Máu

Lượt đọc: 343 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 37.

❊ ❊ ❊

Những gì Veronica tiết lộ khiến tôi bấn loạn. Nỗi sợ hãi cha của mình. Cảm giác kinh sợ, bị khủng bố. Từ sâu trong lòng tôi thấy trống rỗng và choáng váng, nhưng phân nửa cảm giác đó có thể là do tôi đói bụng. Tôi to lớn và tôi cần thức ăn. Đến sáng hôm sau, bánh bột ngô nướng và phần lớn hộp đồ ăn trong tủ nhà bếp đã bay biến.

Tôi nghĩ, “Tìm đồ ăn. Và đi gặp mẹ. Dù sao đi nữa cha cũng từng là chồng của mẹ. Nếu bà già ngồi lê đôi mách ở bàn tiếp tân kể với mẹ, bà sẽ bị sốc và khó chịu. Tốt hơn cả là để tôi kể bà nghe chuyện này.”

Chuyện sẽ như thế nào đều phụ thuộc vào tình trạng của cha. Ông ta sẽ hồi phục nhanh hay tốt hơn là, sắp chết? Sẽ ra sao nếu ông ta vẫn giữ liên lạc với mẹ?

Có thể mẹ đã đi thăm ông ta. Biết đâu bà ấy đã biết quá nhiều rồi. Hay cha đã nói gì đó về tôi?

(Cũng có thể chỉ là do tôi muốn quan sát khuôn mặt mẹ khi nghe tới tên cha. Để tìm hiểu về bà? Từ xưa đến giờ, mẹ luôn bí ẩn. Bạn không thể hiểu được bà ấy. Chỉ phân nửa con người bà hiện diện, nửa còn lại ở đâu? Ủng hộ chúng tôi hay chống lại chúng tôi?)

Bên ngoài ngôi nhà, ánh nắng chiếu rọi rồi lại tắt ngúm. Tôi không thể ở yên trong ngôi nhà này. Bao tử tôi réo ùng ục, tôi phải đi thôi. Dùng xe của Gunilla thì nguy hiểm quá, con gái cô ta có thể đã báo cảnh sát rằng nó bị đánh cắp. Cô con gái mắc chứng sợ không gian rộng và không lái xe được nhưng vẫn chơi bóng bàn với người chăm sóc trong garage...

Cuốc bộ!, mẹ sẽ nói thế. Tôi cẩn thận quấn mình trong nhiều lớp quần áo, ngoài cùng là áo choàng chống nước (kèm mũ trùm đầu) để ngụy trang. Tôi quấn chiếc khăn choàng cũ của trường phổ thông che kín phần cằm và nhét luôn tóc vào đấy, sau đó xách theo ba lô để mang thức ăn về.

Dọc bãi biển là vương quốc của những người dắt chó đi dạo, ông già bà cả và một vài đứa mới lớn trốn học. Nếu báo chí đã đăng hình tôi thì đó là một nguy cơ, hẳn rồi. Sẽ có học sinh trung thành với tôi, nhưng những đứa khác biết đâu sẽ hào hứng bán đứng cô giáo.

Dù vậy, đi dọc bãi biển sẽ an toàn hơn so với đường chính, bởi Ginger có thể lượn lờ đón lõng. Thủy triều đã rút, tôi kiểm tra Bảng giờ thủy triều vùng Đông Nam trên điện thoại, trên cả an toàn. (Chúa ơi, tôi bị lệ thuộc vào điện thoại. Lẽ ra nên tắt nó đi hơn là sử dụng linh tinh thế này.)

Nhà dưỡng lão Cliffetoppe’s, ngôi nhà mới của mẹ tôi, nằm ở Ramsgate, gần với dinh thự xanh bạt ngàn của “Bộ đôi”. Nếu guồng chân nhanh dọc theo bãi biển, tôi có thể đến đó trong vòng một giờ.

Dự báo thời tiết trong ngày là có nắng và mưa rào. Tôi nhét trong túi chiếc mũ len mà anh hoặc em trai mình để lại trong ngôi nhà bên vịnh từ hai thập kỷ trước. Tôi đội mũ lên, kéo sụp xuống qua lông mày, kiểm tra tầm nhìn qua gương rồi cẩn thận kéo mũ trùm đầu phủ lên trên cùng.

