(Thứ Bảy, 3 tháng Tám)
Di Ngô lão bằng hữu quý mến,
Ba ngày đã qua. Ngày nào đệ cũng tới điểm liên lạc – bây giờ đệ luôn tới đó một mình, chuyện này gần như là đương nhiên rồi – nhưng không thấy thư nào của huynh. Biết huynh bận, có thể huynh bị chứng bệnh thống phong phiền toái làm tình làm tội, song đệ vẫn vô cùng tiếc không được tin gì về tình hình ở nhà. Đệ mong rằng lời chú thích nhỏ mọn này không làm huynh quá động lòng trắc ẩn để phải viết thư cho đệ, dù huynh chưa thật hứng thú. Còn nếu huynh hứng thú, thì xin đừng nén lòng mà hãy nhớ rằng người bạn trung thành của huynh đang thèm khát được biết tin, nhất là con Tiểu Siêu nhỏ bé yêu quý của đệ có khỏe không và nó có nhăn cái mũi xinh xinh – nếu có thể nói thế được – khi huynh chuyển tới nó lời thăm hỏi của đệ. Đáng tiếc nó không biết viết, nhưng nó có thể nhúng một trong những móng chân mềm mại vào mực rồi in lên giấy – đệ sẽ có được một lời chào của nó.
Bạn yêu quý nhất ơi, đệ vẫn khỏe. Đệ đi lại, như huynh thấy qua việc đệ một mình từ nhà ông Shi-shmi tới điểm liên lạc, hoàn toàn tự do trong cái thế giới mà đệ càng ngày càng thấy nó lố bịch hơn là lạ lẫm. Thỉnh thoảng đệ cũng đi dạo. Chẳng hạn mới đây đệ đã đi dọc “Kênh Chuông Xanh” tới dinh vị vua khả kính quá cố của Min-chen rồi theo bên kia kênh trở về. Hôm ấy là một ngày hè ấm áp tuyệt vời. Vô số người đi lại. Một số lững thững đẩy con cái – chúng thường rất to mồm – trong những chiếc xe nhỏ. Nhiều thủy cầm bơi lội trên kênh, đệ biết vài loại, chẳng hạn thiên nga trắng và vịt tía. Đệ thấy như đó là lời chào từ quê hương nghìn năm xa cách.
Dường như ông vua khả kính quá cố của Min-chen có vấn đề gì đấy. Đệ không hiểu hết lời ông Shi-shmi giải thích. Vị vua cuối cùng từng ngự trong dinh này tên Lu-ving và là người thứ ba mang vương hiệu ấy[1]. Đáng ngạc nhiên là họ không còn thói quen tìm cho mỗi vị vua một vương hiệu riêng như chúng ta. Hai vua khác tên là Ma-ksi-mai-lan[2]. Vua Lu-ving thứ ba dường như, nếu đệ hiểu đúng điều ông Shi-shmi nói, bị truất phế. Do ai? Điều này đệ không rõ. Vua Lu-ving thứ ba và cuối cùng này mập khiếp (ông Shi-shmi cho đệ xem hình). Ông Shi-shmi kể một giai thoại: Vua mập đến nỗi không tự leo lên lưng ngựa được. Nghe nói phía sau dinh có một bệ máy, một loại cáp tời dùng để nâng vị vua mập này lên lưng ngựa. Nghe đâu có lần ngài còn đang lơ lửng trong lúc dây thả ngài xuống yên, con ngựa đột nhiên quay ngược đầu khiến vua ngồi nghịch hướng. Vua kêu than, nhưng bọn hầu cận ngủ quên không nhận thấy (hoặc do chúng có ác ý), thế là vua cưỡi ngựa ngược chạy nước kiệu qua cổng, làm trò cười cho cả thiên hạ.
Đó có phải là lý do để truất phế vua? Rồi có vua mới không, có một triều đại mới thay triều đại của các vua Lu-ving và Ma-ksi-mai-lan không, đệ không rõ. Ông Shi-shmi – nhân dịp này đã cho đệ biết ngoài tên Shi-shmi, ông còn được gọi là Ma-ksi-mai-lan nữa – đã trả lời tránh né: có và không.
