Máu

Lượt đọc: 343 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 43.

❊ ❊ ❊

Không khí bên ngoài làm tôi mệt mỏi: đây là thời điểm hoàn hảo để đọc gì đó nhưng chết tiệt là tôi không đem theo. Thế nên tôi đến tủ sách nơi bọn trẻ nhà Ludd chúng tôi thường cất vài cuốn cho ngày nghỉ.

Tại sao tôi lại gạt cuốn The Shining ra? Hồi đó, tôi không dám đọc lại cuốn tiểu thuyết ấy thêm một lần nào nữa. Trên bìa sách, khuôn mặt của Jack Nicholson[1] với ánh mắt điên dại, lỗ mũi nở rộng, răng nanh nhe ra vừa khoái chá vừa căm thù toét miệng cười với tôi. Hai ông anh tôi bị ám ảnh bởi bộ phim ấy, còn tôi không bao giờ muốn xem nó. Ông diễn viên nhìn tôi ranh mãnh. Monica, mày đã làm gì cha mày? Cha mày sẽ làm gì mày? Nhưng tôi không sợ ông diễn viên vừa già vừa béo ấy nữa. Tôi đọc một chút. Tất cả bị giam chân cùng nhau. Người cha Johnny mất hết lý trí vì giận dữ. Bây giờ họ đã nhốt được Johnny vào khu dự trữ thức ăn. Cơn giận dữ sắp bùng nổ. Một giờ đồng hồ trôi qua. Tôi không thể ngừng đọc. Giờ thì ông ta thoát ra được, ông ta đang đi tìm gia đình mình... Đột nhiên tôi nhảy dựng lên, làm rơi cuốn sách úp xuống bàn.

Tôi làm sandwich để ăn trưa và nhìn ra khu vườn vốn đang tươi tắn, bình thường. Nhưng màu sắc sao cứ tái nhợt, giả tạo, còn mấy cành cây giãy giụa cuồng loạn.

Tôi ép mình quay trở lại phòng, nhặt cuốn sách lên rồi nhét nó xuống đáy chồng sách.

Thế nhưng tôi vẫn không thấy thực sự yên tâm. Tôi liên tục đi từ phòng này sang phòng khác. Trước nay tôi luôn mạnh mẽ, tôi tự hào về điều đó, nhưng giờ đây chỉ có mình tôi trong không gian này. Tôi nhớ việc chuẩn bị giáo án. Phải rồi, lẽ ra tôi nên viết nhật ký, nhưng laptop của tôi đang nằm hiu hắt trong phòng ngủ trên lầu mà tôi thì không đủ hứng khởi để lên tìm. Lỡ có ai đó đang nấp trên đó thì sao? Ánh chiều vàng đỏ lóe lên rực rỡ và ngắn ngủi trên giấy dán tường, tạo thành một bản cổ ngữ của những vết bẩn bạc màu.

Monica, mày đúng là một kẻ khờ dại buồn bã! Tôi lắc mạnh người và nhảy ra khỏi ghế. Ngôi nhà như giãn ra xung quanh tôi. Đã bốn giờ rồi, bốn giờ rưỡi, bóng tối nhập nhèm lan tỏa. Tôi kiếm cớ di chuyển vòng quanh khi mặt trời lặn xuống thành một tia đỏ mờ nhạt xuyên qua cửa sổ phòng khách.

Trời tối nhanh hơn vào tháng Mười Một.

Tôi có điên khùng quá không khi cứ đi vòng vòng kiểm tra, đẩy cửa từng phòng ngủ (với trái tim bé nhỏ phập phồng nỗi muộn phiền), bật đèn lên, cảm ơn Chúa, không có ai cả? Mở cửa, chăm chú quan sát rồi đóng lại.

Không có ai trong cái phòng tắm cũ kỹ. Ai đó đã làm hỏng chiếc bồn tắm chân rồng trong phòng (Con bé, con bé, chắc chắn là đứa con gái sơn móng chân màu xanh dương mờ ấy).

Không có ai ở chỗ ban công dài lộng gió, nơi chiếc ghế nhựa đập liên hồi vào thanh chắn ban công.

Không ai trong nhà vệ sinh riêng biệt... cửa phòng này đặc biệt khó mở. Đây là hang ổ của cha tôi, chúng tôi không được phép vào trong. Dây kéo xả bồn cầu cũ kỹ đang đung đưa, đung đưa, như thể cha vừa dùng xong...

Phải chi ngôi nhà hoàn toàn im ắng.

