đó lại khiêu vũ với Anthea?” Angus hỏi. Marija hỏi lại: “Có cái quái gì không được nhỉ?” sau đó đứng lên ra nhập bọn. Marija nhảy cấp tập như một con nhện đói, tay chân lên xuống liên tục, làm cái sừng trắng ngả nghiêng qua lại. Bị bỏ rơi, hai anh chàng trông lạc lõng nên dĩ nhiên, họ tới quầy bar và bắt đầu uống.

7 giờ 30: Những người ngoài đầu tiên xuất hiện - những người đầu tiên nếu không tính Kelly (và tôi không tính đến cô ả tốn chỗ đó). Họ là hai người hàng xóm nhút nhát của cha tôi và là người Đức – ông Hans và vợ. Họ bắt đầu một cuộc nói chuyện chán ngắt về đề tài những hệ quả lâu dài của Brexit.

“Ít ra chúng ta cũng rũ bỏ được một vài người Đức, tôi nói đùa. Thế nhưng, họ tỏ vẻ tổn thương và bỏ đi chỗ khác.

Bình thường tôi giữ im lặng về đề tài này, nhưng Hans chán quá nên tôi phá ngang. (Ông hiệu trưởng Neil từng lại gần tôi trong phòng giáo viên một sáng nọ để “làm rõ quan điểm về Brexit” – với lý do phụ huynh “than phiền” như thường lệ. Để đuổi ông ta đi, tôi nói: “Neil này, không lẽ anh nghĩ rằng tôi ủng hộ Brexit?” Đôi môi chúm chím như nụ hồng của ông ta mím lại và run lên. Thực ra cũng như mọi người bình thường khác, tôi ghét người nước ngoài, đặc biệt là những ai có thói quen cư xử quái đản, nhưng tôi còn ghét người Anh hơn. Một khi Brexit xảy ra, người Anh sẽ ít chuyển đến sống ở châu Âu lục địa hơn. "Tôi sẽ thể hiện quan điểm cân bằng hơn,” tôi nói. Neil lặp lại: “Cân bằng nhé. Đó là điều bọn trẻ cần. Có thể người ta đã trích dẫn sai lời cô nói.”

Thứ bọn trẻ thực sự cần là trật tự. Gia đình tôi và bản thân tôi cũng cần điều đó).

7 giờ 45: Hội trường đã đầy quá nửa, hầu hết đang nói tiếng Latvia. Nhiều người vờ la hét và bật cười trước cách trang trí. Đám đông vây quanh Anthea đang diễn trò với một bộ xương.

Giữa gian phòng tối lờ mờ ấy, xuyên qua những đốm sáng làm hiện lên dấu răng và nếp nhăn, chúng tôi vẫn thường xuyên ngoái nhìn nhau. Bốn người chúng tôi cùng nghĩ về những gương mặt còn thiếu. Fred dĩ nhiên sẽ vắng mặt vĩnh viễn. Với mẹ, chúng tôi hy vọng bà yên ổn ở đâu đó. Cha phải có mặt nếu không sự kiện này sẽ thành vô nghĩa. Còn Fairy đang ở đâu? Tốt nhất là con bé đừng có quên, bởi nó đã hứa mang bánh cupcake nhân cam.

7 giờ 50: Cửa lại mở ra và lần này Công chúa Băng giá xuất hiện. Cô em siêu mẫu gầy guộc với đôi mắt to của tôi, Fairy, mặc trang phục trắng toát từ trên xuống dưới bất chấp dịp lễ Halloween – đúng là tài tình. Lủng lẳng trên người con bé là một cái túi đỏ bằng vải xếp nếp có dây đeo mảnh cũng màu đỏ - trông không khác gì vết thương.

Ánh sáng nhân tạo phản chiếu lên làn da Fairy, đem lại cảm giác trắng sứ hoàn hảo. Vẻ lộng lẫy giá băng của Fairy làm hội trường đông cứng. Dẫu đã bị thời gian bào mòn, dẫu đã bước vào tuổi ba mươi, dẫu sự nghiệp đã trượt dốc, Fairy vẫn khiến những người có mặt xôn xao và phấn khích. “Cô ấy là người mẫu đúng không? Nhìn kìa, Fairy đấy. Trước đây tên là Sarah. Wow. Nhưng không phải từng có tin cô ấy bị chụp hình đang hít cocaine sao?”

