Nhà hàng Harbour là một tòa nhà mà giới ký giả lỗi thời gọi là “biểu tượng”. Nó nằm ở phần mũi phía xa của cảng Ramsgate, phải đi bộ kha khá, chừng mười phút, mới tới được đó. Tôi sải bước dọc theo bến cảng, đi ngang qua bãi biển Main Sands và nhà triển lãm Wetherspoons với những vị thần Hy Lạp lười nhác ngự trên mái.
Tôi cũng lướt qua hai ông già đang câu cá và ba tên nhóc người Đông Âu cau có đang dựa lưng vào tường bến cảng mà kêu ca. Chúng mặc áo da màu đen, phì phèo thuốc lá và mải mê than thở tới mức không chịu sắp xếp đống ngư cụ đã được bốc dỡ phân nửa ra khỏi một cái xe moóc. Chúng nhìn bọn tôi như thể bọn tôi ghét chúng nên mới bỏ phiếu để tống cổ tất cả bọn chúng đi. Nhưng bọn ranh con ơi, cứ giữ lấy ánh nhìn giận dữ đó cho mình. Tôi không phản đối gì mấy đối với người Ba Lan hay Latvia, thậm chí người Lithuania cũng OK, nhưng với người Albania mà nói thế thì... hơi cường điệu.
Phía bên phải, du thuyền nằm trên những khu neo đậu đọng bùn; dập dềnh dọc theo con đê hẹp chắn sóng. Tôi sắp trễ đến nơi rồi, chỉ còn năm phút nữa là mười giờ, nhưng bất thần một cơn gió mạnh thổi bay mũ của tôi, làm tôi chao đảo và xoay vòng. Đúng lúc đó, tôi nhìn thấy hai thằng bé tóc vàng đang thả neo từ một du thuyền màu xanh nhạt xuống biển. Con thuyền còn cách cầu tàu khoảng năm mươi mét và phía trước nó là một chút bãi biển.
Hai thằng bé vóc người mảnh khảnh, nhanh nhẹn; cả hai phải cố sức mới nhấc được mỏ neo sang một bên. Tôi liếc nhìn tên du thuyền, “The Racing Greyhound[1]”, và trong một thoáng tôi muốn xuống cùng bọn chúng, những cậu trai tóc vàng, ngây ngô và chỉ mới mười tám tuổi. Nhưng bây giờ không phải lúc dành cho khát khao, tôi quay đi và bắt gặp chiếc Aston Martin mới của hai ông anh. Chiếc xe dài, màu bạc trông như hộp đựng xì gà đơn, đậu trong chỗ để xe cạnh tường của nhà hàng Harbour. Đúng là anh em tốt, họ đã có mặt rồi. Bên dưới chỗ tôi đứng, hai thằng bé tóc vàng đã trèo sang một chiếc thuyền nhỏ và chèo điệu nghệ về phía chỗ quanh co của bãi cát bên dưới nhà hàng.
Giá mà tôi có thể nuôi chúng như thú cưng trong một chiếc lồng vàng, nhưng không, tôi phải đi gặp hai anh trai của mình.
Nhà hàng Harbour trông giống một con tàu, với phần boong trên lộ thiên mà vào ngày đẹp trời có thể ngắm được Calais[2]. Nước biển chảy qua Harbour thông qua lối vào cảng. Đằng sau nhà hàng không xa lắm là Ramsgate, với đường nét xinh đẹp của hai dãy vách đá trải dài, xen giữa là thị trấn này. Màu hồng và trắng của đá núi chạm khắc vào ánh sáng thành những hình trăng lưỡi liềm đỏ.
Vào mùa xuân hay mùa hè, thỉnh thoảng tôi ngồi ở đây và cảm thấy thật vui vẻ. Thi thoảng, tôi ngồi một mình nhưng đôi khi cũng gặp gỡ một người đàn ông nào đó. Tất cả đều đã là quá khứ rồi Mon, giờ thì mọi thứ đã tan biến.
Boris và Angus ngồi bên trong, vai kề vai bên cửa sổ dài nhìn ra biển. Họ quay lưng lại phía ánh sáng lạnh đang sấp ngửa trên đầu con sóng, khiến hai khuôn mặt dài giống nhau như đúc bị sấp bóng. Hai cái cằm ấn tượng như nhân vật Desperate Dan trong bộ truyện tranh Dandy mà chúng tôi đều yêu thích khi còn nhỏ. Đang giữa buổi sáng mà râu ria lởm chởm vẫn bám đen hai cái cằm đó.
“Mon, cảm ơn Chúa!”
“Cảm ơn Chúa, Mon!”
Đúng là hai ông anh tôi luôn đồng tâm nhất trí.
“Hai anh!” tôi nói. “Bozzer! Angs!” Tôi ngạc nhiên khi thấy họ đứng dậy ôm lấy tôi, hai cái ôm mạnh đúng nghĩa khiến lồng ngực tôi phát đau. Chúng tôi ôm chặt lấy nhau thêm chút nữa rồi tất cả cùng ngồi xuống.
“Em đã làm điều đó hả Mon?” Angus nói tức thì. Boris huých mạnh vào sườn Angus khiến anh ta ngừng phắt và trừng mắt nhìn lại, rõ là đau mà. Rồi như được khai sáng, Angus bum miệng lại, sau đó nói, “Ôi xin lỗi, Boris bảo anh không được nói là em làm điều đó, ngay cả với cảnh sát.