Dẫu sao đệ cũng thấy đáng chú ý rằng ngay cả một người có học thức như ông Shi-shmi đã thất kính thế nào khi nói về một vị vua, cho dù đã bị truất phế và xua đuổi. Sự kiện thần dân to gan mang tên một vị vua, hơn nữa đã quá cố, chứng tỏ họ không mấy tôn kính bậc cai trị. Cho nên đệ không thể và càng không thể hình dung rằng những kẻ đang sống ở đây là cháu chắt của chúng ta. Đằng sau chuyện này hẳn còn điều gì khác nữa. Vua Lu-ving thứ hai, cũng theo lời kể vô cùng phạm thượng của ông Shi-shmi, bị điên và đã tự trầm mình trong một cái hồ[3].
Trên vua có hoàng đế không và ngài ngự ở đâu thì đệ chưa biết được. Nhưng mọi thứ đệ sẽ hỏi vào lúc thích hợp, khi đệ hiểu khá đủ thứ ngôn ngữ ở đây.
Đúng ra hôm nay đệ muốn kể với huynh về chuyện tiền. Chuyện này cũng kỳ lạ như việc “trút bầu tâm sự” vào một nguồn nước ở trong căn phòng có chiếc chậu sứ. Ở đây thiên hạ tuy cũng có tiền kẽm, nhưng chúng vô giá trị. Chúng làm bằng một hợp kim bạc rất kém chất lượng, hoặc bằng đồng hay sắt. Phương tiện thanh toán trong thực tế là những mảnh giấy. Hẳn huynh còn nhớ hai bức thư màu xanh – lúc ấy đệ nghĩ thế – ông Shi-shmi đã đưa cho phu nhân nọ khi bà phàn nàn về đệ. Đó không phải là thư, mà tiền, tiền dưới dạng giấy, giống như loại trước đây ít lâu vào thời “Ngũ Đại”[4], người ta đã thử đưa vào nước ta nhưng thất bại. Có tờ xanh lục, nâu và xanh da trời. Đơn vị tiền gọi là – đệ chịu không phát âm nổi – đồng Ma-l-ch[5]. Ông Shi-shmi kiếm đâu ra các tờ Ma-l-ch thì đệ không rõ. Ông luôn có tờ mới. Không phải ông tự làm, ông bảo thế.
Hôm qua là lần đầu tiên đệ làm quen với những tờ Ma-l-ch khác thường này. Bọn đệ đi xa lắm – bọn đệ nghĩa là ông Shi-shmi và đệ. Huynh nên biết rằng ở đây ngoài những chiếc ô-tô còn có một loại nhà bằng sắt chạy được. Điều nguy hiểm ở những ngôi nhà sắt di động này (ông Shi-shmi gọi là Ta-mam[6], nhưng chúng còn nhiều tên gọi khác nữa mà đệ không nhớ nổi) không phải tốc độ ghê gớm như ở ô-tô, mà là việc lên và xuống. Những ngôi nhà sắt di động Ta-mam này có cửa sổ không mở ra được và những cửa lên xuống tự động đóng mở bằng sự vận hành đầy bí hiểm. Một người chưa hết hẳn mê tín bằng đệ có thể sẽ không nghĩ đến gì khác hơn là trò ảo thuật. Có điều dường như chủ nhân của những ngôi nhà sắt này không thật sự làm chủ được sự vận hành nọ. Đệ có cảm tưởng những cửa ấy đóng hoặc mở như chúng muốn, chứ không theo ý của những người khách trong ngôi nhà. Hơn nữa mọi chuyện diễn ra nhanh đến chóng mặt. Trên đường có những điểm nhất định – nếu đệ hiểu đúng lời ông Shi-shmi – dường như để chiếc Ta-mam chạy tới và ngừng lại. Bọn đệ chờ ở đấy. Trời mưa như nhiều ngày qua. Một lúc sau quả thật con quái vật lặc lè chạy tới. Ông Shi-shmi nắm tay đệ, đẩy lên bậc thang hẹp. Bị làn hơi nước cùng không khí ẩm và hôi hám hắt vào mặt, đệ hoảng hốt len ngược trở ra theo bản năng, nhưng ông Shi-shmi kêu “Hấp là...” và lại đẩy đệ tới trước. Đệ mới vừa ngã lăn vào trong nhà thì cổng đã đóng ập lại. Người trong nhà cười ầm. Ông Shi-shmi bị chẹt ở cổng. Đệ điếng hồn lo cho sinh mạng ông, nhưng ông không hề hấn gì. Mới đầu đệ nghĩ ông sẽ bị cái cổng nọ chẹt đến nát người.