Tôi băng ngang căn phòng mà thậm chí không nhận ra mình đang di chuyển.

“Chào chị” con bé thì thầm, liên tục chớp mắt với tôi. “Ồ, chào em. Cái giọng nói nhẹ như hơi thở ấy thoát ra từ đôi môi hé mở của Fairy. Vốn con bé không nói giọng đó, trước khi trở thành người mẫu nó nói giọng kim và cao chói lói.

Tôi cũng nói được giọng đó. TÔI CÓ THỂ LÀM ĐƯỢC TẤT! – nếu tôi còn phân nửa trọng lượng và có những đặc điểm cơ thể khác. Lông mày của tôi tuyệt hảo – đẹp hơn của Fairy. Tôi có lông mày đẹp! TÔI CÓ LÔNG MÀY ĐẸP!

Tôi nhận thấy mình ôm lấy Fairy. Người con bé toát ra mùi dầu thơm hoắc hương trộn lẫn với mùi nôn mửa. OK, vậy là nó vẫn nôn mửa – nhưng nó là Fairy, là cô em gái yếu đuối, giàu có vô cùng và mắc chứng cuồng ăn vô độ của tôi. Đó là người nổi tiếng của gia đình Ludd, là người duy nhất trong số chúng tôi chạm được tay vào điều thần kỳ.

Liệu đó có phải là câu trả lời nhỏ nhoi nhất tiết ra từ nắm xương bọc lớp vải bạc mà tôi đang ôm trong tay? Có thể lần này chúng tôi cần nói chuyện nghiêm túc. Khi chúng tôi còn nhỏ, có lần Fairy vấp phải chân tôi và ngã trúng hộp đồ chơi Lego nên bị thương, trên mặt có vài vết hằn hình mảnh Lego. Có thể cảm giác thương xót đè nặng lòng tôi lúc đó lại chính là biểu hiện của tình yêu thương. Tôi đâu phải là quái vật, dù chân tôi rất to.

“Bánh đây," con bé vừa nói vừa lấy bánh ra khỏi một cái túi to đùng khác có logo Hermes. “Em làm ba tá cái. Bánh bướm đấy, Ferd thích bánh này. Em làm màu bánh bằng bột cam của Dr Oetker. Hy vọng là hàng organic.”

Fairy vừa nói vừa lơ đãng nhìn tôi như chờ sự tán đồng. Nhưng tôi đã nạy nắp khay và nhét một cái bánh vào miệng nên con bé không nghe tôi nói: “Ai mà quan tâm chứ?”

Cửa lại mở ra rồi khép lại. “Đây là Rupert, Fairy thẩm thì. “Anh ấy muốn đến. Monica à, kem bánh rơi trên ngực chị kìa.”

Chúa ơi! Bạn trai của Fairy! Cậu ta đứng đó như James Bond tuổi thanh xuân. Hàng mi sậm màu rủ xuống đôi mắt sáng lấp lánh, hàm cạo sạch râu, môi đỏ như thoa son – hay là cậu ta có trang điểm nhỉ? – nhưng toàn thân cậu ta toát lên vẻ nam tính. Tôi phải có cậu ta mới được.

Kiềm chế bản thân không nhìn trừng trừng vào anh chàng, tôi thốt lên đầy thân thiện: “Chào chàng trai, cậu là người mẫu à?”

Fairy thỏ thẻ giới thiệu: “Đây là Rupert, rồi nói với anh ta, “em đã cảnh báo với anh, ý em là em đã kể với anh về chị Monica. Và anh ấy không phải là người mẫu mà là... Fairy chốt lại dứt khoát, cùng lúc với anh chàng kia lên tiếng, “nhà môi giới chứng khoán.”

“Rất vui được biết cậu, Rupe, tôi nói. Tôi bắt tay cậu ta nhưng không buông ra mà nhẹ nhàng kéo cậu ta vào trường sinh học của tôi – để cậu ta biết thêm về chị của bạn gái chẳng phải tốt sao!