“Đặc biệt là với cảnh sát, Boris chỉnh lại.
“Anh đúng là vụng về!” tôi nói. “Và nói nhỏ thôi. Nhân viên quầy bar nghe thấy đấy” Một khuôn mặt trẻ măng, gầy những đang nhìn về phía chúng tôi, có lẽ là nhìn cái áo trùm to sụ trên người tôi. Tôi không dính dáng gì tới chuyện chống đạo Hồi, những người theo đạo Cơ Đốc với trống lục lạc[3] còn tệ hơn.
“Thằng nhãi đó à?” Boris nói. “Không phải đâu, trông nó như thiểu năng vậy.
“Chúng ta phải đoàn kết bên nhau," tôi nói và mỉm cười với họ, hai ông anh lập dị của tôi. (Tôi nhớ gia đình mình, thèm được gọi tên họ. Gọi tên nhau là cách chủ yếu nhất để chúng tôi bày tỏ tình cảm. Nhưng những biệt danh mà cha đặt thật độc ác và tục tĩu. Sẽ có ngày tôi viết về điều này, ghi lại đầy đủ, ôi nghệ thuật ơi, hãy giúp tôi thực hiện dự định này.)
“Hiểu rồi” Angus nói. Boris đế theo, “Cậu ta hiểu rồi.”
“Ừ, ừ, tớ đâu có ngu” Angus huênh hoang.
“Cậu ta không ngu đâu, Mon,” Boris lặp lại.
Angus và Boris nhìn nhau cười một cách thỏa mãn, sâu xa và dịu dàng. Họ thường cười như vậy khi nhìn nhau trực diện (hiếm xảy ra) hơn là khi kề vai sát cánh đương đầu với thế giới bên ngoài. Tôi cũng mỉm cười: Những ông anh thú vị làm sao.
Trong tâm trạng cao hứng, Angus tiếp lời, “Nhưng mà anh vẫn muốn biết... em có làm chuyện đó không?”
Boris và tôi cùng rên lên.
Nhưng, “tớ có ý này hay nè,” Angus bướng bỉnh nói, và sau khi im lặng một chút, Boris hếch cái cằm vĩ đại của mình, “Cậu ta có ý hay. Khi Boris lên tiếng, cặp mắt nâu lờ mờ của anh thoáng sắc bén.
“Anh ta có cả đống ý tưởng vô dụng như mớ bút chì gãy rồi. Em đói bụng,” tôi mè nheo như một đứa con nít, “Em muốn ăn gì đó. Sáng nay em chưa ăn.”
“Em lúc nào cũng đòi ăn, Mono à,” cả hai cùng gầm lên rồi phá ra cười tới mức rung chuyển toàn thân.
“Bữa sáng, đi gọi món đi Angus,” Boris nói.
Ba thành viên đặc biệt của nhà Ludd ở đây, tức là món gì cũng phải gọi gấp đôi. Người phục vụ quầy bar mang đồ ăn ra, thái độ anh ta lịch sự nhưng vẫn nhìn chằm chằm về phía tôi; dù tôi đội nón sùm sụp nhưng hẳn là anh ta ngưỡng mộ tôi. “Lấy cho tôi xốt cà chua nhé” Angus nói với anh ta song thay vì thực hiện yêu cầu, anh ta quay lại quầy và gọi điện thoại trong lúc tiếp tục dán mắt vào tôi.
Ba anh em tôi ăn uống thuận thảo, chia thức ăn theo sở thích đã biết từ lâu. Do đó, tôi ăn phần nấm kêu thêm của Boris và anh ấy lấy lát thịt xông khói thứ năm của tôi, còn Angus ăn hết phần cà chua thứ hai của cả hai chúng tôi. Không ai phết bơ lên bánh mì nướng bởi chúng tôi bị cấm ăn khi còn nhỏ, hay nói đúng hơn là chỉ cha chúng tôi được phép ăn – với một viên bơ vàng trên đĩa ăn màu xanh của riêng ông ta.
Angs và Bozzer sẽ không bỏ rơi tôi, bởi chúng tôi đã chịu đựng mọi thứ cùng nhau...
Nhưng họ nghĩ họ biết đầu mới là điều tốt nhất cho tôi. Dù sao đi nữa họ cũng lớn hơn tôi mười lăm tuổi. Họ muốn tôi hành xử theo pháp luật, không trốn chạy cảnh sát và làm gia đình lo lắng nữa.
Angus nói, “Anh đi vệ sinh cái đã. Đừng có kể cho cậu ta nghe gì đó, nhớ đợi anh quay lại.
“Gì vậy Angus, anh mới chín tuổi hả?”
Tôi nhai rào rạo thêm hai mồm đầy nữa rồi bắt đầu giải thích cho Boris nghe. “Em không có tội, em không phải tội phạm. Nhưng sự thật là em đã có mặt ở đó, em nhìn thấy ông ta. Thật là kinh khủng, trông ông ta như miệng máng xối hình đầu người, trên giường đầy máu. Đã vậy em lại có một cây rìu, em không thể phủ nhận chuyện đó.”
“Khoan đã, Monica, nghe không hay chút nào. Em không thể nhận là mình có cây rìu được,” Boris nói.