Trên con đường gần nhà tịnh không có bóng xe, cũng không có tiếng chó sủa hay trẻ con chơi đùa thường thấy. Nhưng vẫn không thực sự yên lặng. Tuổi tác gây ra cảm giác bồn chồn, liên tục cồn cào rồi lại lắng dịu; cành cây hết va đập lại cào vào các cửa sổ, làm móc gài và chốt cửa gỉ sét rồi rơi lả tả; lò sưởi phát ra những tiếng nổ lốp bốp, lúc ẩm ẩm lúc lại nhè nhẹ; các ống nước căng lên, có phải nồi hơi vừa hoạt động không nhỉ? Rèm cửa lao xao theo luồng không khí xuyên qua những khoảng trống, và những chuyển động này cũng có thể đồng nghĩa là có một sinh vật ranh mãnh nào đó theo dõi và chờ đợi.

Nhưng không. Tôi trở ra sau khi kiểm tra căn phòng cuối cùng. Trong nhà không có ai cả, không ai và không thứ gì hết.

Tôi sẽ pha một ly trà và đi viết nhật ký vậy.

Thực ra, tôi đã ngủ gục khi đang ngồi gõ laptop, bởi quá mệt mỏi sau chuyến đi bộ, cuộc đào thoát và không khí bên ngoài. Tôi giật mình tỉnh dậy vì tiếng chuông điện thoại. Tôi không thể quen được với cái kiểu thấp thỏm này. Tôi gần như chắc mẩm người gọi là Ginger.

Hẳn anh ta đã lừa Angus để lấy số điện thoại của tôi.

Nhưng không, ở đầu dây bên kia là giọng thì thầm khàn khàn của em gái tôi. “Mon? Chị Monica phải không? Chị vẫn ổn chứ?”

Tôi vẫn ổn, và những cái bóng nhập nhoạng đang chuyển động. Tôi hơi rùng mình. “Ừ, chị ổn”

“Em đến gặp chị được không?”

Tôi thoáng im lặng, ngạc nhiên. “À, có chút bất tiện, chị không ở nhà.”

Fairy hiếm khi đến gặp tôi. Thể nào con bé cũng đòi cà phê nguyên chất hoặc trà thảo mộc hương vị đắt đỏ. Con bé lại hay gặp khủng hoảng, dù mọi chuyện có thể đã thay đổi với sự có mặt của Rupert.

"Mon à...”

Tôi nhận ra Fairy đang khóc.

“Thôi được rồi, nhưng không ai biết chị ở đây, ừm hầu như là không ai biết. Em phải hứa...”

“...giữ bí mật đúng không? Anh Angus nói em rồi. Thật ra em đang đậu xe ở ngã rẽ vào nhà.”

Dù đã biết con bé đang ở gần đây, tôi vẫn nhảy dựng lên khi chuông cửa reo. Cái chuông này nghe quái gở, khó chịu, là kiểu chuông điện có từ thập niên tám mươi hoặc chín mươi của thế kỷ trước. “Tén ten ten, tén ten ten, tén ten ten” – tiếng kêu của nó na ná tiếng tù và của thợ săn, còn giai điệu lại giống kiểu cha hay huýt sáo vào ban đêm. Thỉnh thoảng, ông ta cũng huýt như thế khi đi phun thuốc trừ sâu ngoài vườn vào mùa hè. Cuộn băng ghi tiếng chuông cửa đã chạy đến điệu thứ nên đoạn cuối rơi rụng nghe cực kỳ khó chịu. Mẹ mua cuộn băng này trong một cửa hàng ở Margate và tặng cha làm quà sinh nhật. “Một cái chuông cửa chết tiệt? Chúng ta có rồi mà!” “Nhưng Albert này, đây là giai điệu ông ưa thích. Tôi nghĩ chúng ta có thể cài nó cho ngôi nhà bên vịnh” Tôi còn nhớ đó là lần duy nhất ông ta tỏ ra hài lòng và hôn mẹ. Nghe lại nó lúc này làm da tôi nhói lên như bị kim châm.

Tôi ra cửa và thấy Fairy đã đứng ở đó. Dáng người dài ngoẵng và khẳng khiu dưới ánh đèn ở cổng vòm của con bé dày thêm chút ít nhờ mái tóc bồng bềnh và chiếc áo khoác đồ sộ màu kem bóng bẩy. Từ trên chiếc áo ấy chảy xuống cả suối lông màu vàng kem, mỗi lớp lông có hình dạng riêng biệt trong khi phần thân thú nhỏ xíu đậm màu hơn một chút. Các chỏm đuôi thon dần và châu về cùng một điểm, cũng mảnh mai và hoàn hảo như chóp mũi con bé – lúc này đang tái xanh vì lạnh.