Anthea tới phá hỏng thời khắc ấy, hay như chị ta nói sau này là “cứu vãn tình thể. “Tôi còn vài cái răng ma cà rồng, cậu có mượn không?” Anthea nói rồi đưa ra mấy cái răng nanh bằng nhựa. Hóa ra Rupe từng theo học ở trường đại học Durham, ngôi trường đó mê ăn diện hơn tất thảy. Rất nhanh chóng chúng tôi mặc cả bộ xương lên người cậu ta, với phần góp sức của tôi để cởi quần dài của cậu ta ra. Anthea liên tục phá đám.

(“Monica, làm ơn để cậu ta yên!”

“Biến đi, em đang giúp cậu ta mà.”

“Monica, em đang thở hổn hển kia kìa”

“Chỉ tại em đang cúi người thôi.”)

Rupert bỏ đi chóng vánh như con dơi bay xuống địa ngục.

9 giờ tối: Đã chín giờ rồi! Esmeralda tới sau khi thoát khỏi Trung tâm Nụ cười hoàn hảo. Thật khó nhận ra khi cô ấy cởi bỏ bộ đồng phục. Càng ăn diện trông cô ấy càng già hơn. Váy bó màu đen phối với đôi bốt da cùng màu cao đến đầu gối, ôm sát đôi chân vòng kiềng khẳng khiu; đôi môi tô son tím thẫm đi kèm hàm răng tẩy trắng – tác phẩm do chính tay cha chúng tôi tạo nên. Cái gì đây? Mẹ kiếp! Ăn mặc như bó giò thế này là sao? Cái áo hở sâu ôm lấy bộ ngực như hai quả táo nhăn nheo. Tôi thử nghĩ xem nhìn cô ấy giống ai thì trời ạ, không khác gì gái mại dâm. Có điều dưới bộ cánh ấy chính là cô Esmeralda.

“Cô Esmeralda, xin chào-o-o-o!!”

Chúng tôi không có cô, em gái duy nhất của cha qua đời khi mới mười tuổi – trong một vụ cháy khí bu-tan (làm sao mà chuyện ấy xảy ra được nhỉ?) – còn mẹ tôi là người còn sống duy nhất trong số chín anh chị em của bà. “Cha chưa tới, tôi buột miệng lo lắng. “Cô nghĩ ông ấy đang làm gì, cô Esmeralda?” (Tôi đã không nói: “Trông cô giống cái gì thế này?”)

Cô Esmeralda biết cha rõ hơn ai hết. Quá rõ là đằng khác, rằng cha chúng tôi là một kẻ kinh tởm. Cô ấy cũng đóng vai trò nhất định trong chuyện mẹ bỏ nhà đi. Vào dịp kỷ niệm bốn mươi năm Esmeralda trở thành tiếp tân của cha, cha khăng khăng mời cô ấy đến nhà ăn tối. Sau đó cha mẹ tôi cãi vã, tôi nghe tiếng mẹ la hét và chạy xuống lầu đúng lúc cha ném cái lò nướng bánh về phía bà. Một dòng máu chảy xuống gò má bà. Dĩ nhiên là mẹ ghen. Nhưng giữa cha và cô Esmeralda là mối quan hệ cả một đời.

Khởi nguồn từ những vùng nông thôn tăm tối nhất của hạt Kent. Ở đây có nhiều góc tối, nhưng chúng tôi luôn tranh đấu về phía ánh sáng. Ở đây cũng có nhiều tội ác chưa bị vạch trần. Đêm dài dằng dặc và người dân ở nhà không ra đường.

Tôi còn nhớ phản ứng của Esmeralda buổi chiều tối ấy, khi cô say mèm trên bãi biển và kể cho tôi – cô nữ sinh đang giận dữ – về những trò lừa đảo của cha.