“Nhưng đúng là em có một cây rìu, nó bị dính máu. Khó giải thích cho xuôi chuyện này lắm. Ý em là em không nghĩ là mình sẽ tấn công ông ta…”
“Nếu ông ta không làm gì hả? Điều gì khiến em định làm như thế hả Monica?” Angus kêu lên vẻ phấn khích, rõ ràng là sảng khoái sau khi đi vệ sinh.
Cả hai chồm về phía trước như hai nhà điều tra song sinh. Đó là thông tin họ muốn biết à? Có thể tất cả chúng tôi đều mong ai đó trong số chúng tôi sẽ thực hiện điều đó. Phải chăng họ chỉ cảm thấy tự hào về tôi?
“Hai anh à, làm ơn ghim điều này vào bộ óc ngu si hết cỡ của mình nhé, em là nhân chứng chứ không phải kẻ phạm tội”
Hai gương mặt dài ngoằng phía đối diện cau lại ngờ vực. Chúng tôi nói chuyện khá to tiếng dù không định thế. Khi chúng tôi đến, nhà hàng còn vắng vẻ. Hôm nay là ngày làm việc trong tuần và hiện là tháng Mười Một, Ramsgate hẳn còn ngái ngủ. Giờ thì cả hai ông anh tôi thực sự đang tru tréo, hai cặp mắt nâu giống hệt nhau nhìn tôi trân trối: “Còn cây rìu thì sao, Mon?” “Chết tiệt, cây rìu chết tiệt!”
Tôi nhận thấy quán cà phê không còn vắng vẻ nữa, người vào quán đông dần lên. Sau lưng tôi có tiếng kéo ghế và tiếng người xì xào. Tôi vội đặt ngón tay lên môi “suỵt”.
“Em lấy cây rìu và lái đến nhà cha sau đêm diễn ra bữa tiệc. Em thấy điên tiết...”
“Thú vị thật đấy, cô Ludd ạ. Chắc cô phải giải thích cho tôi nghe phần còn lại rồi?”
Một giọng nói quen thuộc vang lên với kiểu giọng mũi vùng Midlands – sự kết hợp không đến nỗi khó chịu. Tôi quay lại và đập vào mắt tôi đầu tiên là một cảnh sát mặc đồng phục. Chúa ơi, cảnh sát đang ở đây và bên cạnh viên cảnh sát kia chính là Ginger. Anh ta đứng ngay sau lưng tôi, mặc chiếc áo khoác chống nước màu beige có thắt lưng đặc trưng của một thanh tra thường thấy trên tivi. Cổ áo anh ta dựng đứng, trong túi có chỗ phình lên khiến tôi không thể rời mắt. Anh ta tỏ ra hài lòng, điềm tĩnh, đôi mắt xám nhạt ánh lên nét đắc thắng. Nhưng tôi nghĩ tôi đã bắt gặp một chút thay đổi trong đôi mắt ấy khi tôi lên tiếng mà gần như không tỏ ra bất ngờ, “Chào sếp, gặp tôi anh vui chứ?” Tôi nói mà bề ngoài tỏ ra hầu như không hề bất ngờ. Những người còn lại có lẽ không nhận ra sự khác biệt ấy.
“Tôi e rằng đây là vũ khí đấy, cô ạ. Anh ta nói xong thì cười hai tiếng ngắn, ẩn chứa trong đó tiếng gầm gừ, sau đó rút từ trong túi ra một quyển sổ, bút và máy ghi âm. “Đùa chút thôi. Chào buổi sáng cô Ludd, ông Ludd và ông Ludd. Hay tôi nên gọi là các ông Ludd nhỉ?”
Tôi biết Ginger yêu thích ngôn ngữ, nhưng Boris và Angus bồn chồn nhìn anh ta trừng trừng – chắc họ tự hỏi có phải thằng cha này đang giỡn mặt họ? Boris đứng dậy, phô trương thân hình hộ pháp. “Anh nên gọi cậu ta là Angus, Boris càu nhàu. “Còn tôi là Boris. Anh muốn ngồi xuống chứ? Tôi hy vọng ý định của anh không phải là bêu xấu chúng tôi. Em gái tôi dạy học ở hạt này.”
Ôi Boris, anh cừ thật! Boris đĩnh đạc đâu ra đấy, lại còn cư xử lịch thiệp!
Đột nhiên tôi hiểu vì sao Buoyant ăn nên làm ra dù đầu óc Angus có vấn đề.
Ginger ngồi xuống nhưng cấp dưới của anh ta đứng nguyên, trông có vẻ căng thẳng và nhiễu sự. Ginger vẫn liếc nhìn tôi. Tôi cố đoán ánh mắt ấy; anh ta đang tức giận tôi? Hình như không phải, ánh mắt ấy có vẻ riêng tư hơn, lại lẩn khuất sự thông đồng giữa hai người đang vờn nhau trong một trận đấu, và anh ta vừa ghi bàn.
“Chúng tôi cần nói chuyện với em gái của các ông” Ginger lên tiếng. “Vốn là chúng tôi đang nói chuyện với cô ấy nhưng... bị gián đoạn.”
Nhớ đến hôm đó, tôi suýt bật cười nhưng kịp chuyển thành một cái ho húng hắng. Ai cũng chĩa ánh mắt vào tôi.