Nội thất ngôi nhà sắt Ta-mam nghèo nàn và bẩn thỉu. Nó không chia thành phòng. Cả ngôi nhà là một phòng duy nhất có những chiếc ghế dài kê sát vách. Đệ hỏi ông Shi-shmi ai là chủ ngôi nhà Ta-mam để đệ chào, nhưng ông Shi-shmi bảo không cần. Rồi trong lúc đi, ông giải thích cho đệ những mối quan hệ. Chiếc Ta-mam không phải ngôi nhà mà là một loại “xe ngựa” công cộng của vị quan có tấm lòng hào hiệp tràn đầy tựa mặt trời; ông cai trị Min-chen và đã cho dân chúng sử dụng.
Bên trong Ta-mam sáng mờ mờ. Người đứng chen chúc, nồng nặc mùi mồ hôi lẫn mùi nước mưa. Thỉnh thoảng ngôi nhà sắt này lại dừng, khiến chủ khách liên tục bị lắc qua đẩy lại, cứ như động đất thường trực vậy. Đệ có cảm tưởng trong chuyện này người ta đã suy nghĩ không rốt ráo. Cứ mỗi lần chiếc Ta-mam ngừng lại là cả đám người chen ra, đồng thời cả đám người khác chen vào. Chẳng ai khom lưng chào hỏi. Sự lễ độ, một lần nữa đệ thấy, đã biến mất hẳn. Bây giờ đệ gần như chắc chắn hoàn toàn rằng bọn mũi lõ không ngớt đi quanh này, ngồi trong ô-tô phóng điên cuồng này, ngồi trong ngôi nhà sắt Ta-mam chạy tới chạy lui này không phải là cháu chắt chúng ta. Điều gì khiến chúng không ngớt đi lại thì đệ hoàn toàn không rõ. Đệ không nhận thấy một lý do nào. Đệ ngờ rằng chính bọn mũi lõ cũng không biết luôn.
Di Ngô thân mến, thế này nhé: thỉnh thoảng chính huynh cũng đi lại chứ. Có ngày huynh rời dinh thự của mình, đến thư khố để chiêm nghiệm một bản văn của Mạnh Tử thần thánh; ngày khác huynh ngồi kiệu đến bệ kiến Long nhan; có thể ba ngày sau huynh cùng quý trưởng nam tới Văn miếu hoặc nơi nào tương tự. Cũng có thể thỉnh thoảng huynh đi dạo bên ngoài khu vườn của mình. Đấy, đấy là nếp sống của một vị quan. Bọn dân đen dĩ nhiên phải đi lại thường hơn. Phụ nữ phải ra chợ mua bán, người bán sơn phải đi gặp khách để giao hàng vân vân. Nhưng ở đây mọi người không ngừng chạy, hết ngang lại dọc, kể cả khi trời tối mà chẳng có mục đích và ý nghĩa rõ ràng, chỉ vì – đệ không thể phỏng đoán khác – họ thích chạy dọc chạy ngang. Đệ để ý thấy chỉ vào những giờ khuya khoắt mới lắng đôi chút. Ai vẫn còn hơi mê tín chứ chưa được như chúng ta, hẳn sẽ nghĩ là thiên hạ bị quỷ ám.
Để việc chạy hỗn loạn này được dễ dàng hơn, hoặc để tạo ra khả năng chạy hỗn loạn hơn nữa, thiên hạ đã sáng chế ra những ngôi nhà sắt Ta-mam di động, tuy không nhanh bằng ô-tô, nhưng vẫn lẹ hơn người chạy nhiều.