Tôi khóc nấc: “Cháu ghét ông ấy, ông ấy toàn ức hiếp người khác và lọc lừa. Esmeralda bất ngờ mắng ngược lại tôi như thể tôi đã đánh và nói xấu cô ấy thậm tệ. “ĐỪNG NÓI NHƯ VẬY! Ông ấy vẫn là cha cháu... Cháu chẳng biết gì cả. Rồi tất cả quá khứ trào ra. Mẹ của cô Esmeralda biết mẹ của cha từ khi hai người còn nhỏ. “Cha cháu lớn lên như một con thú, kiếm ăn từ hết nhóm du mục này đến nhóm khác. Ông ấy không biết cha mình là ai, còn người mẹ bệ rạc, bê tha đến nỗi ngay cả mẹ cô cũng khinh thường bà ta. Mẹ cô kể rằng bà nội cháu nghiện ngập, trộm cắp như rươi và còn vài điều khác mà cô không muốn nhắc lại. Lúc nào bà ấy cũng bị cảnh sát bắt đi và bỏ cha cháu lại cho bất kỳ ai. Cứ thế, cha cháu chắc phải có tới hai tá ông chú. Điều xấu liên tiếp xảy tới. Cô chưa bao giờ hỏi kỹ về những chuyện đó... Nhưng có một gã tên là Tosher, bọn cô đều biết hắn ta. Hắn ta tổ chức các trận đấm bốc tay trần cho bọn trai trẻ và rất thích cha cháu vì ông ấy luôn thắng trận. Một ngày kia, giữa hai người nổ ra một trận chiến khiếp đảm, lần này Albert quyết không lùi bước. Nhưng bằng cách này hay cách khác, cha cháu vẫn đậu các kỳ thi. Ông ấy luôn nói rằng sẽ thoát khỏi Medway. Sức mạnh tinh thần giúp ông ấy làm được điều đó. Cha cháu không bao giờ từ bỏ, ông ấy luôn dốc hết sức cố gắng. Ông ấy giữ gia đình gắn kết với nhau. Người mẹ quý báu của cháu chưa bao giờ phải lo nghĩ đến tiền nong...” (cô ấy sẽ không bao giờ thốt ra “người mẹ quý báu của cháu” nếu không đang say mềm). “Cha cháu cho cô việc làm và luôn trả lương” Vâng, tôi tình cờ biết là trả rất ít.

Nhưng dù gì đi nữa, cô ấy vẫn trung thành với cha và luôn ở cạnh chúng tôi. Cảm ơn Chúa vì để cô Esmeralda đến bên chúng tôi.

Thêm chuyện này, chúng tôi không có gì để giải thích với cô và cũng không có gì cần nói dối. Tôi nở nụ cười đồng cảm như thiên sứ với cô nhưng rút cuộc tất cả chúng tôi đều bỏ đi nơi khác.

“Trông cô có lập dị không?” cô ấy cất giọng căng thẳng. Ái chà, chắc tôi lại lỡ lời rồi. “Trong tủ áo chỉ có mấy món này là màu đen thôi. Thực ra đây là đồ của mẹ cổ nên chắc là trông cô giống bà ấy”

Đằng sau đầu cô ấy, mấy bộ xương khua láo nháo, chúng liếc mắt đểu cáng và cười ha hả vào quá khứ.

“Không có ai khác mặc đồ đen cả” cô ấy quan sát xung quanh. “Lẽ ra họ phải làm thế để bày tỏ sự tôn trọng chứ. Vầng trán nhỏ xíu của cô nhăn lại thể hiện vẻ chán nản.

“Trông cô... rất tuyệt?” Anthea ướm lời.

“Choáng thật sự ấy chứ!” tôi đồng tình. Tôi còn nhiều điều quan trọng hơn cần suy nghĩ. “Cha phải có mặt đúng giờ phát biểu mới được. Hay có chuyện gì?”

“Chuyện gì chứ? Đừng có nguyền rủa, Monica. Cô ấy nhìn tôi chằm chằm, vẻ băn khoăn.

“Ý cháu là khủng bố chẳng hạn. Hôm qua có báo động giả ở siêu thị Waitrose, cháu đang tìm mua nước xốt thì họ thông báo đóng cửa hàng. Họ bảo khách hàng ra về, bỏ lại hàng mua nhưng cháu bảo họ là không có chuyện đó đâu. Cuối cùng họ chịu tính tiền hàng cho cháu”

Cô Esmeralda ôm lấy tôi, hai cánh tay với lên, còn mặt thì úp vào ngực tôi do vóc người cô nhỏ thó. Cô ấy ngước lên, chóp mũi cao của cô đỏ ửng vì lạnh (hoặc vì va vào áo lót nâng ngực của tôi), một bên lỗ mũi có thứ gì đó trắng và trơn. Tôi nhận ra đó là phần kem trên bánh của Fairy. Tuyệt, vậy là nó không còn trên khe ngực của tôi nữa!