“Em gái tôi eo hẹp thời gian lắm, Boris nói chắc nịch. “Em tôi là phó hiệu trưởng nên phải điều hành nhiều việc.”
“Thế mà hôm nay cô ấy lại không đi làm à?”
Boris lúng túng trong thoáng chốc.
“Các sếp uống trà nhé?” tôi hỏi. “Để tôi đi gọi món.”
“Để anh đi cho Mon” Angus đề nghị nhưng bị Boris trấn áp thẳng thừng bằng một cái trừng mắt. “Để Monica đi đi Angus, chẳng phải con bé vừa nói muốn đi vệ sinh sao.”
Ôi Boris! Đúng là anh ấy không bao giờ giao nộp tôi cho cảnh sát, Boris đang cố giúp tôi trốn thoát!
Nhưng Ginger đâu phải dạng vừa. “Tôi sẽ đi với cô,” anh ta mở lời. “Để giúp cô mang nước uống trở lại bàn, cô Ludd à” Giọng anh ta châm biếm sắc lạnh.
Nãy giờ tôi đã nóng phát ngốt vì ăn quá nhiều xúc xích và thịt xông khói. Tôi quay sang người đàn ông trong bộ trang phục thanh tra của mình – cũng là tai ương, người tình, báo ứng của tôi...
Khi yếu thế thì khoe ngực. Tôi tuột cái áo choàng to sụ ra, kín đáo để lộ bờ vai.
Cử chỉ này chỉ tôi và Ginger hiểu: tôi để anh ta thấy ngực mình, toàn bộ hai bên. “Sao anh không cởi áo khoác ra cho mát hơn?” “Tôi còn hơi lạnh sau khi từ bên ngoài vào, anh ta nói song hai mắt đã làm điều mà tôi muốn. Chúng lia về phía trước ngực tôi trước khi thu lại.
“Cô sẽ không đạt được mục đích đâu.
“Biết đâu đấy.”
Chúng tôi cùng rời bàn, băng ngang quán cà phê. Tôi căng óc tính toán. Tôi đã mường tượng ra phân nửa kế hoạch.
Lúc này quán đã đông đúc hơn với những khách hàng ăn gộp bữa sáng và bữa trưa, những phụ nữ tóc vàng ái nam ái nữ rộn ràng chào hỏi nhau và vẫy tay gọi món khắp phòng, mấy cặp đôi mới hẹn hò quần áo bó sát mới tinh kéo ghế ngồi xuống bàn tính chuyện tương lai. Mùi hóa chất thu hút côn trùng tỏa ra hãng hắc. Gel vuốt giống như mật ong nhớp nháp bám trên mái tóc thanh niên.
Tôi đã từng được người yêu nào đó tán tỉnh chưa nhỉ?
Chẳng hiểu sao Ginger lại vượt lên dẫn đường – anh ta không biết ưu tiên phụ nữ sao, hay là anh ta không xem tôi là phụ nữ? Nhưng đúng lúc câu hỏi ấy làm tôi đau lòng thì anh ta quay lại và nở nụ cười ngắn ngủi với tôi. “Chúng ta nói chuyện một chút ở bên kia nhé, anh ta vừa nói vừa đưa ngón tay lớn và vuông vức lên gõ gõ vào một bên chiếc mũi ngắn và thẳng của mình. Ngay lập tức chiếc mũi trở thành đường nét đẹp nhất của anh ta trong mắt tôi. Nói xong anh ta quay sang trao đổi với người đàn ông đứng quầy bar.
Monica, mày có cơ hội rồi.
Dường như Ginger... đã tha thứ cho tôi. Biết đầu anh ta... thích tôi?
Dĩ nhiên, có thể anh ta không thích tôi sau những gì tôi làm tiếp đó, và không hiểu sao tôi thấy dằn vặt. Nỗi day dứt len lỏi trong lồng ngực tôi – thật không giống tôi một chút nào, tôi vốn chỉ làm những gì mà tôi muốn.
Mon à, mày cần một người bạn đáng giá có thể giúp mày đạt được điều mày muốn.
Chúng tôi dừng lại bên cạnh tủ bày món tráng miệng, với món kem nấm và sô-cô-la hấp dẫn. Chiếc tủ này nằm bên cạnh hành lang dẫn đến nhà vệ sinh (ở Thanet chúng tôi không để ý đến phong thủy).
“Tôi muốn nói chuyện với cô, Monica.” Anh ta vào vấn đề nhanh chóng, cấp kỳ, phía trên môi trên có một rìa mồ hôi. “Tôi muốn chắc là cô không sao. Cô biết cha cô chưa chết đúng không?” “Đúng vậy. Anh ta lo cho tôi! Tôi bỗng thấy mình... đúng là phụ nữ. Kem đặc sệt, có lẽ anh ta muốn mua cho tôi một cái bánh ga-tô. Vậy mà tôi lại sắp bỏ chạy.
“Chúng tôi có một nghi phạm khác. Cô nói cô không làm chuyện đó. Tôi muốn nghe lời khai của cô, ý tôi là lời khai thành thực. Chúng tôi chuẩn bị bắt một quý bà Tây Ban Nha. Kể ra dùng từ “quý bà” cũng không đúng. Chúng tôi còn điều tra nhiều hành vi phạm tội khác. Nhưng các đồng nghiệp của tôi có một số nghi vấn liên quan đến xe hơi của cô... Cô có gọi trà không?”