Sau một lúc, ông Shi-shmi giành được hai chỗ trên một chiếc ghế dài và bọn đệ ngồi xuống. Vì đệ đã nhiều lần được ngồi ô-tô phóng nhanh, nhất là đã quan sát cuộc sống hoạt động vùn vụt ở đây (bây giờ), đệ không thấy khó chịu trong ngôi nhà Ta-mam nữa. Thế là sau khi đã cùng ông Shi-shmi tìm được chỗ ngồi trên ghế dài, đệ ngả người ra sau, bất chấp tiếng ồn và mùi hôi, định thọc hai tay vào ống tay áo, nhưng một lần nữa lại nhận ra không thể làm được với thứ y phục vớ vẩn ở đây, liền đặt hai tay lên đầu gối và nhìn ra ngoài qua một trong những cửa sổ to, để thấy một thành phố lớn không hình dung nổi – không thể nói khác được, Di Ngô yêu quý ạ – kéo ngang qua.
Trước đây đệ cứ nghĩ vùng xung quanh Hoàng cung xưa cùng những đường sá và nhà cửa dọc “Kênh Chuông Xanh”, nơi ông Shi-shmi ở, là trung tâm thành phố Min-chen. Đệ nhầm to. Đó chỉ là một vùng ngoại ô tuốt ngoài xa thôi. Càng đến gần trung tâm thật sự của Min-chen, nhà cửa càng cao hơn. Nhà nào cũng bằng đá, đường phố cũng vậy. Hoàn toàn không có cây cối. Những tòa nhà khổng lồ mặt ngoài lắp toàn kính lấp lóa sừng sững trông đe dọa như những núi đá, những chiếc ô-tô giận dữ phóng ào ào trên đường phố, những ngôi nhà sắt Ta-mam di động (cứ như thể những tòa nhà bằng đá to tựa quỷ sứ kia còn chưa đủ) đầy rẫy trong trung tâm thành phố, chạy ầm ầm ngang dọc và ta lấy làm lạ rằng tất cả len qua nhau nguyên vẹn. Tiếng còi, tiếng rít, tiếng hụ to khôn tả xiết làm rối loạn mọi cảm thụ bình thường của giác quan. Đệ cảm thấy như mọi thứ ập xuống đệ trong một cơn giông bằng đá và sắt thép. Thật là một sự hỗn loạn đen tối.
May mà người bạn của đệ, ông Shi-shmi, vẫn hoàn toàn bình thản và thờ ơ ngồi đấy, ông không chỉ lãnh đạm mà thậm chí còn chán ngán nhìn ra chốn địa ngục xám và đen này, chính điều ấy đã khiến đệ yên tâm.
Di Ngô quý mến, huynh biết rằng đế đô cao quý của chúng ta là thành phố lớn nhất vương quốc. Nếu đệ nói với huynh rằng có lẽ phải ngồi trên nhà xe Ta-mam chạy bảy lần đường kính kinh đô Khai Phong của chúng ta mới vào tới trung tâm Min-chen – về mọi hướng khác cũng tương tự, ông Shi-shmi bảo với đệ thế – hẳn huynh sẽ không tin, huynh sẽ không thể hiểu nổi rằng có một thành phố lớn nhường ấy, nhưng đúng vậy đấy. So với thành phố đồ sộ quá mức này thì đế đô vĩ đại cao quý của chúng ta tựa như một nơi hẻo lánh bình yên nên thơ ở một chốn hiền hòa... Không thể gọi Min-chen là thành phố được nữa, mà là sự kết tụ chồng chất lên nhau của những thành phố lớn khủng khiếp, một thành phố gồm nhiều thành phố, một quả cầu ầm ĩ bằng đá và sắt thép.