“Giỏi lắm, Monica, cháu đã làm người ấy tự hào.”

“Fred à?” tôi hỏi lại. Bữa tiệc ồn quá.

“Không, cha cháu ấy.”

“À, cảm ơn cô. Mà sao lão khốn ấy còn chưa tới nhỉ?”

“Chú ý lời lẽ của cháu. Cha cháu luôn tới trễ còn gì?”

Khi chúng tôi nhận giải thưởng trong các ngày lễ phát bằng ở trường học trước đây, ông ta đợi đến phần cuối mới có mặt để nhận công. Mỗi khi dự đám tang ai đó, cha luôn xông vào khi đã diễn ra hơn phân nửa, kéo theo sau là cả đám chúng tôi chạy hộc tốc tới nỗi mặt mày trắng bệch - như thể ông ta đang cầm đầu một lũ khủng bố. Đúng vậy, cái tật trễ giờ của tôi là lây từ cha tôi.

Nhưng kể cả vậy thì lần này cũng quá trễ.

Bữa tiệc đang trỗi nhạc swing êm dịu. Các đồng nghiệp của tôi không hoạt bát cho lắm nhưng tôi cũng chỉ mời họ để tăng số lượng. Tất cả đều có mặt, trông chỉn chu, lịch sự và hơi dè dặt. Chắc họ không dám từ chối lời mời vì sợ tôi? Họ túm tụm thành từng nhóm nhỏ, không làm gì ngoài bẽn lẽn ăn lạc.

“Uống gì đi chứ, tôi hét lên. “Có đủ rượu để hạ thủy cả một tàu chiến đấy.”

“Ôi, tôi chẳng mấy khi uống rượu đâu, một người đáp lại và những người khác hùa theo: “Tôi ổn mà, Monica, cảm ơn nhé, hay “Tôi mới đến được vài phút thôi.

“Không được, ĐI LẤY GÌ UỐNG ĐI, tôi nói như áp đặt và nhẹ nhàng đẩy lưng một người. Đùng một cái, tất cả lũ lượt kéo đến quầy bar, hăng hái như muốn làm tôi hài lòng hoặc có thể là hăng hái trốn chạy khỏi tôi (hay là cú đẩy lưng mạnh hơn tôi dự tính?)

9 giờ 15: Nhóm khách Latvia nhảy càng lúc càng đông. Vây quanh Marija là một đám tóc vàng, ai cũng gầy, cuồng nhiệt và kích động, cứ như một đội quân robot Latvia phát cuồng.

Họ nói tôi điên! Tôi không nhảy ở chốn đông người. Tôi tự nhủ không ai trong nhà Ludd hạ mình nhảy nhót, không có chuyện chúng tôi lắc lư xoay tròn. Dù vậy, thật lòng mà nói, thỉnh thoảng trong phòng ngủ, tôi rũ bỏ nguyên tắc đó để nhún nhảy theo nhạc của 50 Cent trước gương...

(À, còn có một ký ức khác? Cha tôi từng nói, “Đồ ngu, bọn lớn xác không nhảy được!”)

Hoặc là tôi hoặc là cả căn phòng đang quay mòng mòng. Hội trường chật kín người, ồn ào náo nhiệt kinh khủng. Thỉnh thoảng tôi tìm kiếm các anh trai rồi lại ngóng xem chị gái và em gái ở đâu. Họ cũng ngó chừng tôi. Trên mặt chúng tôi đều hiện lên câu “Cha không có ở đây!

Tiếp đó, Anthea và Kelly tiến tới tay trong tay. Anthea hỏi: “Cha vẫn chưa tới à? Ông ấy có tới không?” Tiếc là giọng mũi cao kiều Úc của chị ta làm câu hỏi trở nên khó nghe. Quá nhiều, quá thừa mứa âm tắc thanh hầu. “Anthea, chị nói tiếng Anh đấy à?”