“Một quý bà Tây Ban Nha sao?” Trước mắt tôi hiện ra một mái tóc xoăn đen, váy xa-tanh đỏ, khăn choàng viên đăng-ten. Cha tôi có quen ai như vậy không? Rồi tôi sực nhớ tới con mụ tóc vàng lỡ thì. Dĩ nhiên, cái ngữ điệu phát gớm của mụ ta là tiếng Tây Ban Nha. Mùi xạ hương kinh tởm tỏa ra từ người mụ ta làm tôi liên tưởng đến loài chồn sương. Tôi vội vã tính toán nhưng tôi không thể để lộ ra được...
“Ginger à, tôi nói rồi mà, tôi không có ở đó.”
“Phải, phải, anh ta rít lên, “nhưng chúng ta đừng vòng vo nữa được không? Cô phải tin chúng tôi chứ Monica. Cô gọi trà đi, tôi sẽ giúp cô mang lại bàn.”
Chúng tôi. Tôi không thể tin vào “chúng ta” được. “Chúng ta” đầu tiên mà tôi gặp trong đời chính là cha mẹ tôi. “Gọi món sau nhé, tôi đi vệ sinh trước đã.”
“Tôi sẽ đợi bên ngoài, Monica... Tôi e là cô sẽ lại bỏ trốn.”
Tôi thò tay xuống... Không ai nhìn cả, chúng tôi đang đứng trong góc, áp sát người vào tấm kính của tủ bánh ngọt mà tấm kính ấy lấm tấm bẩn vì kem bánh. Tôi sẽ “vọc” một chút nhưng không tới luôn. Tôi chạm nhẹ vào vạt trước áo choàng của anh ta, vừa tầm “của quý”. “Gặp anh sau nhé, Ginger, tôi nói.
Tôi thề là anh ta phần nào đoán được tôi sắp làm gì, bởi ánh mắt anh ta hòa trộn giữa sự hứng thú rõ nét và cảm giác cam chịu.
Tiếp đó, tôi đứng trong hành lang tối dẫn đến cả lối ra lẫn nhà vệ sinh. Tôi bước vào nhà vệ sinh nữ với tấm bảng màu hồng chói chang. Đó là một phòng đơn ẩm thấp, tường được trang trí bằng những cuộn giấy màu anh đào có thiết kế thời thượng. Ngay lập tức, tôi thấy kế hoạch của mình lâm vào ngõ cụt bởi trong phòng không hề có cửa sổ, không có cửa sổ nào cả. Không còn lựa chọn nào khác, tôi quay ngược trở ra và nói, “Ginger này, phòng vệ sinh kinh quá, tôi sẽ dùng phòng của nam. Tôi không ngại gì đâu.”
Rõ ràng anh ta thấy thú vị. “Tôi thấy với cô, không có ranh giới nào tồn tại cả Monica.”
“Có lẽ là vậy. Chờ tôi một chút thôi!”
Và cảm ơn Chúa, dù trong phòng bốc lên mùi nước tiểu nam giới – kích thích tố sinh dục nam, và là loại tôi không thích - nhưng có một cửa sổ khung kính trượt gần chiếc bồn rửa duy nhất. Kính cửa sổ kết dày muối biển bắn lên từ những con sóng và dĩ nhiên cái khung cửa trời đánh thánh vật ấy bị đóng kín mít vì lớp sơn phủ - hoặc chỉ bị kẹt vì nước muối và bụi bẩn. Tôi dốc hết sức lực từ những ngày tập cử tạ để kéo tấm kính phía dưới lên nhưng vẫn phải giữ chắc để kính không bị chấn động. Tôi dùng nhiều sức đến mức thấy thốn trong nhãn cầu và đầu bắt đầu đau nhức. Tôi lo lắng tự hỏi không biết thủy triều đang cao đến đâu; ban nãy triều thấp nên tôi đi bộ được từ vịnh Bone đến đây, không biết bây giờ là triều rút hay triều dâng nhỉ? Nếu triều đã dâng ngập phần bãi biển bên trong đê chắn sóng thì tôi không còn đường nào khác ngoài bơi.
Có tiếng huýt sáo ngoài cửa. Là Ginger. Chính xác, anh ta từng huýt sáo trước đây. Giai điệu gì ấy nhỉ? Có phải là “The Something White Sergeant[4]” không nhỉ? Chết tiệt, tôi gãy một cái móng tay rồi. Không, “The Dashing White Sergeant[5]” mới đúng. Thật là hợp tình hợp cảnh làm sao! Cái cửa sổ vẫn không lay chuyển. Tôi thấy tuyệt vọng.
Tôi đã ở trong này được ba hay bốn phút gì rồi và Ginger sắp đập cửa đến nơi. Rồi tôi nghe thấy điện thoại anh ta đổ chuông. Tuyệt! Anh ta sẽ bị phân tâm.
Tôi ngạc nhiên khi âm thanh vang lên quá gần, như thể Ginger đang đứng gần khung cửa sổ gỗ.