Fairy bắt đầu rú lên nho nhỏ đầy phấn khích. Tôi nghĩ con bé học kiểu phản ứng này từ những cuộc giao thiệp trong giới người mẫu. Tôi cắt ngang, “Được rồi. Thôi thôi, vào trong đi, vào trong nào”

Tiếp đó nó ôm chầm lấy tôi, thế này thì lạ thật. Mùi hăng hắc tỏa ra từ áo khoác Fairy phủ chồng lên mùi nước hoa hương hoa thuốc lá của con bé.

Khi đẩy con bé ra, tôi nhìn thấy cả khuôn mặt nó. Một bên má Fairy có một đường đỏ lởm chởm cứ như bị đánh bằng vật cứng, một con mắt mở không lên và miệng sưng vù. “Chúa ơi, Fairy, chuyện gì xảy ra vậy?”

“Rupert làm đó,” con bé nói đứt quãng rồi đi tiếp vào nhà để tôi không thể nhìn thêm được nữa. “Em không chịu nói cho anh ấy biết chị ở đâu, em cũng không nói với cảnh sát. Đột nhiên anh ấy nổi cơn thịnh nộ và em nằm bẹp dưới sàn.

Em gái tôi bảo vệ tôi! “Cảm ơn, Fairy!” tôi nói mà không giấu được ngạc nhiên. “Trước đây hắn ta có làm vậy không?... Thằng khốn.”

“Anh ấy có đai đen Judo và từng đại diện cho trường Marlborough thi đấu kiếm. Chị cũng biết trường đó rất tốt mà” (cái tật nói ngọng ngu xuẩn – thành “chường đó rất tốt”), anh ấy còn luyện tập với lực lượng quân dự bị. Nhưng mà anh ấy không thực sự đánh em đâu, hoặc chỉ làm vậy khi anh ấy say mèm.

Con bé vẫn còn tâng bốc về thằng vũ phu đó! Nhưng trong khi nói vậy nó lại lặng lẽ khóc, nước mắt chảy xuống một bên má, rồi Fairy lấy hai tay bưng lấy mặt.

“Chị sẽ nói với các anh” tôi siết chặt nắm đấm. Tôi ghét chuyện người nhà Ludd bị bắt nạt. “Boris sẽ nện thằng đó đo ván cho em”

“Không, không, em đến đây không phải vì chuyện đó.. Mon ơi, em đến để nói với chị... về Veronica...”

“À, con bé đó có đến đây. Em tin được không, con quỷ cái đó dám tấn công chị nên chị đã cho nó một trận!” Nhớ lại cảnh mớ đồ đạc mùa hè nhợt nhạt của Veronica bay tứ tán một cách thảm hại khắp bãi cỏ cũng hả hê lắm. “Đáng đời lắm!”

“Mon... Mon ơi..” Con bé trân trối nhìn tôi qua các kẽ ngón tay. Tôi thấy mắt nó mở to, hãi hùng. Môi nó mấp máy cố để thốt lên lời.

“Có chuyện gì vậy?”

“Mon, chị có biết là Veronica chết rồi không?” Fairy lùi lại một bước, rồi hai bước, ba bước. “Mon, ý chị là... chính chị đã... Có phải không?”

Tôi cố tiêu hóa thông tin mới này. Tôi tưởng mình nghe lầm chứ... về cuộc gọi mà Ginger nghe máy bên ngoài nhà vệ sinh trong lúc tôi chui được nửa người qua cửa sổ. Ai đó đã chết. Người đó là Veronica sao? Con bé, con bé đó, nó trẻ đến đáng ghét, lẽ ra nó sẽ sống lâu hơn tất thảy chúng tôi và lấy tiền của cha. Bây giờ thì không được rồi. Tốt, nó chết rồi.

“Trời ạ! Chị không phải kẻ sát nhân.”

Fairy tỏ ra phân vẫn nhưng không còn bước lùi nữa.

“Em còn không biết chị mình sao?” tôi hỏi gặng.

“Đó là vấn đề đấy, con bé rên rỉ. “Chị không biết là chị mạnh thế nào đâu. Hôm đó chị làm em nghẹt thở trong tủ quần áo…”

“Do chơi giỡn quá thôi, tôi nhẫn nại giải thích. “Về Con bé, chị chỉ cho nó biết thế nào là lễ độ thôi. Nó hoàn toàn khỏe mạnh khi chị gặp nó lần cuối, chỉ hơi nhàu nhĩ thôi. Nó chết thật rồi sao? Ngồi xuống đi, Fairy. Cởi cái áo khoác phát gớm đó ra đi.”