Tiếng micro kêu lên rột rẹt, theo sau là một tiếng gõ vào mặt micro vang dội mà sành điệu. Một phụ nữ đang ở trên sân khấu, tại nơi đặt micro. Trong phòng tiếng hú hét điếc cả tai.

Đó là Fairy! Tôi nhận ra đôi chân - phần cơ thể duy nhất của nó sáng lên - dài và khẳng khiu hơn bất cứ ai, đang xỏ trong đôi bốt bạc cao chót vót. Ai đó hướng sự chú ý của mọi người lên sân khấu và khắp phòng lại ổ lên “suỵt, suỵt” Fairy đứng đó với khuôn mặt hình trái tim trắng sứ, mái tóc bồng bềnh như mây.

“Nó nghĩ nó đang làm gì vậy?” tôi hỏi rống lên và Rupert quay lại, trừng mắt nhìn tôi. Chắc chắn có một luồng điện xẹt giữa chúng tôi nhưng ánh mắt cậu ta không hề thân thiện.

“Xin chào, Fairy thều thào vào thinh lặng. “Một số vị ở đây biết tôi là Sarah Ludd nhưng bây giờ tôi là Fairy. Cảm ơn tất cả mọi người vì đã đến dự tiệc” (Con bé nói những lời mà tôi dự định phát biểu nhưng cách nói lại như rên rỉ một bản tình ca tan vỡ nỉ non kiểu Margate Marilyn Monroe).

Tạm dừng một chút rồi tiếng thở dài vang lên trên micro. Fairy tiếp: “Chúng ta có mặt ở đây vì em trai tôi, người đã... qua đời. Frederick nhỏ hơn tôi năm tuổi. Đó là cậu em trai đã lớn lên cùng tôi.”

Tất nhiên nó bắt đầu sướt mướt. Gớm thật chứ!

“Cậu ấy đã hy sinh vì đất nước!” ai đó hét lên. Chúa ơi, là Rupert. “Cậu ấy hy sinh vì NƯỚC ANH!” Rupert gào lên từ bên dưới sân khấu, ra sức vẫy hai cánh tay lấp lánh huỳnh quang. Tiếng reo vang chầm chậm tràn ngập hội trường – dân Thanet rất yêu nước.

Fairy ngừng khụt khịt và tiếp tục nói.

“Thật tuyệt, con bé thì thào. “Cảm ơn, Rupert. Tôi hy vọng em trai mình cũng tin vào điều đó. Nhưng thực ra..”

Im lặng khắc khoải. Khóe miệng yếu ớt của Fairy run run. Khuôn mặt tái nhợt, mái tóc bung xõa như bông cúc bạc – chính vẻ ngoài của con bé khiến khán phòng câm nín. Giọng Fairy cứng rắn hơn và con bé ngừng run bần bật. “Tất cả là do cha chúng tôi, nó rít lên dữ dội. “Tất – cả – là – do – CHA – chúng – tôi!”

Những thanh âm chất chứa, dồn nén căm hận khiến tôi rùng mình, nhưng những người còn lại trong hội trường không hiểu điều đó. Cách tôi chưa đầy một mét, một cô gái Latvia giải thích cho một người khác và gã bạn trai người Anh của cô ta: “Cô ấy đang cảm ơn cha mình” “Ồ vậy sao? Thật cảm động”

“Cha chúng tôi đã bắt em ấy đi lính,” Fairy dằn giọng.

Vậy mà có người vỗ tay. Lại là Rupert. Cậu ta rống lên: “Tốt lắm!” thế là cả hội trường hùa theo trong cơn yêu nước loạn trí, vỗ tay ầm ĩ như thể cả đàn bồ câu rầm rộ tung cánh trên đầu. Khuôn mặt Fairy tan biến nỗi đau đớn và uất giận, thay vào đó là vẻ vô hồn như đeo mặt nạ. Con bé lẩm bẩm gì đó như “Sao cũng được” rồi biến khỏi sân khấu như sương mù tiêu tan.

Vậy là đến lượt tôi. Tôi đã biết trước là vậy mà. Còn sáu mươi phút nữa thì hội trường phải đóng cửa. Tôi ào ào băng qua căn phòng, trên đường đi va hết người này đến người kia, giẫm lên chân, móc toạc mép quần, đá trúng mắt cá chân họ... Nhưng chỉ kẻ yếu ớt mới xin lỗi, hơn nữa đám người Latvia vẫn cứ nhảy nhót nên đáng bị giẫm lên...