Phải rồi, khung kính phía trên. Tôi phải liều thôi, dù làm vậy có nghĩa là tôi chỉ có thể chui ra bằng cách đứng trên cái bồn rửa trông rất yếu ớt. Tôi nghe tiếng Ginger nói, “Sao? Thật chứ?” tiếp đó cửa sổ chuyển động, cảm ơn Chúa. Tôi kéo mạnh khung kính trượt phía trên xuống, khiến không khí lạnh bên ngoài ùa vào. Sau đó, tôi leo từ bồn cầu (nó rung lên dữ dội) lên bồn rửa và trong nỗ lực tự cứu mình, tôi tóm lấy dây xả, nước lập tức xả ra nhưng tiếng ùng ục không được bao nhiêu. Tôi kêu lên, “Tôi phải đợi nước đầy lại đã” nhưng bên ngoài Ginger đang gần như hét lên, “... tệ hại hết sức! Các anh phá hỏng cả rồi! Rõ ràng anh ta đang tập trung vào cuộc điện thoại. Tôi thử lại lần nữa, nhẹ nhàng, cẩn thận nhấc người mình lên bồn rửa trong lúc tì một nửa thân người vào khung cửa sổ. Lỗ hổng vừa đủ để tôi luồn người qua nhưng trước hết tôi phải nhìn xuống cái đã. Có một gờ tường rộng chạy dọc bên hông tòa nhà, sau đó... ồ, phải nhảy xuống từ độ cao chừng hai mét rưỡi hoặc ba mét, thậm chí là ba mét rưỡi. Rơi từ ba mét rưỡi xuống thì có bị gãy xương không nhỉ?
Khoan, đợi chút, có một dải cát mỏng.
Tôi chần chừ, tôi muốn sống. Treo mình trên bồn rửa, tôi thấy mình như một mụ ngốc. Ginger hét toáng lên... “Chết rồi à!”
Cha tôi chết rồi? Ông ta chết sao? Một làn sóng giải tỏa lan ra từng ngóc ngách cơ thể tôi. Ông ta chết rồi và tôi sẽ được cứu thoát... “Nói lớn lên!” anh ta đang hét ầm ĩ. “Anh có chắc là cô ta chết rồi không?”
Chắc là cô ta chết. Có thực là tôi vừa nghe như vậy không?
Một con hải âu kêu inh ỏi, không khí lạnh giá, bàn tay tôi trầy xước. Tôi treo mình giữa hai thế giới – đầu gối va đập, trán bầm dập trong lúc cố chui ra thế giới bên ngoài.
Tôi vẫn có thể quay ngược trở lại, nhưng không, bên ngoài là tự do. Tôi là Monica Ludd, tôi sẽ không để mình bị đánh bại. Trong một khoảnh khắc, tôi rơi như một ngôi sao chổi và biết đời mình thế là hết, mày chết tới nơi rồi, nhưng rồi tôi đụng phải một vật khổng lồ và bằng phẳng. Ối, thì ra là bãi biển. Thế là tôi nằm sõng soài cả thân người to lớn ra đó, vẫn còn sống và mệt đứt hơi.
Từ từ chút một, tôi ngóc đầu dậy trong đau đớn. Tôi cảm thấy mình giống như một con rùa khổng lồ.
Hai cậu nhóc tóc vàng đang có mặt trên bãi biển, quay lưng về phía tôi và đang uống thứ gì đó trong bình đựng. Tôi rất thích bọn choai choai nhưng bây giờ không phải là lúc thích hợp, mong muốn trốn thoát với tôi lúc này thôi thúc hơn nhiều. Du thuyền của bọn chúng đang dập dềnh cách đó không quá xa. Ngóc đầu lên làm tôi mệt quá.
Tôi nằm đó hớp hơi liên tục, nhưng Ginger đang lảng vảng đâu đó sau lưng tôi một cách nôn nóng. Không thời gian để nghỉ ngơi đâu Monica... Tôi tự kéo mình dậy rồi tì người lên cùi chỏ, giờ trông tôi giống rồng Komodo.
Một thằng nhóc chợt xoay người lại và nhìn thấy tôi, nhưng nó chẳng hề tỏ ra ngạc nhiên, như thể tôi nằm đó từ đời nào. Tôi cố nặn ra nụ cười, mọi việc có vẻ ổn! (Đáng ngạc nhiên là tôi không gãy cái xương nào. Người tôi đã bầm dập quá nhiều sau lần phóng khỏi nhà cha tôi ở Margate và băng qua các cánh đồng để tẩu thoát, nên khó lòng mà nói lúc này tôi có bị thương gì nặng hơn hay không. Đúng ra là có: một bàn chân, một đầu gối, nhưng chẳng có thời gian để chăm sóc chúng.)
“Chào buổi trưa,” tôi hét to về phía bọn trai trẻ.
Chúng trẻ quá mức, có vẻ không phải là người Anh bởi màu tóc vàng khỏi ấy. Chắc chỉ chừng mười chín, hai mươi thôi nhỉ Chắc chắn chúng là sinh viên sang đây học ngôn ngữ.
“Thủy thủ hả?” tôi hỏi.
“Sinh viên, chúng đáp. “Bọn tôi thuê một chiếc thuyền. Bọn tôi là người Thụy Điển”
“Các cậu từ đâu tới?”
Cậu trai như bị đánh đó. “Thụy Điển ấy, ở châu Âu.”
