10 giờ đêm. Điện thoại nhà không reo. Cảnh sát không đến đây tìm tôi. Điều đó tức là không ai biết tôi đang ở đây. Nếu các anh chị em tôi đoán ra, họ cũng không bán đứng tôi. Nhịp tim của tôi bình ổn, hơi thở dịu lại. Giống như cảnh bìa rừng huy hoàng trong phim “The Great Escape”[1], khoảnh khắc mà những người Anh bị bắt lại đắm mình ngắn ngủi trong ánh nắng trước khi bị hành hình. Tôi có bao nhiêu thời gian? Tính bằng giờ hay bằng ngày?
Cha mua ngôi nhà ở vịnh này vào khoảng năm 1980, khi tôi lên mười còn cặp song sinh hai mươi lăm. Lúc đó, ông đã nhận làm răng tư được vài năm và phát hiện cách hái ra tiền (hoặc khả năng cao hơn là nhờ cô Esmeralda phát hiện). Cha hay nói cô Esmeralda là thiên tài kinh doanh “nhưng lại không phát huy trong chuyện tăng tiền lương của chính mình”. Câu sau ông ta lẩm bẩm rồi cười thầm đắc ý. Đúng, ông ta thích cô Esmeralda! (Không, lão khốn lợi dụng cô ấy). Thị trường nhà đất xuống dốc nên cha mua được ngôi nhà này với giá hời. Một ngôi nhà to đùng xây từ những năm 1920, nằm trên vách đá nhìn xuống vịnh Bone. Một bên nhà là bụi rậm dày đặc không thể xuyên thủng ngăn cách với rìa vách đá, cứ tới hè lại nở hoa vàng và chi chít quả mâm xôi non màu hồng pha đỏ. “Tôi đã trồng thêm một vài cây gì mà bà nói ấy, Leyland gì đó, để không ai nhòm ngó chúng ta.” “Leylandii, đồ ngu, mẹ nói rất nhỏ nhưng không may là lũ trẻ bọn tôi nghe được. Một vài nét tính cách của tôi ắt hẳn được thừa hưởng từ mẹ.
Trưa hôm đó, sau vài chục năm, tôi lại đi trên con đường này. Giờ tôi đã là một phụ nữ cực kỳ mạnh mẽ. Chiếc xe được giấu kín trong rừng phía sau nhà để không ai phát hiện ra điều gì bất thường. Tôi thận trọng tiến về phía cửa, quan sát kỹ lưỡng, phóng từ cây này sang cây khác.
Thật khó để giải thích vì sao tôi thích đến đây. Ngôi nhà này là nơi cha đưa “Con bé” đến hú hí. Tôi biết do tìm thấy bao cao su đã sử dụng trong thùng rác hoặc gần máy giặt.
Có thể ông ta còn dắt thêm nhiều người khác đến, như mụ điếm tóc vàng hoặc là mụ sát nhân mà tôi đã quấy rầy bọn họ - thì quá khứ, thì quá khứ, không còn xảy ra nữa, tất cả những gì cha làm đều đã kết thúc rồi. Do đó, sau này mỗi lần đến đây - chắc khoảng ba lần một năm nhỉ? – tôi đều vô cùng căng thẳng.
Vậy sao còn tới? Cảm giác rùng rợn, nỗi khiếp sợ... Monica đang ngủ trong miệng sư tử. Áp sát cha nhưng ông ta không hề hay biết, nếu biết, hẳn ông ta sẽ giết tôi.
Có thể làm như vậy là giải thoát, hành động thực tế sẽ chấm dứt nỗi sợ hãi mà hành động đó gây ra. Thực ra đó chỉ là kiểu làm nhảm ra vẻ triết lý mà tôi đã học để trở thành giáo viên thôi.