Thành phố này không chút huy hoàng. Chúng ta cứ luôn nghĩ rằng một thành phố lớn phải toát ra sự lộng lẫy, rằng những người sống ở một thành phố lớn như Khai Phong, Hàng Châu, Phúc Châu hoặc Quảng Châu sẽ hấp thụ được đôi chút hào nhoáng của nó rồi tỏa ra trở lại, rằng nhờ thành phố lớn mà vẻ huy hoàng và sự vinh quang của Thiên tử đầy ân đức gia tăng bội phần, để rồi vẻ huy hoàng của Hoàng đế tỏa trở lại trên thành phố cùng con người ở đấy... sẽ chẳng hề có những điều này trong tương lai của chúng ta – nghĩa là trong hiện tại đệ đang sống. Trong tương lai ấy của chúng ta thì thành phố càng phát triển, nó chắc chắn càng trở nên bẩn thỉu và xám xịt. Đệ có cảm tưởng ở đây thiên hạ đã mất cái nhìn bao quát về cái thành phố gồm nhiều thành phố chồng chất của họ, rằng theo đúng nghĩa nó đã phát triển vượt quá đầu họ. Ở đây đã từ lâu thiên hạ không còn kiểm soát được rác rưởi và tiếng ồn ào. Rác rưởi và tiếng ồn ào mạnh hơn họ. Đệ tự hỏi ở đây còn cơ quan nào như ủy ban hành chính thành phố không. Nếu còn, thì sự lãnh đạo đã vuột khỏi tay nó từ lâu rồi và viên quan đứng đầu thành phố hẳn chỉ ngồi rịt trong khuê phòng các thê thiếp của y hoặc y bận nuôi chó. Có lẽ đó cũng là một lý do khiến không còn ông vua nào nữa? Đệ đã hiểu nhầm ông Shi-shmi chăng? Phải chăng ông vua Lu-ving, người thứ ba mang vương hiệu này, không bị truất phế mà đã tự nguyện rời bỏ chốn địa ngục này rút về một nơi yên tĩnh hơn, phó mặc cái địa ngục bằng đá và thép đã trở nên bất trị này cho chính nó và cho sự sụp đổ tất yếu sẽ xảy ra lúc nào đấy? Hay hoàn toàn chẳng còn một nơi nào yên tĩnh hơn? Phải chăng những thành phố hết sức khác biệt xưa kia của vương quốc đã phát triển sát lại với nhau, để rồi trở thành một thành phố chằng chịt duy nhất bao trùm khắp vương quốc? Một điều tưởng tượng khiến đệ kinh hoàng. Đệ mừng vì trong thời gian ngắn nữa thôi sẽ lại được trở về thời hiện tại xứng đáng với con người hơn của chúng ta. Tương lai quả là một vực thẳm.
Trong một thuyết của những người thuộc phái Mặc Tử bảo rằng tận thế là do bầu trời dần dần xích lại quả đất và một ngày nào đấy sẽ gần tới mức các tinh tú quẹt phải mặt đất, làm tóe lửa thiêu rụi tất cả. Một thuyết khác của Gia Châu bảo rằng thế giới tuy vĩnh hằng, nhưng con người sẽ luôn trong suốt hơn, cuối cùng tan thành không khí và tiếp đó loài kiến sẽ làm chủ trái đất... lại có thuyết cho rằng khi đến lúc, mặt trời sẽ rơi xuống biển, nước biển sẽ sôi khiến quả đất và các sinh vật bị nấu chín, trừ loài kỳ nhông... rồi ý kiến của Lâm Phu tử quá cố mà ông nội đệ từng quen biết nữa. Lâm Phu tử tính toán rằng các ngôi sao cọ vào khối thiên thạch màu xanh khiến bột đá mịn rơi xuống đất và một ngày nào đấy tất cả sẽ chết ngạt... chẳng thuyết nào đúng cả, Di Ngô quý mến ạ, mà thế này cơ: đá cùng sắt thép tự hoạt động[7] và thành vòm che mặt đất, chúng ôm nhau – tạo ra ồn ào và rác rưởi – cho đến khi chúng chết ngạt thì thế giới cũng tận luôn. Theo như đệ thấy bây giờ thì rõ ràng thế đấy. Đệ nghĩ rằng chuyện này – kể từ “bây giờ” – sẽ chẳng phải đợi lâu nữa đâu. Nơi quê hương xa cách về thời gian của chúng ta, dẫu sao chúng ta vẫn còn một nghìn năm nữa.
Trở lại với chuyến dã ngoại của đệ cùng ông Shi-shmi; chưa kể gì hết mà bức thư thứ tám này của đệ đã đầy một bó rồi.