“Ý tôi là các cậu từ đâu đến vào hôm nay?” tôi nhấn mạnh, trong đầu lầm bầm, “Chị cũng là dân châu Âu mà mấy cưng” Mấy cậu trai mặt xị xuống, có phải do tôi nói sỗ sàng quá không? Trong miệng tôi có cát, tôi nhổ ra rồi cười với chúng nồng nhiệt, mục đích là không để chúng mất thiện cảm. Cả hai nhìn lại tôi chằm chằm, trông chúng vừa trẻ trung vừa bối rối.
“Từ hướng kia,” một đứa trả lời. Tuyệt, cậu đang chỉ tay về phía Broadstairs. Trong vòng hai phút, chúng tôi đã thỏa thuận xong và các cậu trai sẽ đưa tôi quay ngược lại vịnh Bone. Ban đầu, chúng không chịu nhận tiền nhưng khi tôi khăng khăng đòi đưa, chúng ưng thuận. Cậu cao hơn nhìn tôi ngờ vực khi thấy tôi leo lên chiếc thuyền có mái chèo và chiếm gần hết chỗ. Cả hai cố đẩy thuyền thêm vài mét để xuống nước nhưng nó chẳng hề suy suyển, tôi làm con thuyền kẹt cứng. Hai cậu trai càu nhàu bằng tiếng Thụy Điển, sau đó lịch sự nói bằng tiếng Anh. “Cô làm ơn xuống thuyền, một đứa chìa tay ra đỡ tôi xuống nhưng đứa còn lại quay đi chỗ khác, vai rung lên. À, nó đang cười. Tôi không phản đối chuyện người ta vui vẻ.
Chúng tôi thử lại lần nữa ngay mép nước. Con thuyền chòng chành dữ dội khi tôi trèo lên, đến lúc hai cậu nhóc lên thuyền còn buồn cười hơn nữa. Chúng gần như ngồi trên đùi tôi nhưng lại chèo thuyền với sức mạnh đáng ngạc nhiên. Chúng cho tôi lên thuyền và chúng tôi cứ thẳng đường mà đi. Ngay khi hai cậu trai nhổ neo, gió cuốn chúng tôi đi và lực đẩy của nước biến tôi thành thiên nga!
Dù tôi chưa bao giờ là một thủy thủ tự tin, dù chúng tôi có thể đang bị Ginger truy đuổi song tôi nghĩ, “Tôi hạnh phúc, ngay lúc này, đúng vào thời khắc này; một người phụ nữ đã chết..” (làm ơn đi, người đó là cha có được không?) “..nhưng tôi lại được hai vị thần tóc vàng cứu rỗi.”
Nhưng rất nhanh thôi, chuyến hành trình mất đi sức mê hoặc khi các con sóng bắt đầu dựng đứng và gió khuấy đảo không ngừng. Những chuyển động ngắn, căng thẳng, dập dềnh giữa sóng gió biến thành một kiểu giậm chân tại chỗ đáng sợ.
Chúng tôi mất khoảng nửa giờ để đi vòng hết mũi Dumpton, tiếp đó thêm bốn mươi lăm phút mới qua được Broadstairs. Nhìn từ biển khơi, đất liền trông hết sức kỳ quái và lạ lùng, con người và những ngôi nhà sáng đèn màu trắng đục trở thành những đốm nhỏ có thể bị thổi bay bất cứ lúc nào...
Chuyện gì sẽ xảy ra ở nhà hàng Harbour nhỉ? “Anh chàng cảnh sát da trắng hăng hái” của tôi liệu có tha thứ cho tôi lần nữa không?
Đến lúc hai cậu trai chúi mũi thuyền vào bãi cát ở vịnh Bone để thả tôi xuống thì hai chân tôi như cao su vì ngồi xếp chân quá lâu và liên tục bị sức mạnh của biển cả nhồi lên nhồi xuống.
Cậu trai nào cũng cúi đầu trịnh trọng khi chúng tôi bắt tay nhau. Tôi cố gắng đưa tiền cho chúng một cách lịch thiệp. “Tôi gửi tiền nhé”
Tôi dùng tiếng lóng nên chúng phải hỏi lại. “Anh em à?” tôi hỏi. Tôi tự nhận thấy như thế. Hai đứa giống nhau tới mức trông như sinh đôi. “Bạn bè thôi,” một đứa nói, đứa còn lại cười lớn và nói, “Bạn rất thân”. Cả hai nhìn nhau cười tán đồng.
Yêu ai đó chỉ vì ngoại hình sẽ như thế nào nhỉ? Tôi lê bước đi, leo lên vách đá, lết dọc con đường đến một cửa hàng nhỏ của dân địa phương. Tôi phải đọc báo xuất bản tại đây. Làm sao mà gã trông quầy bar lại nhận ra tôi?
Tiệm bán báo có cái tên kỳ cục: “Dirk Whites’ of Kent”. Ôi, dùng dấu nháy đơn lung tung! Trên cửa sổ treo một túm quốc kỳ Anh xung quanh biểu tượng của Vé số Quốc gia, bên dưới là trang bìa tờ Daily Mail được đóng khung. Tờ bìa này toàn màu vàng, ra sạp vào ngày sau cuộc trưng cầu dân ý[6] - “CÚI CHÀO NÀO, NƯỚC ANH: CHÚNG TA RA ĐI!”