Tôi biến thành khối đen to lù lù như một cây Giáng sinh, nhưng dân Thanet chúng tôi thường to lớn ngoại cỡ. Đó là một trong những nhận xét mà lúc nào Fairy cũng thốt ra mỗi khi con bé nổi tiếng ghé thăm chúng tôi chớp nhoáng. “Sao mà người ta to lớn quá vậy! Em không có ý xúc phạm đâu Monica.”

“Không vấn đề gì. Em biết chị rất vừa người mà Fairy. Ví dụ chị có thể bẻ gãy tay em như bẻ một que diêm.”

Chỉ cần nhìn nụ cười của tôi là con bé hiểu ý tôi.

Nó lí nhí đầy căng thẳng, “Xin lỗi Mon.”

Thật ra tôi sẽ không bao giờ làm Fairy đau. Đã có quá nhiều người làm con bé tổn thương, kể cả tôi, nhưng chuyện đó qua lâu rồi.

Em gái, em gái bé bỏng ơi, chuyện gì đã xảy ra với em. Cha đã làm gì? Tại sao em lại yếu ớt và đầu óc hạn hẹp như vậy? Em như vậy khiến chị giận dữ nhưng cũng làm chị thấy tội nghiệp cho em. Ông ta đã làm gì tất cả chúng ta thế này?

Cha, cha, cha lại hiện lên trong đầu tôi. Ông ta len lỏi trở lại bởi ông ta chưa chết.

Tôi bước thấp bước cao trên con đường dẫn từ nhà ra bờ biển. Giấy tờ bay tứ tán dọc đường tôi đi, tất cả đều đặc kín những dòng chữ nhỏ màu xanh, ghi lại quãng đời bùng nổ của ai đó. Bàn chân to lớn của tôi giẫm lên một mẩu giấy bị vặn vẹo trong cơn gió thổi tạt ngang. Tôi lướt qua mẩu giấy thật nhanh với niềm tin vào cơ may, vào số phận rằng biết đâu đây là thông điệp từ một vị thần nào đó từ đa vũ trụ? Liệu có ai đó từ chốn thịnh không dành chút thời gian cho tôi? Dù nhìn từ xa nhưng tôi vẫn thấy những dòng chữ này gọn gàng, đầy ám ảnh và khít vào nhau tới mức khó mà đọc được. Có một câu dở dang viết nghiêng như thế này, “Anh yêu em nếu... Tôi mong là dòng chữ nguệch ngoạc ấy không kể về mấy chuyện tình dục. Có phải do tôi lả lơi nên Ginger mới yêu tôi? Tôi vò tờ giấy rồi ném vào thùng rác.

“Anh yêu em nếu…” Cha mẹ tôi có từng yêu tôi không?

Tôi quyết định vào ăn trong Bone Bay, một quán cà phê xiêu vẹo trên bãi biển. Mới trước đây không lâu họ vẫn còn đóng cửa vào mùa đông, nhưng mùa đông ngày càng ngắn hơn và ấm hơn. Khi tôi vào, trong quán không có lấy một bóng khách, chỉ có một cô bé tóc vàng, chắc còn vị thành niên, lơ đãng phe phẩy một cái khăn ướt. Ơn Chúa, tôi không quen cô bé này. Tôi gọi một bữa sáng “khủng” dành cho cả ngày, ăn ngấu nghiến tới nỗi suýt thì nghẹn. Ăn xong, tôi đến quầy gọi thêm một phần nữa.

Sai lầm rồi, sai lầm rồi, tôi đang thèm ăn, nhưng đang lẩn trốn thì không thể thỏa mãn cơn thèm.

Đứa bé trong quán đã lỉnh đi chỗ khác chơi, trong bếp ẩm ī tiếng radio. Tôi gọi nhiều lần, đến lần cuối gần như rống lên hết mức với mấy miếng trứng lúng búng trong miệng.

Cuối cùng con bé xuất hiện, vẻ miễn cưỡng. “Xin lỗi cô, bọn cháu đang nghe đài, có một vụ khủng bố khủng khiếp ở Gatwick, con bé nói. Nó nhấn mạnh lần nữa “khủng bố khủng khiếp” như thể tin tức đó thú vị lắm.

“Thêm một suất bữa sáng cho cả ngày” tôi càu nhàu bên dưới lớp khăn quàng. Dứt lời, tôi lại bật thêm câu, “Vụ khủng bố khủng khiếp nhỉ. Đó là bản năng thứ hai của tôi, bản năng của một giáo viên khiến tôi trấn an con bé.

“Ồ, ra là cô đi hai người à, xin lỗi nhé, một người phụ nữ bước ra từ nhà bếp lên tiếng. Cô ta cầm theo chiếc radio màu hồng.