Bọn đệ rời ngôi nhà sắt di động tại nơi mà theo lời ông Shi-shmi giải thích mới thật sự là trung tâm của thành phố xa xăm khổng lồ này. Nơi đây tiếng ồn của bọn mũi lõ, nếu có thể nói thế được, còn khủng khiếp hơn. Hơi nước bốc lên từ những lỗ hũng trong lòng đất. Bọn đệ băng qua vài đường phố rồi vào một cửa hàng đứng tách biệt, tường lắp toàn kính. Trước đó, do ông Shi-shmi yêu cầu, đệ đưa ông thoi bạc thứ hai trong số năm mươi thoi từ quỹ du hành của đệ. Trên xe ông đã giải thích cho đệ vài điều liên quan đến ý định của ông, nhưng đệ không hiểu hết, phần vì tiếng ầm ầm ngôi nhà sắt gây ra và tiếng gầm gừ vang dội của những người khách khác trong ngôi nhà này, phần khác vì tiến trình mà đệ cần quan sát quá phức tạp.
Lúc bước vào cửa hàng đệ ngỡ đó là một phòng đổi tiền. Từ lâu rồi đệ không còn lắc đầu quầy quậy nữa trước cách xử sự xiết bao vô nghĩa của bọn mũi lõ ở đây. Bọn lái buôn trưng bày hàng ở ô cửa sổ. Thật vô liêm sỉ. Chúng trưng bày hàng nơi cửa sổ để mỗi người, đúng là mỗi người, đi qua đều trông thấy được. Khác nào chúng trỏ ngón tay vào món hàng chúng bán buôn. Được thôi – đệ bỏ thói quen lắc đầu rồi. Việc một gã đồ tể bày, tạm gọi thế, những tảng thịt sống trên đường phố hay một người thợ may trải các tấm vải của họ trước mọi cặp mắt còn có thể chấp nhận, nhưng việc chủ nhân một phòng đổi tiền bày tiền ở cửa sổ thì chỉ có thể cắt nghĩa bởi chứng ngu si đần độn mà thiên hạ ở đây mắc phải trong vòng ba mươi thế hệ cách biệt họ với chúng ta. Nhưng theo đệ nhận thấy thì đây không phải là phòng đổi tiền. Thành ra đệ vẫn chưa thật hiểu. Ông Shi-shmi thương lượng với một gã mũi lõ – y chẳng những không có đuôi sam mà chẳng còn sợi tóc nào. Rồi ông Shi-shmi lôi thoi bạc của đệ ra cho gã mũi lõ xem. Tí nữa thì gã té ngửa. Gã đập hai tay lên đầu, miệng lúng ba lúng búng bật ra những tiếng ồm ồm. Tất nhiên, Di Ngô thân mến, quan sát kỹ hơn gã thấy trước mắt một thoi bạc mới tinh, chưa ai đụng tới, mang ngự ấn, theo gã là thoi bạc cổ nghìn năm. Dĩ nhiên loại này hiếm có ở đây. Nhưng đệ không dám tin ở mắt mình khi ông Shi-shmi đưa thoi bạc, rồi nhận được hai tờ tiền giấy màu nâu với tám tờ màu xanh da trời và ông đưa liền cho đệ. Ở bọn mũi lõ tật xấu dùng tiền giấy (nó không thành công ở đất nước chúng ta, như đã biết) không chỉ ăn sâu, không chỉ phổ biến mà gần như chúng chỉ thanh toán bằng cách đó. Tiền kẽm hầu như không có hoặc giá trị rất nhỏ. Điều này đệ đã kể rồi. Tiền giấy ở đây làm bằng loại giấy rất thô và hiệu lực vô hạn định. Hoặc lòng tin của bọn mũi lõ vào viên thượng thư tài chính của chúng lớn đến mức gần trở thành ngu muội hoặc thế giới này sở dĩ bẩn thỉu chính vì không ai sẵn sàng dọn sạch để rồi chỉ được trả công bằng giấy. Trên những tờ tiền giấy này có in hình. Mới đầu đệ tưởng đó là hình những cái đầu của thượng thư và các viên quan tài chính. Song không phải. Đệ cho rằng các ông này khôn ngoan nên mới không cho in hình của họ, để không ai có thể nhận ra được họ! Ngoài ra – chuyện này đệ đã thấy nơi ông Shi-shmi – ai cũng có thể tự làm tiền giấy được. Lần ấy, khi đi mua an-tsu cho đệ, ông rút từ túi một tờ giấy, viết nguệch ngoạc vài chữ lên đó và người bán hàng đã nhận tờ giấy nọ như tiền. Việc này rất bình thường ở đây, nhưng một nền kinh tế quốc dân hoạt động như thế nào trong trường hợp ấy, đó vẫn là điều bí ẩn đối với đệ. Có thể nó sẽ đình đốn như ở ta thời Ngũ Đại.