Một người đàn ông mặt chuột ngồi uể oải ở quầy tính tiền, trông có vẻ hài lòng với bản thân. Ông ta chỉ bán báo Express và Daily Mail. Tôi không phải là kẻ hợm mình, vả lại nhân vô thập toàn, tôi là con người và tôi nghĩ không có gì thuộc về con người xa lạ với tôi[7], nhưng xin lỗi, Express là loại báo dành cho những kẻ có trí óc chưa bằng loài người.
Daily Mail chạy dòng tít “NHỮNG HY VỌNG MỚI CỦA BREXIT”. Những dòng tít kiểu này tôi đã thấy nhiều lần trước đây. Tôi phát chán và đưa mắt sang trang hai. Dẫn dắt mắt tôi vào phần giữa trang, cũng hợp lý thôi, là bài viết về những người mẹ hiểm độc. Nội dung hay nhất của Daily Mail là những bài phóng sự chuyên sâu. Tôi bắt đầu đọc. Những người viết bài ắt hẳn biết mẹ tôi!
“Cô có định mua tờ báo đó không?” người đàn ông ở quầy đột nhiên cất tiếng hỏi, giọng châm chọc khinh khỉnh. Ông ta đảo cặp mắt khít rịt soi người tôi từ trên xuống dưới, rõ ràng có ý nói đọc chùa thế là quá nhiều rồi đấy.
Tôi thừa sức đập lão ta như đập ruồi. “Hừmmm, sau khi suy xét mọi thứ thì tôi nghĩ là tôi không bận tâm đâu. Tôi đọc tiếp thêm một, hai phút nữa. Dù vậy, cái kiểu cười mỉa mai của lão ta đeo bám khiến tôi đưa mắt chậm rãi nhìn quanh cửa hàng, không tỏ ra vội vã qua quýt. Trên mặt quầy có một bức tượng Winston Churchill[8] nhỏ, trên bức tường đằng sau ông chủ treo một tấm hình trắng đen chụp ông Churchill mặc bộ vest sọc nhỏ, hai tay cầm một khẩu súng máy cỡ lớn. “Bọn người lập dị cánh hữu ở địa phương có tụ tập tại đây không?”
“Dùng từ ngữ như thế là sỉ nhục lắm đấy, có biết không?”
“Dù vậy vẫn chính xác.”
“Cô giống như một ả đồng tính vậy. Cô bên phe ở lại[9] chứ gì?” “Còn ông trông như thằng ngốc mắt lác ấy.”
“Con điếm già!”
Ái chà, tôi khoái cái khí thế của lão ta quá. “Nhân tiện, tấm bảng ngoài kia sai chính tả rồi”
Đột nhiên lão tỏ ra ngập ngừng, trán nhăn tít lại. “Bảng hiệu của ta á? Ta nghĩ ta phải tự biết cái tên chết tiệt của mình chứ”
“Phải rồi, ông biết nhưng ông không biết ngữ pháp tiếng Anh trong khi Winston Churchill lại là nhà văn đại tài”
Mắt ông ta cụp xuống, dĩ nhiên không đều, và tôi tung đòn kết liễu.
“Winston Churchill sẽ lấy làm xấu hổ đấy”
Miệng ông ta há ra nhưng không nói gì.
2-0 cho tôi! Tôi thấy khoái chí.
Ra khỏi cửa hàng, tôi hít thở thật sâu. Mon giỏi lắm, Mon rất “đỉnh”!
Adrenaline vui vẻ chảy khắp người tôi, nhưng ngôi nhà bên vịnh đã hiện ra trong ánh nắng mỏng manh màu xanh.
❀ ❀ ❀
[1] Tạm dịch: Chó săn đua.
[2] Calais: thành phố và bến phà lớn ở miền bắc nước Pháp.
[3] Trống lục lạc (tambourine): Loại nhạc cụ thỉnh thoảng được sử dụng để giữ nhịp trong lúc hát thánh ca.
[4] The Something White Sergeant: tạm dịch là “Chàng cảnh sát da trắng nào đó”.
[5] The Dashing White Sergeant: tạm dịch là “Chàng cảnh sát da trắng hăng hái”, là một điệu nhảy dân tộc của Scotland.
[6] Trưng cầu dân ý về việc Anh rời Liên minh châu Âu (sự kiện Brexit), được tổ chức vào tháng 6 năm 2016, kết quả là cử tri Anh bỏ phiếu chọn ra đi.
[7] Câu nói nổi tiếng của Publius Terentius Afer, nhà viết kịch người La Mã gốc Phi thời La Mã. Ông được biết đến nhiều hơn bằng tên tiếng Anh là Terence. Câu nói trên trích trong vở kịch “Heauton Timorumenos” (tạm dịch: Kẻ tự hành hạ bản thân).
[8] Ngài Winston Leonard Spencer Churchill (1874-1965): là thủ tướng Vương quốc Anh từ năm 1940-1945 và từ năm 1951-1955. Ông đồng thời là nhà văn, họa sĩ, nhà báo... Ông là thủ tướng Anh duy nhất nhận giải Nobel Văn học năm 1953.
[9] Phe bỏ phiếu chọn Anh ở lại Liên minh châu Âu, phản đối Brexit.