Tôi lấy bài phát biểu ra khỏi túi xách. Đây là bài viết mà cha phải nghe và tôi phải đọc nó ở nơi công cộng. Xét cho tới cùng, dù chuyện trong nhà có phải giữ kín đến đâu thì cuối cùng cơn bão bí mật cũng tràn ra khỏi cửa.

Lão già đáng ghét ấy đâu rồi? Cha đâu rồi?

Tôi đang bước đến giữa cầu thang dẫn lên sân khấu thì đột nhiên vang lên tiếng la hét ở đâu đó. Có xô xát gần cửa ra vào. Anthea và Kelly đang đánh nhau với ai đó! Không lẽ bọn nghiện rượu ở Margate đến đây?

“Albert đâu rồi?” một giọng trẻ trung thét lên thất thanh. “Albert, bọn họ đánh em này!”

“Con bé” đó! Chắc chắn là cô ta – dù đây là lần đầu tôi thấy mặt. Veronica có khuôn mặt sáng bóng, gò má ửng đỏ, trông bình thường và trẻ, trẻ tới mức làm người ta kinh tởm, phát bệnh – mái tóc đen bóng của cô ta búi thành một búi nhỏ phía sau. Cô ta trẻ hơn Anthea, hơn tôi và nhỏ hơn cả Fred, thế mà cô ta dám chường mặt ra đó và gọi cha là “Albert”!

Ả ta la hét inh ỏi về phía đám đông im lặng: “Các người nhìn cái gì hả? Tôi là vị hôn thê của Albert! Anh ấy đang đợi tôi!” Hội trường huyên náo trở lại. Margate là vậy đó, những chuyện như thế không có gì lạ.

Tiếp đó là một cuộc rượt đuổi kịch tính. Con bé luồn lách giữa những người dự tiệc, chạy thoát một phần nhờ sức trẻ của tuổi hai mươi, phần khác do đám đông khép lại sau lưng cô ta – như mặt nước khép lại sau khi bị động. Anthea và Kelly điên tiết đuổi theo, thỉnh thoảng dừng lại trao đổi gì đó. Tôi đang bước lên cầu thang nên nhìn thấy được toàn cảnh.

Cuối cùng tôi lên được sân khấu và vớ lấy micro. Bài phát biểu vo tròn nóng hổi trong bàn tay tôi. Nhưng cha không có ở đây – chúng tôi không có cha. Mẹ cũng không đến. Họ bặt tăm đúng vào lúc chúng tôi muốn họ phải có mặt. Tôi nhìn trân trân vào đám đông náo loạn vô nghĩa bên dưới. Bất chợt bóng dáng em trai tôi khoảng sáu năm trước đây hiện ra. Fred đi chơi với đám con trai nhặng xị lớn lên cùng em ấy, bọn nhóc chơi game máy tính ấy mà. Gầy gò và lưng khòm, trông Fred khỏe mạnh và dẻo dai hơn chúng bạn một chút nhờ nhiều năm tập luyện chạy cự ly dài. Quân đội làm em cường tráng hơn, lưng thẳng hơn – nhưng Fred còn chưa hết tuổi nổi mụn, không bao giờ có cơ hội được trưởng thành hoàn toàn hay đứng lên đối đầu với lão bạo chúa khát máu đã giết em, kẻ đã đẩy em tới Iraq và sau đó là Afghanistan.

Chính cha chứ không phải Saddam[2]. Chết tiệt. Phải đày hai lão già xấu xa, độc ác ấy xuống địa ngục!

“Anh ấy đâu rồi?” Con bé đó vẫn gào thét. “Albert!”

Tôi với lấy micro.

❀ ❀ ❀

[1] Là liệu pháp chữa bệnh dựa trên “quy luật tương đồng” – tức là “lấy những thứ giống nhau chữa cho nhau” hay nói cách khác là “lấy độc trị độc” – và “luật của liều lượng tối thiểu.

[2] Saddam Hussein (1937-2006): là tổng thống thứ năm của Iraq từ năm 1979-2003.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 27 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.