Đệ đưa lại ông Shi-shmi những tờ tiền giấy, nhưng ông bảo không, đó là của đệ và nhét vào túi đệ. Đệ muốn thử xem có thật dùng tiền giấy mua hàng được không. Ông Shi-shmi cười. Bọn đệ lại đi qua vài đường phố và đệ đứng như bị thôi miên trước khung cửa sổ to của một cửa hàng thật đồ sộ. Đệ thấy trong đó trưng bày một vật rất lạ lùng mà chịu không biết là gì. Đệ ra hiệu cho ông Shi-shmi rằng muốn thử mua vật ấy bằng mấy tờ tiền giấy.
Ông Shi-shmi ôm bụng cười nhân hậu. Ông không cười nhạo đệ, mà cười ý tưởng theo ông là lạ lùng của đệ khi muốn mua vật ấy. Ông Shi-shmi thử giải thích nhiều lần cho đệ – ông luôn bị ngắt quãng vì phì cười – về công dụng của nó. Nhưng đệ không hiểu. Vì đệ khăng khăng giữ quyết định của mình nên ông không còn cách nào hơn là cùng đệ vào cửa hàng đó.
Trong đấy thiên hạ xô đẩy nhau khôn kể xiết. Cả đám mũi lõ nhắm mắt chen tới lấn lui dọc các lối đi, không màng đến lịch sự. Huynh còn nhớ lần nước mình bị lụt nặng – vào năm phó tể tướng Dương Chí từ trần ấy – dân chúng sống bên sông đã chen lấn chạy lên những khu cao hơn để lánh nạn, cùng lúc vùng trên của thành phố xảy ra trận hỏa tai khủng khiếp – ơ, đệ nói với ai thế nhỉ: hồi đó huynh là đệ nhất cứu hỏa quan mà – khiến dân chúng trên đó cố chạy xuống vùng dưới sông và tại những nơi dòng người khốn khổ gặp nhau trên đường đã diễn ra một cảnh xô đẩy, chen lấn chưa từng thấy trước đó cũng như sau này hoặc được ghi chép trong biên niên; từ đó thế giới không hề chứng kiến một đám đông ầm ĩ nào sánh nổi với đám đông trong cửa hàng này ở Min-chen, nơi đệ đã lọt vào chỉ vì tò mò. Với lại Di Ngô bằng hữu nên nhớ rằng trong vụ chen lấn kinh khiếp do trận thủy tai và hỏa hoạn gây ra vào năm phó tể tướng Dương Chí từ trần thì những kẻ chen lấn có kích thước của con người, còn bọn ở đây là lũ khổng lồ mũi lõ mà tiếng gầm gào ồm ồm thô lỗ của chúng tràn ngập căn phòng, dù nó mênh mông. Đệ ngỡ – nói gọn – đang ở trong địa ngục. Song vẫn kiên quyết giữ ý định, vì đệ tự nhủ: cuối cùng thì đệ và chuyến du hành của đệ nhằm phục vụ khoa học. Nhà nghiên cứu, khi đứng trước vấn đề nhận thức, không được phép sợ hãi để không dám bước vào, dù nơi đó là địa ngục.
Tất nhiên huynh không nên quên rằng đệ có một người hướng đạo gan dạ – ông Shi-shmi trung thành và tận tụy – ông đứng chắn trước mặt đệ, nắm tay đệ và không nao núng tách đám mũi lõ đang chen lấn ngược chiều, cho đến khi bọn đệ tới được khu bán thứ hàng đệ muốn mua.