Con bé ngoan ngoãn uống trà, không đòi hỏi vô lối như thường thấy, chỉ biểu lộ một chút không thích trên khuôn mặt tội nghiệp, xinh đẹp và bầm dập. Sau vài ngụm, Fairy bắt đầu nói. “Cảnh sát nói chuyện với Rupert khi em ra ngoài chạy bộ. Rupert kể lại cho em nghe rồi đánh em, tại em không chịu nói chị đang ở đâu. Người ta phát hiện con bé chết ở nhà cha sáng nay. Thật là khủng khiếp. Rupert nói chính mẹ tìm thấy nó...”

“Mẹ phát hiện con bé sao? Mẹ có bao giờ rời khỏi nhà dưỡng lão đâu?”

“Mẹ tới dự bữa tiệc mà chị? Chị Anthea còn nhìn thấy đồ tập tạ trong phòng mẹ”

Tôi cũng từng thấy. Tôi căng óc ra suy nghĩ. Chẳng có gì hợp lý cả.

“Em không nghĩ là mẹ...?” tôi từ từ lên tiếng.

“Mẹ tìm thấy cô ta và gọi cảnh sát.

“Biết đâu mẹ chúng ta giết nó?”

Fairy luôn rúm ró trước sự thô bạo trong gia đình và giờ đây vùi khuôn mặt bé xíu của nó vào cốc trà.

“Nói chị nghe những gì em biết đi Fairy”

“Toàn những thứ nghe lại từ Rupert thôi. Đại loại là Con bé chảy máu tới chết. Nó nằm trên sàn phòng làm việc của cha. Mẹ vào nhà để cho lũ chồn sương ăn. Veronica có mặt ở đó trước bà ấy. Một con chồn sương dính vào cổ nó”

“Kinh quá! Có lẽ lũ chồn đói quá.”

“Cảnh xát nói ở hiện chường có nhiều máu lắm. Fairy lại nói ngọng. Tật nói ngọng của con bé làm mọi thứ trở nên lố bịch.

Nhưng sau đó tôi tưởng tượng ra cảnh một biển máu chảy tràn ra từ cánh cửa đáng sợ kia, cánh cửa dẫn vào căn phòng cấm kỵ, phòng làm việc của lão Râu Xanh[2].

“Đổ máu” và “chết chóc” đã trở thành hai quen thuộc trong cuộc sống mới khủng khiếp của tôi – bắt đầu từ sau bữa tiệc tưởng nhớ Fred. Tôi còn chưa có thời gian lấy con dao ra khỏi túi mua hàng.

“Chị chỉ muốn mọi thứ trở lại bình thường, tôi nghe bản thân mình lên tiếng, và Fairy gật đầu (dù cuộc đời con bé trước đây đã bao giờ được bình thường hay chưa?) “Chị nhớ trường Windmills. Chị không thể về trường được. Neil bảo chị nghỉ bao lâu tùy ý. Chị nghĩ ý ông ta là, Đừng quay lại nữa.”

Tôi nhớ bọn nữ sinh đang la hét inh ỏi bỗng dừng phắt lại bất kể chúng đang làm gì khi tôi bước vào, tôi nhớ mấy lần lùng sục hộp bánh quy ở phòng giáo vụ. Tôi thậm chí nhớ luôn những cuộc tranh cãi với Neil khi tôi khuyên ông ta nên làm gì đó. Tôi có cảm giác mình đã rời xa nơi đó cả một đời. Phải rồi, đám nữ sinh. Tôi thích lũ cay nghiệt, chỉ biết học gạo, quái gở và chơi bời ấy! Giờ đây, khi không thể gặp chúng, sự thích thú ấy càng thêm rõ nét. Đột nhiên tôi thấy thương cho Veronica. Không lâu trước đây cô ta cũng là một nữ sinh như bọn học trò của tôi. Cô ta từng chạy ngược xuôi trên sân khúc côn cầu... Tôi còn nhớ vết máu trên cầu thang dẫn vào sảnh tiệc, sau khi chúng tôi tống cô ta ra ngoài. Cả vết máu trên cái gạt bùn ở đế giày sau vụ cãi vã nho nhỏ giữa chúng tôi trong vườn nữa.

Tại sao cô ta luôn phải đổ máu vì chúng tôi? Thật lòng mà nói là phiền phức chết đi được! Tôi tưởng tượng ra cảnh một cây gậy khúc côn cầu đập vỡ sọ cô ta, nhưng không, không, “Con bé” là nạn nhân, cha già hơn nó tới bốn mươi tuổi. Tởm lợm làm sao.

Cô ta chết rồi. “Con bé” không bao giờ trở thành phụ nữ được nữa.