Con bé hỏi lại, “Cô gọi xúc xích ăn thêm à?”

“Không” tôi lẩm bẩm. “Cô nói khủng bố khủng khiếp[1]” “Vậy là lẽ ra phải có hai suất bữa sáng? Cô ấy là người mới vào,” người phụ nữ vừa nói vừa chỉ vào con bé đang vờ vịt lau cái bàn kế bên với vẻ bắt lỗi. “Josie!” cô ta hét lên rồi quay sang tôi phân trần, “Chúng tôi không chú ý lắm. Cô có nghe bản tin không, có nhiều người bị giết lắm, có cả một đứa bé nằm trong xe nôi. Mới hai tiếng trước thôi, tại Gatwick. Không xa đây lắm... Josie à, lẽ ra phải hai suất cho hai người!”

Tóc Josie màu vàng nhưng cạo sát nên đầu con bé giống như một quả bóng tennis. Con bé quay người lại và đưa mắt nhìn quanh quán. Tôi chen vào, “Chỉ có mình tôi thôi, nhưng tôi đang đói. Ban nãy tôi tập thể dục nhiều quá.”

Thế là cả hai người họ ngẩn ra và nhìn tôi chằm chằm. Một suất bữa sáng “khủng” cũng đâu nhiều nhặn gì: ba quả trứng, ba cây xúc xích, hai phần khoai tây chiên, hai khoanh bánh mì nướng, ba lát thịt xông khói, hai lát dồi và một quả cà chua.

Tôi tự nhủ vụ khủng bố ở Gatwick sẽ làm họ sớm quên chuyện tôi vào quán thôi.

Đúng vậy, khủng bố gây ra sợ hãi. Tôi không được phép quên rằng điều đó xảy ra ở mọi nơi, chứ không chỉ tại nhà Ludd. Chúng ta cảm thấy khó chịu khi trong số nạn nhân có “các em bé nhỏ xíu” nhưng chắc chắn với người trưởng thành còn tệ hại hơn. Chiếc radio vẫn nằm trên quầy và phát ra âm thanh om sòm.

Khi ăn suất bữa sáng “khủng” thứ hai, tôi nhẩn nha để tận hưởng vị ngon, dù món xúc xích làm chưa chín. Tai tôi lắng nghe các bản tin phát ra từ radio. Số người chết đang tăng lên. Đứa bé nạn nhân bị văng ra khỏi xe nôi. Một người phụ nữ nào đó kể lể về tình trạng bạo lực. Người phỏng vấn phát chán với bà ta. Điều người ta muốn nghe lúc này là chiều sâu vụ việc, hoặc là các tình tiết đáng sợ hoặc là những trường hợp xả thân cứu người. Tiếng còi hú kéo dài vang rền khi xe cấp cứu cố tiếp cận những người bị thương. “Đây là vụ tấn công thứ tám hoặc chín trong năm nay ở Anh...” – ngay cả tin tức cũng không đưa ra được con số chính xác. (Hẳn nhiên chẳng ai mảy may chú ý hay để lọt tai nếu vụ việc xảy ra ở Afghanistan hoặc Iraq, ba mươi người chết ở đây, bốn mươi người chết ở kia. Không sai, chúng ta không hề chú tâm đến nơi khác.) Một trong số những kẻ đánh bom vẫn chưa sa lưới, y (chưa rõ nam hay nữ) còn mặc áo bom chưa phát nổ. Có thể kẻ đó ngụy trang kỹ càng.

Tôi chợt nhận thấy con bé trong quán ngó tôi đăm đăm rồi quay sang nhỏ to với người phụ nữ kia. Khi tôi nhìn lại, cả hai hướng ánh mắt đi chỗ khác. Tôi đặt tờ bạc hai mươi bảng lên bàn, đó là khoản tiền boa hậu hĩnh dành cho con bé không được sáng láng cho lắm và lẽ ra phải đến trường hôm nay. Sau đó, tôi bước nhanh ra khỏi quán, câu “Cảm ơn” rớt lại phía sau như thì thầm.

“Quý khách nói gì thế?” một người hét lên rồi nói tiếp, “Còn tiền thừa nữa, tiền thừa này!”