Vật này khá to, tên là shao-bo[8], phần màu xanh lơ, phần màu vàng. Chất liệu thì đệ không rõ: nó đàn hồi và nhám. Thứ shao-bo này có hai hình dạng khác nhau: một dạng tương tự chiếc áo măng-tô khổng lồ may dính lại nhiều lần hoặc một cái lều. Nhờ một cái bơm được thiết kế hợp lý, người bán hàng bơm không khí vào shao-bo khiến nó phình ra dạng khác, thành cái vành hình tròn. Có thật đệ muốn mua cái shao-bo này không? ông Shi-shmi cười hỏi. Không, thật ra đệ không muốn gì hơn là thoát ra khỏi tình trạng tuyệt vọng này từ lâu. Nhưng đệ cảm thấy sẽ là bất lịch sự đối với người bán hàng, nếu từ chối mua sau khi hắn đã bơm shao-bo chỉ để đệ xem – cho dù hắn chẳng là gì khác hơn một con buôn. Nên đệ đã chìa ra vài tờ tiền; y như rằng: gã lái buôn khom gập lưng rồi còn khom thêm một lần bảy phần tám nữa (đệ chú ý kỹ mà) nhận tiền. Lẽ ra gã lái buôn này phải bị chém đầu tức khắc, vì chênh lệch phẩm trật giữa đệ và hắn đòi hỏi hắn ít nhất phải khấu đầu đầy đủ và hai lần khom lưng ba phần tư, ấy là đệ thương tình cho rằng cả cửa hàng này là của hắn. Còn nếu hắn chỉ là một đầy tớ của chủ nhân cửa hàng, thì hắn phải nhặt tiền từ dưới đất cơ... thế đấy. Nhưng đệ đến đây không phải để được tôn trọng phẩm trật của mình. Đệ đến đây để nghiên cứu về tương lai của chúng ta.
Sau khi gã bán hàng rút cái nút con ra khỏi shao-bo, hơi xì ra như thể tiếng còi nghe rợn người. Shao-bo liền rúm ró lại. Gã bán hàng cuộn và gói nó lại bằng giấy.
Di Ngô vô cùng quý mến, qua việc đệ viết bức thư này thì đương nhiên huynh hiểu rằng đệ bình yên về đến nhà cùng với cái shao-bo. Cái bơm hợp lý nọ cũng được gói kèm, nhưng không phải do đệ nghĩ tới, mà nhờ ông Shi-shmi chu đáo. Đệ học cách sử dụng. Người ta bơm bằng chân. Giờ đây cái shao-bo được để cạnh giường, phồng căng màu xanh lơ và vàng, choán gần hết căn phòng. Cái shao-bo dùng được vào việc gì, ông Shi-shmi không giải thích nổi. Ông ra hiệu mai đây có dịp ông sẽ chỉ cho đệ. Có vẻ nó không phải là một vật dùng để thờ cúng.
Thư đã dài. Đến lúc đệ ra điểm liên lạc gấp. Nếu đệ có tài vẽ, đệ sẽ gửi kèm một bức phác họa shao-bo. Nhưng như huynh biết đệ chẳng hề có được tài ấy. Thay vào đó, có thể bài thơ mà đệ nghĩ ra khi quan sát nó minh họa được chăng:
Ngắm shao-bo xanh vàng
Shao-bo xanh vàng.
Khí nóng mùa hè làm đầy mi.
Còn hơi thở nào khác làm đầy tâm hồn ta
Mọi khi vào tháng Tám.
Tương lai chẳng biết chút gì
Về đồi hạnh.[9]
Chào huynh
Người bạn xa xôi, Cao Đài
❀ ❀ ❀
[1] Gồm các vua Ludwig (Lút-vích) I, II và III.
[2] Maximilian (Mắc-xi-mi-li-an).
[3] Ludwig II (1845 – 1886) rất đam mê xây lâu đài – nên được gọi là “ông vua cổ tích” (Märchenkönig) - trong đó có lâu đài Neuschwanstein nổi tiếng, thu hút du khách khắp nơi trên thế giới. Ông chết tại hồ Starnberg, không rõ vì chết đuối hay tự sát.
[4] Ngũ Đại (907 – 960): một thời kỳ loạn lạc, tranh bá đồ vương ở Trung Quốc, từ lúc nhà Đường diệt vong đến khi hình thành triều đại Tống.
[5] Đồng Mark (mác): tiền của Đức trước khi thay bằng đồng Euro vào năm 2002.
[6] Tram hoặc Trambahn: tàu điện.
[7] Nguyên văn “sich sebstständig machen”: tự đứng ra hành nghề, tự lập doanh nghiệp riêng.
[8] Schlauchboot (slau-bốt): xuồng hơi.
[9] Ý nói đạo học của Khổng Tử (tương truyền ngài dạy học dưới giàn hạnh).