Trong tích tắc tôi nghĩ: còn tôi thì sao? Liệu tôi có lớn lên thành một phụ nữ bình thường?

Điều gì đó thôi thúc tôi bật ra câu hỏi tiếp theo. “Tại sao trong ngôi nhà này toàn là hình ảnh của em?”

Fairy nhún vai, không thoải mái lắm. “Ông ấy sưu tập chúng”

“Nghe rợn cả người.”

“Có gì đâu, em là người mẫu mà.” Con bé không muốn nói về chuyện này.

“Chỉ có một tấm hình chụp chung trong đó có chị, tôi nhấn mạnh. “Anthea chỉ có một, hai tấm gì đó. Hình của em có ba tấm, treo ngay trong phòng ngủ. (Bây giờ thì hết rồi: tôi đã vứt hết chúng đi; tôi quẳng chúng vào thùng rác với lớp kính vụn vỡ.)

“Con bé chết vì mất máu. Nó mới hai mươi tuổi, Fairy buồn bã nói, tay xoa xoa gò má. Vết đỏ trên má Fairy trông như một mũi tên đang cháy. “Khi nó bắt đầu quan hệ với cha, nó mới là thiếu nữ. Trẻ quá. Giống như là... bị lạm dụng vậy.”

“Lạm dụng” - từ ngữ cấm kỵ ấy được sử dụng quá nhiều, vừa quá vô nghĩa lại vừa hết sức ý nghĩa, rất khó để vạch trần mà mỗi lần lên tiếng lại chỉ có thể quanh co. Nó như lá cờ hiệu màu đỏ xổ ra từ các ngóc ngách và luôn bị giấu đi. Chúng tôi chạm mắt nhau rồi nhìn nhau trân trối. “Cha của chúng ta là một gã tồi bại, tôi nói. Tôi bỏ lửng câu nói, để dành lại cho Fairy nếu con bé muốn bào chữa cho ông ta.

Cả hai chúng tôi giật nảy mình vì điện thoại của Fairy đổ chuông. “Em đang ở ngôi nhà trên vịnh với Mon, con bé nói rồi quay sang tôi, “Anthea đấy, chị nghe máy đi.”

“Em muốn gặp chị, em có chuyện muốn nói...”

“Con bé đây này, tự nói với nó đi” Anthea nói.

Vài phút sau, điện thoại lại reo, lần này là Boris: “Giỏi lắm Mon, anh phải ngưỡng mộ em đấy! Tên khốn tóc đỏ ấy tức điên lên sau khi để sổng em trong nhà vệ sinh.

“Em khá là thích Ginger đấy. Công bằng mà nói thì em cũng không bực bội lắm đâu. Quan trọng hơn là hai anh ổn chứ? Cả hai không sao phải không? Em còn chưa kịp hỏi thăm.

“Em hỏi thì anh nói luôn, anh không ổn lắm đâu. Em có nghe tin gì về Marija không? Cô ấy đang tìm việc ở Riga. Anh và Angus nghĩ có lẽ bọn anh sẽ đến gặp em.

Vậy là cả gia đình sẽ tụ hội – đúng lúc tôi chẳng cần họ và còn cả tá việc khác phải làm!

Tôi không cần họ. Tôi vẫn ổn.

Nhưng những giấc mơ, những giấc mơ ấy và những câu hỏi cứ lặp đi lặp lại. Chúng quấy rầy không ngớt và bò lúc nhúc, lồn nhổn như đám bọ chét hay bọ cánh cứng. Sẽ không ai được ngơi nghỉ cho đến khi có lời giải đáp.

Có thực là “Con bé” đã chảy máu đến chết?

Gia đình tôi là những kẻ giết người.

❀ ❀ ❀

[1] John Joseph Nicholson, sinh năm 1937, là diễn viên kiêm nhà làm phim người Mỹ với sự nghiệp trải dài hơn 60 năm.

[2] Nguyên văn: Bluebeard, là nhân vật trong cuốn “Những câu chuyện của Mẹ Goose" xuất bản năm 1697 của tác giả người Pháp Charles Perrault – cũng là tác giả của nhiều truyện cổ tích nổi tiếng như “Cô bé Lọ Lem”, “Người đẹp ngủ trong rừng”... Truyện Râu Xanh viết về một nhà quý tộc hung bạo đã giết nhiều người vợ của mình. Ngoài nét nghĩa “người đàn ông cưới và giết nhiều người vợ”, từ diễn Merriam-Webster nổi tiếng còn thêm cho “bluebeard” nét nghĩa là “tội ác vì dụ dỗ và bỏ rơi một loạt phụ nữ”.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 27 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.