Ngôi nhà ở vịnh cần tân trang bởi cha là người keo kiệt – nói đúng là cha đã từng keo kiệt. Tôi bắt đầu chán ghét ngôi nhà này khi bước vào tuổi thiếu niên nhưng giờ đây tôi rung cảm với kiến trúc những năm 1920. Những chiếc ghế phong cách Art Deco, bình phong, các lò sưởi còn hoạt động... Toàn bộ rèm cửa trong nhà là đồ gốc, một số te tua với những vết rách dài và những vết rách hình ngôi sao do bị bướm đêm gặm nhấm (mà ánh nắng sớm mai tràn qua đó) và những hình thù giống như hoa trên tác phẩm gốm của Clarice Cliff[2]. Tôi là một phụ nữ có học thức nên biết đến Clarice Cliff, dù rằng tôi chỉ sở hữu một cái hũ đựng đường – lại còn thiếu nắp. Liệu ngôi nhà có phải là phiên bản bắt chước nhà Manderley[3]? Tôi biết cả Rebecca đấy. Phòng ốc trong nhà này lớn hơn phòng ở ngôi nhà chúng tôi tại Margate. Trong nhà treo quá nhiều hình ảnh của Fairy, dĩ nhiên là Fairy chứ không phải Anthea. Nào là hình Fairy tuổi lên tám, lên mười rồi mười hai – khoảng mười bốn tấm cả thảy. Hoàn toàn không có ảnh nào của riêng tôi, trừ một tấm chụp chung mà cha bắt tôi phải đứng ra phía sau. “Xuống hàng cuối, Mono. Mày cao gớm quá. Tôi biết thừa ông ta định nói là tôi xấu.
Cha mua ngôi nhà ở vịnh được một thời gian rồi chúng tôi mới biết. Khoảng thời gian ấy đủ để trang trí nội thất và thiết kế lại khu vườn vốn bị bỏ hoang.
Ông ta chẳng có chút gu nào: chọn cây leylandii, hoa hồng đỏ..., toàn cây to và không có hương thơm, lại còn thêm cúc vạn thọ màu cam sáng ở khắp nơi. “Tôi không thích cúc vạn thọ” mẹ lên tiếng. Chỉ duy nhất lần này cha không nổi nóng. “April à, họ nói với tôi là cúc vạn thọ kháng sâu bọ. Biết đâu chúng sẽ xử được bọn quỷ con này. Ông ta ám chỉ lũ trẻ chúng tôi và hai người bọn họ phá ra cười.
Trong vườn có nhà hóng mát đã được xây từ mấy chục năm trước và những người chủ cũ sơn nó màu xanh lá nhạt. Tôi thích nó. “Cha, cha, cho con chỗ đó được không?” “Cái nhà kho đó hả? Mày có điên không? Tao đang định giật sập nó đây.” Tôi cầu xin mãi và đó cũng là lần duy nhất ông ta chịu nghe theo, có thể vì để nó đó thì đỡ tốn công hơn. Đúng vậy, tôi yêu mùa hè đầu tiên mà ông ta dẫn chúng tôi đến đó. (Anthea khi ấy mười bảy tuổi, mặt mày sưng sỉa; tôi mười một, đang trổ giò lớn như thổi; Fairy bảy tuổi, không có gì đáng chú ý; và Fred bé xíu xiu, em bé im lặng có cặp mắt dõi theo mọi thứ cùng mái tóc đen rối bù).
Nhà hóng mát là nơi tôi cảm thấy an toàn và được ở một mình. Anthea sợ nhện, Fairy còn nhỏ quá, chưa xoay được tay nắm. Vả lại, cha mẹ không tin tưởng để tôi ở một mình với nó sau sự cố trong tủ quần áo. Tôi không có thời gian để kể lại vụ này.
Suốt mùa xuân năm đó, nhà tôi cãi vã ầm ĩ và mọi chuyện chỉ kết thúc khi cha thông báo về chuyến đi. Tất cả chúng tôi đều cảm nhận được chiến thắng thuộc về mẹ. Bây giờ tôi ghép nối các sự kiện lại và đoán rằng hẳn cha mua ngôi nhà này để tằng tịu với những phụ nữ khác. Chắc là như vậy và dĩ nhiên mẹ phản đối.
Mà thôi, dù sao đi nữa tôi không muốn rền rĩ về những tổn thương gây ra bởi đời sống chăn gối của cha mẹ. Tôi đã ba mươi tám tuổi, quá trưởng thành rồi, không cần phải phóng đại chuyện này nữa. Tôi cao đến 1,85 mét cơ mà.
Thế nhưng tại sao tôi lại luôn sống một mình?
Tôi vẫn nhớ chuyến đi nghỉ đầu tiên của cả gia đình năm ấy. “Chúng mày có biết chúng mày may mắn thế nào không?” cha gặng hỏi. Ông ta thậm chí còn mỉm cười trong bữa ăn sáng hôm đó. “Ta chưa bao giờ được đi nghỉ khi còn nhỏ. Nhưng ta đã nai lưng làm việc cả ngày để chúng mày được vui vẻ. Vậy đó, gia đình chúng ta hãy vui chơi cùng nhau!” Cha hát hò trong xe khi cầm lái đưa chúng tôi đến ngôi nhà ở vịnh, chẳng hề gắt gỏng khi mẹ cằn nhằn. “Cả nhà sẽ thích chỗ đó” ông ta giảng giải. “Đó là nhà nghỉ mát. Chỉ có những gia đình khá giả mới có nhà nghỉ mát. Nhờ có ta mà gia đình này thuộc hàng sung túc.”