Hôm nay tiết trời khá ấm nếu so với thời tiết tháng Mười Một. Chiếc mũ đội đầu quá nóng và nặng, đội nó vừa ngớ ngẩn vừa khó chịu. Tôi rảo chân thật nhanh, trong đầu tập đi tập lại những từ sẽ nói với mẹ. “Cha bị thương nặng lắm mẹ à...” Một kịch bản dở tệ như kiểu phim thập niên 1930. Cảm nhận thực sự của bà về ông ta là gì? Liệu bà còn cảm giác gì với ông ta không? Hay trước đây từng có cảm giác gì không?

Tôi tiếp tục bước đi, băng qua vịnh Viking, hướng tới vịnh Louisa. Đây là một trong những địa điểm ưa thích của tôi.

Sắc màu nơi đây chủ đạo là màu beige, xanh dương nhạt và xám lấp lánh. Những miếng mica sáng màu găm vào cát, ánh lên như bụi vàng lấm tấm giữa nắng mùa đông. Tôi đã từng hay đến đây đọc sách và luôn thấy vui vẻ, nhưng lúc này tôi đang trốn chạy.

Dọc theo đường bờ biển đoạn này, dãy núi đá sụm xuống, những khối đá vôi khổng lồ nằm trên cát trông như tàn tích thời La Mã, kéo theo sau là một cái “đuôi” lả tả đá vụn. Từ dưới bãi cát nhìn lên, những ngôi nhà giả gỗ theo phong cách Victorian cheo leo muốn đứng tim. Liệu nước biển có dâng cao và trườn lên bên dưới chúng? Nào, vẫy chào tạm biệt những biệt thự của tầng lớp trung lưu.

Thực ra những ngôi nhà đó vẫn nằm cách rìa mép đá hai mươi mét. Nhưng rồi theo thời gian, mọi thứ đều sẽ rơi xuống. Bên dưới biển cả chực chờ. Biển luôn góp sức vào quá trình đó, bằng cách liếm láp phần nền móng. Cha đã phải rơi xuống, ông ta phải thế thôi, nhưng liệu chúng tôi có bị kéo theo hay không? Chúng tôi có tàn đời không?

Ngôi nhà bên vịnh của chúng tôi gần rìa mép đá còn hơn thế này, cách khoảng hai mươi mét, có thể là ba mươi. Nhưng cha ắt hẳn đã suy xét cẩn thận khi mua ngôi nhà, trong chừng mực nào đó ông ta vẫn chăm sóc chúng tôi. Chắc ông ta có lý do của mình, dù sao ông ta cũng là trụ cột gia đình...

(Dẫu vậy, vẫn có những tiếng thình thịch và rầm rầm vào ban đêm. Những vết nứt giữa tường và trần nhà là gì, còn những mối hở chạy dọc theo phần ván gỗ ghép chân tường là gì, tại sao lại có một đường dài giữa khung cửa và lớp thạch cao?)

Ôi, người nhà Ludd, gia đình Ludd. Chúng tôi sẽ luôn dính lấy nhau, chúng tôi sẽ không sợ hãi và ngôi nhà sẽ đứng vững. Hoặc là tôi chỉ đang huýt sáo trong bóng tối để cố trấn an bản thân. Phải, đó là điều cha tôi vẫn làm mỗi khi ông ta thức dậy vào ban đêm và không bật đèn lên. Tiếng huýt sáo kinh hãi đó, cứ dồn dập, dồn dập...

Tôi cố nhớ lại: còn người khác nữa huýt sáo.

Mà thôi, đi tiếp đi, cảm ơn Chúa vì đang là ban ngày. Sải bước thôi, Monica, suy nghĩ linh tinh không tốt chút nào.

Tôi đi bộ nhanh nên đã gần tới Dumpton, nơi Coleridge[2] có “một cú lộn nhào khoái chá” vào những con sóng. Tôi đã đọc những lá thư ông viết. Tôi có thể đọc thâu đêm nếu không phải chuẩn bị bài vở lên lớp, hay phải bỏ trốn. Đúng vậy, ở Thanet này chúng tôi có nền văn hóa và thi ca riêng! Coleridge thích được “Ramsgate hóa”! Tôi đã cố hết sức để khắc sâu điều đó vào đầu Neil. Tôi đề xuất đưa các nghệ sĩ địa phương vào bài vở song Neil lại đến từ London và dốt nát. Ông ta nói, “Đúng là thú vị số một đấy cô Monica. Cảm ơn cô. Đề xuất của cô luôn được chào đón, nhưng các tên tuổi hiện đại có thể phù hợp hơn. Nếu có một “nhà thơ được vinh danh” người địa phương thì..” Trông ông ta tự phụ ra mặt hết mức có thể. Hai con chó đang vờn sóng biển, tạo thành hai bóng đen nhấp nhô trước biển cả lấp lánh. Sự cuồng nhiệt của chúng truyền tới tôi. Không kịp suy nghĩ, tôi ào qua bãi đá nhập hội với chúng và cuối cùng đầm người xuống bãi cát. Khi cát ướt níu chậm bước chân tôi, tôi mới nhận ra không phải chúng đùa giỡn mà là đang sủa ầm ĩ và cắn xé nhau. Con nhỏ hơn ăng ẳng không ngớt khi bám cứng lấy con lớn, nó muốn giành quả bóng màu đỏ ướt đẫm mà con chó lớn đang ngoạm chặt, làm từng vạt nước bắn tung tóe. Tôi muốn tham gia nên nhặt một hòn đá ném chúng. Có thể hòn đá vô tình sượt trúng con lớn, khiến nó rên ư ử và nhả quả bóng ra song rõ ràng chúng không muốn chơi với tôi.