Dù vậy, chuyến nghỉ mát diễn ra quá trễ đối với cặp sinh đôi. Khi đó, họ đang ở Manhattan kiếm cả núi tiền lấp lánh. Tôi và Anthea không thoải mái khi ở cùng nhau, liên tục đấm nhau ở băng ghế sau. Bọn tôi đấm nhau phía trên đầu Fairy ngồi giữa nhưng con bé vờ vịt là tôi đánh nó. Thực ra tôi chỉ có thể rỉ tai những chuyện thích thú với Anthea và chị ta cũng chỉ có tôi để chia sẻ, nhưng Anthea hay cậy lớn tuổi mà coi thường tôi, còn tôi bực bội vì chị ta tỏ ra rẻ rúng những cuốn sách tôi đọc (sách của Tolkien, của Dickens!). Cuốn sách duy nhất mà chúng tôi cùng thích là “Rebecca”. Anthea thích đọc tạp chí về sức khỏe và làm đẹp hơn. Tuy Anthea là chị tôi nhưng tôi sớm biết chị ta khác hẳn mình. Anthea mê mẩn sơn móng tay và nhuộm nhiều màu tóc thay đổi. Chị ta tẩy lông chân và uốn lông mi bằng bộ dụng cụ thép không gỉ do bưu điện giao tới. Fred không liên quan bởi em còn ẵm ngửa. Có thể bạn không biết “trẻ sơ sinh” nghĩa là “không biết nói”. Do đó, nó không thể nói lên ý kiến của mình.
Từ “trẻ sơ sinh” trong tiếng Latin có nghĩa “im hơi lặng tiếng”. Đứa trẻ không biết nói thì không thể tự bảo vệ mình. Tôi định sẽ sinh ra một đứa trẻ lắm lời. Ở tuổi ba mươi tám, tôi vẫn chưa phải là già lắm.
(Ôi, Fred đã chết. Tôi vẫn không thể chấp nhận điều đó trong khi “cha, chết” thì tôi đang dần quen rồi. Nghĩ đến ông ta làm tôi đau đầu. Ông ta đã chia làm hai, hoặc đang trong quá trình phân chia.
Một bên là nhân vật bị thịt nặng nề đã phủ bóng đời tôi kể từ khi tôi còn là một cô bé, và một bên là người đàn ông ở trên giường, cực kỳ khác thường, phơi mình trong ánh mặt trời và nhuộm thẫm một màu máu. Đừng nghĩ về ông ta nữa, đừng để ông ta xen vào đầu óc - cái đầu méo mó, mí mắt co giật, trong một khoảnh khắc đã trừng trừng nhìn tôi. Không, không, cút về quá khứ đi.)
Lần đầu tiên chúng tôi đến ngôi nhà ở vịnh là vào mùa hè. Nhà hóng mát của tôi có một cửa sổ nhỏ ở phía sau, từ đó nhìn ra là cả một khung cảnh hoang dã đầy thích thú. Tôi viết thơ trong một quyển bài tập. Những con bướm đỏ và đen, thêm vài con nhỏ màu xanh dương nhạt, bay lừ đừ. Có thể chúng đang giao phối. Ở một mình trong nhà hóng mát, tôi hoàn toàn vui vẻ.
Cứ nhớ về mùa hè ấy là tôi nhói đau. Lúc đó tôi mới mười một tuổi, vẫn ôm ấp mộng tưởng. Tôi cho rằng mình sẽ có chồng và có thể sinh hai đứa con. Chúng tôi có năm anh chị em. Nhà Ludd là một gia đình lớn nhưng chúng tôi đang chết dần chết mòn. “Không ai trong số anh chị em chúng tôi sinh con, tôi đã nói vậy với Ginger và đôi mắt anh ta nheo lại. Tôi biết anh ta đã rút ra kết luận gì đó. Một gia đình đang lụi tàn. Chúng tôi đang chết dần chết mòn.
Bám dính lấy nhau, ở cùng với nhau. Đó là những gì cha nói. Lẽ ra gia đình chúng tôi phải có thêm thành viên rồi.
Sau kỳ nghỉ đó còn nhiều kỳ nghỉ khác nhưng trong tâm trí tôi, đó là kỳ nghỉ hạnh phúc nhất. Chúng tôi nhét trên chi xe ồn ào. Cha hét lên bảo chúng tôi: “Lấy đồ đạc xuống trước! Thu dọn cái xe trước khi tụi bay đi khám phá!” Và chúng tôi phóng khỏi xe như nút bần vọt ra từ chai rượu Prosecco, mang vác như những con la, vừa nhún nhảy vừa cười rúc rích như một đám rước vênh váo đến tận cửa nhà.
Hẳn nhiên là không có kỳ nghỉ nào hoàn toàn xuôi chèo mát mái. Cha cấm chúng tôi vào những căn phòng mà ông ta ưa thích, cũng không cho phép chúng tôi lấy kem trong tủ đông ra. Cha mắng chửi Anth khi chị ấy mặc bikini và thỉnh thoảng gây gổ với mẹ vào lúc sáng sớm.
Tiếng quát tháo ầm ầm vang ra từ phòng ngủ khiến gương mặt mẹ trắng bệch đến tận giờ ăn trưa. Nhưng cha cũng chơi cricket kiểu Pháp với chúng tôi. Ông vụt mạnh trái banh vào tường hoặc các thân cây rồi vừa la to vừa cười rộ lên khi chúng tôi bắt hụt banh. Tay chúng tôi tê rần vì lực đánh của cha. Rồi tới một ngày kia, tôi ném bóng mà cha không đỡ được, ông chạy tới vò tóc tôi và nói: “Chơi tốt đấy, nhóc béo của ta.”
Tay ông đặt trên đầu tôi, không hề làm tôi đau.
Hầu hết thời gian chúng tôi trốn cha mẹ để chơi trên bậc thang dẫn xuống biển và leo trèo cổ thụ. Chúng tôi vui hết cỡ không lo nghĩ gì và lơ mơ ngủ trên ghế xếp với một cuốn sách (đó là tôi). Sau đó, Fairy và Fred bám đuôi khiến Anthea bỏ đi và tôi trở thành thủ lĩnh. Chúng tôi vênh mặt lên với hàng dài du khách xếp hàng ở quán cà phê bãi biển để mua khoai tây chiên, bánh hình ốc và kem dâu. Chúng tôi xua ong vò vẽ về hướng du khách rồi cắm đầu cắm cổ chạy ra biển. Chúng tôi nắm tay nhau nhảy múa như con sứa biển khổng lồ. Đúng vậy, tôi tin rằng chúng tôi đã hạnh phúc, nhà Ludd chúng tôi hạnh phúc. Tôi thực lòng tin như vậy. Nếu có khi nào chúng tôi hạnh phúc thì đó là ở đây. Có lẽ vì lý do này mà tôi luôn quay lại ngôi nhà ở vịnh.
Riêng lần này, tôi không còn nơi nào khác để đi.
❀ ❀ ❀
[1] Tạm dịch là “Cuộc đào thoát vĩ đại”, là bộ phim Mỹ với nội dung kể về cuộc vượt ngục quy mô lớn của hơn 600 tù nhân trong trại tập trung Stalag Luft III của Đức thời Thế chiến thứ hai (năm 1943). Họ đào hầm từ trong trại ra đến bìa rừng để trốn thoát. Được sản xuất năm 1963, bộ phim chuyển thể từ cuốn sách “người thật việc thật” cùng tên của tác giả Paul Brickhill.
[2] Clarice Cliff (1899-1972): nghệ nhân gốm của Anh, hoạt động trong khoảng thời gian từ năm 1922-1963.
[3] Là ngôi nhà của nhân vật Maxim de Winter trong tiểu thuyết “Rebecca" (1938) của nữ văn sĩ người Anh Daphne du Maurier. Nằm ở miền nam nước Anh, Manderley là kiểu nhà nông thôn diễn hình, trong nhà tràn ngập đồ gia truyền với đội ngũ giúp việc đông đảo. Dù ngôi nhà đẹp dễ nhưng nhân vật chính (xưng “tôi”), bà chủ của Manderley, lại thấy nơi đây u ám do cái chết của người vợ đầu của Max (có tên gọi là Rebecca). Tác phẩm đã được chuyển thể thành phim do Alfred Hitchcock đạo diễn vào năm 1940.