Cứng cỏi lên đi Mon, mày thật cô độc.

Ngay sau khi đi qua Dumpton và chỉ còn mười lăm phút nữa là đến Cliffetoppes, lo âu trong lòng tôi bắt đầu rõ nét. Cha còn sống, trong một hình hài mới gớm ghiếc nào đấy, và giống như tôi, mẹ sẽ sợ hãi.

Hoặc giả mẹ tôi đã biết mọi chuyện và tôi là kẻ duy nhất mù tịt thông tin.

Không, không thể, không thể như thế được.

Mây trời sậm dần thành màu xanh đậm, trái ngược hẳn với ánh nắng. Không lâu sau, tôi đặt chân đến đầu đường dẫn tới Ramsgate.

Nhà dưỡng lão của mẹ nằm thu mình trên đỉnh của East Cliff, cách xa biển. Cuốn sách giới thiệu “theo phong cách nghệ thuật sướt mướt” vẽ nên dáng dấp quý tộc cho ngôi nhà, với phần mặt tiền đẹp đẽ nằm nép dưới hàng thông. Nhưng thực ra, đây vốn là một khách sạn theo kiến trúc Gothic thời Victorian được chuyển đổi sơ sài thành những căn phòng nhỏ hẹp với sàn phòng lau rửa được và nhà vệ sinh dành cho người khuyết tật. Hàng thông đã bị chặt hạ (“Các quý bà của chúng ta thích ánh sáng!”) và được thay thế bằng nước khử trùng mùi thông. Các bà cụ già ngồi trên mấy dãy ghế bị mối mọt đặt dọc theo tường trong phòng xem tivi, chờ món trà đã pha từ lâu và nhạt thếch. Ơn Chúa là mẹ tôi có ấm đun nước riêng và được ở phòng “cao cấp”, tức phòng ngủ trên tầng hai mà Fairy nói là do cha trả tiền.

Đột nhiên tôi sợ cứng người. Biết đâu mẹ đã làm lành với cha? Lỡ như bà đang nói chuyện điện thoại với ông ta đúng lúc tôi bước vào phòng? Liệu bà có lật tẩy tôi? Ít ra ở ngoài này tôi có thể phát hiện các mối nguy hiểm. Không có tên sát nhân nào giấu mặt trên bãi biển được. Ở đây không bóng mờ, không ngóc ngách, không có hành lang kéo dài, càng không có cha nấp sau cửa phòng mẹ.

Thực sự là tôi cần nói cho bà ấy nghe chuyện này? Sau tất cả thì tôi nợ bà ấy điều gì? Không đâu, tôi sẽ không bước lên chỗ mẹ để rồi quay lại với gia đình mình. Chân tôi vẫn bước đi, tôi đành chấp nhận lựa chọn của chúng. Tôi tin đôi bàn chân to lớn, mạnh mẽ của mình nhưng lại không tin mẹ mình, hoặc chính là không tin bản thân, hoặc không tin cuộc sống mới mẻ này khi mà cha chưa chết.

Cát dưới chân câm lặng, cát là bạn của tôi. Tôi cứ thế đi tiếp về phía thị trấn.

❀ ❀ ❀

[1] Nguyễn văn: Terrorist outrage nghĩa là (vụ) “khủng bố khủng khiếp”, do phát âm từ cuối gần nhau nên cô bé phục vụ nghe nhầm thành Eztra sausage, nghĩa là “thêm xúc xích”.

[2] Samuel Taylor Coleridge (1772-1834): là nhà thơ, phê bình văn học, triết gia... người Anh.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 27 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.